KINH
VÔ LƯỢNG NGHĨA
Phẩm 2
THUYẾT
PHÁP
Trong phẩm
này, tức phần chủ yếu của kinh Vô Lượng Nghĩa, đức Thích-ca-mâu-ni
dạy chúng ta rằng từ khi chứng ngộ, đức Phật đã thuyết
pháp với một mục đích xác quyết và theo một thứ tự xác
quyết. Dù cho Pháp đã được giảng theo nhiều cách, cái chân
lý căn bản vẫn luôn luôn là Pháp độc nhất ấy, hay chân
lý, là nguồn gốc của vô lượng pháp, hay vô lượng giáo
lý.
Cùng với
nhiều Bồ-tát Ma-ha-tát, Bồ-tát Đại Trang Nghiêm bạch Phật
rằng: “Chúng con mong được hỏi Ngài về giáo pháp của
đức Phật. Chúng con thiết tha hy vọng Ngài nghe chúng con”.
Đức Phật
dạy: “Hay lắm ! Hay lắm ! Các Ông hỏi Ta câu hỏi này thật
đúng lúc. Chẳng bao lâu nữa Ta sẽ nhập Niết-bàn. Ta e rằng
sau khi Ta nhập diệt, mọi câu hỏi sẽ bị bỏ lửng. Hãy
cứ hỏi Ta những gì các ông muốn. Ta sẽ trả lời mọi câu
hỏi mà các Ông muốn hỏi”.
Ngay sau đó,
Bồ-tát Đại Trang Nghiêm cùng với nhiều Bồ-tát khác cùng
nói: “Nếu chư Bồ-tát Ma-ha-tát đã tu tập giáo lý Đại
thừa mà muốn thành tựu Vô thượng Chánh Đẳng Giác một
cách nhanh chóng thì chư vị phải tu tập theo pháp môn nào
?”
Đức Phật
dạy: “Nay có một pháp môn thánh diệu gọi là Vô Lượng
Nghĩa. Nếu một vị Bồ-tát học pháp môn này thì vị ấy
sẽ thành tựu Vô thượng Chánh Đẳng Giác. Một vị Bồ-tát
muốn học pháp môn Vô Lượng Nghĩa thì phải nên quán sát
rằng tất cả các pháp, hay hiện tượng, có vẻ khác nhau
và thay đổi không ngừng, nhưng thực ra cái căn bản của
chúng là một năng lực lớn lao không thay đổi thể hiện
theo nhiều cách khác nhau. Các Ông nên hiểu rằng tại căn
gốc của tất cả các pháp có một chân lý vượt khỏi sự
phân biệt và vĩnh viễn bất biến. Chúng sinh vì không biết
chân lý này nên phân biệt một cách ích kỷ “đấy có lợi”
hay “đấy không có lợi”. Do đó, họ nuôi dưỡng những
tư tưởng xấu, khiến khởi sinh nhiều nghiệp xấu và luân
hồi trong sáu cõi”.
Sáu cõi (lục
xứ hay lục đạo, tiếng Nhật là rokushu hay rokudò) là sáu
cảnh giới mà trong đó chúng sanh luân hồi: địa ngục (jiyoku),
quỷ đói (ngạ quỷ - gaki), súc sanh (chikushò), A-tu-la (shura),
người (ningen), và trời (thiên; tenjò). Học thuyết này dạy
chúng ta về những trạng thái tâm thức cũng như cấu trúc
của thế giới với con người là trung tâm.
“Địa ngục”
là trạng thái tâm thức trong đó tâm của chúng ta bị sân
hận thiêu đốt. Mọi người, mọi vật hình như là một kẻ
thù khi chúng ta bị sân hận đốt cháy. Chẳng hạn, một người
gây gổ với vợ anh ta, anh ta ghét cả đến bát đĩa vốn
chẳng dính dáng gì đến cuộc gây gổ và có thể anh ta đập
vỡ chúng nữa. Nhưng bằng cách đập vỡ bát đĩa hoặc đấm
vào đối thủ, anh ta cũng không thể thực sự hủy diệt đĩa
bát hay đối thủ: Người phải chịu khổ nhiều nhất
là người
sân hận.
“Quỷ đói”
là trạng thái tâm thức trong đó một đám tham dục nảy sinh
trong tâm ta. Tham dục không phải chỉ giới hạn trong tiền
tài và vật chất mà còn gồm sự tham lam ham muốn và lòng
thương yêu của kẻ khác. Do bởi tham lam, chúng ta không biết
làm sao để thỏa mãn ngay cả khi chúng ta đạt được tham
dục trong nhất thời. Chúng ta có càng nhiều tham dục thì
chúng ta càng trở nên dính mắc vào chúng, trong một vòng lẩn
quẩn.
“Súc sanh”
diễn tả trạng thái tâm thức thiếu trí tuệ và thiếu suy
luận, người không suy luận thì chỉ hành động theo bản
năng và chỉ làm những gì mình muốn mà không nghĩ đến hậu
quả.
“A-tu-la”
nghĩa là trạng thái tâm thức quy ngã trong mọi sự, trong tận
đáy lòng chỉ tự lợi, chính loại tâm tính này đưa đến
mâu thuẫn, gây gổ, tranh chấp và chiến tranh giữa con người
với nhau. Đây là trạng thái tâm thức trong đó sự vị kỷ
đưa đến tranh chấp.
“Người”
diễn tả trạng thái tâm thức cố gắng kiểm nghiệm bốn
tâm tính xấu đã nói trên nhờ vào ý thức khiến chúng ta
không đi đến cực đoan, dù rằng tất cả chúng ta đều có
bốn trạng thái tâm thức này. Trạng thái tâm thức này là
của người bình thường.
“Trời”
trỏ đến thế giới hỷ lạc. Tuy nhiên, đây không phải là
sự hỷ lạc bất biến đạt được bằng sự chứng ngộ
của đức Phật. Đây là những lạc thú của các giác
quan và cảm thọ, tức là, lạc thú do ảo tưởng tạo nên,
cho nên, đây là một hỷ lạc tạm bợ có thể sa vào các
cõi địa ngục, quỷ đói, A-tu-la ngay khi có điều bất xứng
ý xảy ra. Sự mê đắm là mẫu thức cho một trạng thái tâm
thức như thế. Trong trường hợp này, “trời” trỏ vào
một nơi mà cư dân ở đấy không đau khổ, không phiền muộn;
nhưng hễ chừng nào chúng ta chưa thể đạt chứng ngộ thực
sự thì dù cho chúng ta có đạt đến trạng thái “trời”,
chúng ta cũng sẽ không vừa ý với trạng thái này. Thông thường
một người cho rằng anh ta sẽ thoát khỏi mọi lo lắng nếu
anh ta trở thành một triệu phú, sống trong một tòa lâu đài
và có nhiều người phục dịch. Tuy nhiên, thực tế mà nói,
các sự việc không xảy ra như anh ta tưởng. Nếu có
một cái gọi là thiên đường mà tại đấy người ta có
thể sống một cuộc sống nhàn hạ, suốt ngày không làm gì
cả, thì người ta sẽ trở nên chán nản và sinh ra sự ham
muốn được làm cái gì đó. “Trời” là một trạng thái
trì trệ như thế.
Sáu cảnh
giới này cứ liên tục xảy ra trong tâm thức con người và
chuyển từ cảnh giới này sang cảnh giới khác. Trạng thái
này của tâm gọi là “luân hồi trong sáu cõi” (lục đạo
luân hồi- rokudò rinne). Nếu chúng ta không có giáo lý thiện
hảo và không có cách nào để tu tập, chúng ta vẫn mãi luân
hồi trong sáu cõi và những buồn nản, khổ đau của chúng
ta sẽ không bao giờ tiêu mất. Ai cũng hiểu được điều
này ngay khi phản tỉnh về mình.
Đức Phật
dạy các Bồ-tát như sau: “Này các Bồ-tát Ma-ha-tát, khi các
vị quán sát tất cả các chúng sanh đang luân hồi trong sáu
cõi, các vị sẽ khởi lên lòng thương xót và thể hiện lòng
đại từ bi để cứu vớt họ khỏi các cõi ấy. Trước tiên
các vị phải thâm nhập tất cả các pháp. Nếu các vị
thâm hiểu các pháp này rồi thì các vị tự nhiên có thể
hiểu được trong tương lai những gì sẽ khởi sinh từ các
pháp. Các vị cũng có thể hiểu rằng các pháp ổn định
(trụ) không biến đổi trong một thời gian. Các vị cũng có
thể hiểu rằng các pháp biến đổi (dị). Lại nữa, các
vị có thể hiểu rằng các pháp cuối cùng sẽ tiêu diệt
(diệt). Do đó các vị có thể quán sát và biết được lý
do sinh khởi của các pháp thiện và các pháp bất thiện. Sau
khi đã quán sát và biết tất cả bốn tướng của các pháp
từ lúc khởi đầu cho đến lúc chấm dứt, kế đến, các
vị cần phải quán sát rằng không có pháp nào được ổn
định dù là trong chốc lát mà sinh và diệt trở lại trong
mọi lúc. Sau khi đã quán sát như thế, các vị có thể biết
khả năng, bản chất và những tham dục mà mọi chúng sanh
sở hữu giống như các vị đã đi vào trong từng tâm thức
của họ.
“Vì các
chúng sanh có vô lượng bản chất và tham dục, việc thuyết
giảng của các vị cho họ cũng vô lượng và vì việc thuyết
giảng như thế là vô lượng nên ý nghĩa của nó cũng vô
lượng. Sở dĩ như thế là vì giáo pháp vô lượng nghĩa sinh
khởi từ một Pháp. Một Pháp này là gì ? Đó là một chân
lý. Chân lý đó là gì ? Nó vô tướng, vượt khỏi sự phân
biệt về tất cả các sự vật. Các sự vật thì giống nhau
trong việc sở hữu Phật tính. Sự việc này là chân
lý và là thực tướng của tất cả các sự vật (các pháp).
Này các bồ-tát Ma-ha-tát, lòng từ bi mà các vị biểu hiện
một cách tự nhiên sau khi đã hiểu cái thực tướng này thì
có công đức chứ không phải vô ích. Với lòng từ bi này,
các vị diệu độ các chúng sanh khỏi khổ đau và hơn nữa,
còn khiến hết thảy chúng sanh đạt đến hỷ lạc. Do đó
nếu tu tập toàn hảo pháp môn Vô Lượng Nghĩa, chắc chắn
một vị Bồ-tát chẳng bao lâu sẽ thành tựu Vô thượng Chánh
giác”.
Thế rồi
Bồ-tát Đại Trang Nghiêm hỏi đức Phật một câu hỏi khác:
“Dù chúng con không nghi ngờ về các pháp do đức Phật giảng
dạy, chúng con vẫn cứ xin hỏi Ngài lại vì sợ rằng tất
cả các chúng sanh sẽ bối rối và không thể hiểu pháp. Ngài
đã liên tục giảng cho các chúng sanh tất cả các pháp, nhất
là bốn pháp, suốt trong hơn bốn mươi năm kể từ khi đức
Như Lai chứng ngộ. Bốn pháp này là khổ, không, vô thường
và vô ngã. Khổ nghĩa là đời người thì đầy cả mọi thứ
khổ đau. Không là bảo rằng tất cả các sự vật có vẻ
khác nhau nhưng chúng ta phải phân định cái khía cạnh bình
đẳng vượt ngoài những dị biệt. Vô thường diễn tả sự
việc trong thế giới này không có cái gì hiện hữu trong một
hình tướng luôn luôn cố định, mà tất cả các sự vật
đang luôn luôn biến đổi. Vô ngã là biểu lộ rằng không
có cái gì trong vũ trụ này hiện hữu riêng biệt mà không
liên hệ với các sự vật khác và chúng ta không được để
bị chấp trước vào cái tự ngã của chúng ta. Lại nữa,
bằng nhiều cách, Ngài đã dạy chúng con các thực tướng
của tất cả các sự vật. Những ai đã nghe các pháp này
đều đã đạt được nhiều công đức khác nhau, đã mong
mỏi chứng ngộ và cuối cùng đã đạt đến cấp độ cao
nhất của Bồ-tát đạo.
“Như thế,
hình như đức Như Lai đã giảng cùng các pháp như thế trong
suốt bốt mươi năm ấy, nhưng chúng con biết rằng trong thời
kỳ này, Ngài đã giảng các pháp ấy càng lúc càng sâu xa.
Tuy nhiên, chúng con sợ rằng tất cả các chúng sanh có thể
không phân biệt được những khác biệt giữa các giáo pháp
của Ngài trước kia và hiện giờ. Bạch Thế Tôn, xin Ngài
giảng rõ cho tất cả các chúng sinh”.
Bấy giờ
đức Phật nói với Bồ-tát Đại Trang Nghiêm: “Hay lắm !
Hay lắm ! Này các Đại thiện nam tử; các vị đã khéo hỏi
Như Lai về điều này. Quả thực là do lòng đại từ bi mà
các vị đã hỏi Ta về diệu nghĩa của Đại thừa sâu xa
và tối thượng do đức Phật thuyết giảng, không phải vì
sự chứng ngộ riêng của các vị mà vì tất cả chúng sanh.
Này các Thiện nam tử ! Ta đã có thể thành tựu Vô thượng
Chánh giác sau khi đoan tọa dưới cội Bồ-đề. Bằng Phật
nhãn, Ta thấy hết thảy các pháp có nhiều tướng trạng không
thể diễn tả hết được. Ta biết rằng các bản tính và
tham dục của hết thảy chúng sanh không đồng đều nhau. Vì
thế, Ta đã giảng Pháp bằng năng lực phương tiện trong hơn
bốn mươi năm. Nhưng suốt trong thời gian ấy, Ta chưa khai
mở sự thật. Do năng lực hiểu pháp của chúng sanh quá kém,
thật quá khó khiến cho họ thành tựu được Phật quả tối
thượng một cách nhanh chóng.
“Này các
Thiện nam tử ! Pháp giống như nước rửa sạch bụi. Nhưng
bản chất của một dòng nước, một con sông, một cái giếng,
một cái ao, một con lạch, một con mương và một biển lớn
thì khác nhau. Bản chất của Pháp cũng giống như thế. Dù
mỗi thứ đều rửa sạch được như nhau vì đều là nước,
nhưng một cái giếng không phải là một cái ao, một cái ao
không phải là một dòng nước hay một con sông, cũng không
phải là một con lạch, một đường mương hay biển. Pháp
do Như Lai thuyết giảng cũng như thế. Dù sự thuyết giảng
lúc ban đầu, lúc giữa và lúc cuối đều rửa sạch mê lầm
của chúng sanh như nhau, nhưng lúc đầu không phải là lúc
giữa và lúc giữa không phải là lúc cuối. Sự thuyết giảng
lúc đầu, lúc giữa và lúc cuối là giống nhau trong lời diễn
nhưng khác nhau trong ý nghĩa.
“Này các
Thiện nam tử ! Lúc mới đầu Ta chuyển Pháp luân về Tứ
Thánh đế cho năm Tỳ-kheo tại Vườn Nai ở Ba-la-nại, Ta giảng
rằng các pháp thì bản nhiên rỗng lặng, không ngừng biến
đổi và liên tiếp sinh diệt. Ta cũng giảng như thế khi Ta
thuyết giải về Mười hai nhân duyên và Sáu Ba-la-mật cho
tất cả các Tỳ-kheo và Bồ-tát ở nhiều nơi trong giai đoạn
giữa. Giờ đây khi giảng kinh Vô Lượng Nghĩa, Đại thừa
này, vào lúc này, Ta cũng thuyết giải như thế.
“Này các
Thiện nam tử, do đó, việc thuyết giảng lúc đầu, lúc giữa
và lúc cuối thì giống nhau về ngôn từ diễn tả nhưng khác
nhau về ý nghĩa. Vì ý nghĩa khác nhau nên sự hiểu biết của
các chúng sinh cũng khác nhau. Vì sự hiểu biết khác nhau nên
việc chứng Pháp, công đức và con đường cũng khác nhau.
Điều này được chứng tỏ rõ ràng bằng kết quả của sự
việc ta giác ngộ những người nghe Ta thuyết giảng trong mỗi
thời kỳ - khi lúc đầu Ta thuyết giảng Tứ Thánh đế ở
Vườn Nai; khi lúc giữa Ta giảng giáo lý sâu xa về Mười
hai nhân duyên ở nhiều nơi; và kế đến, khi Ta thuyết giảng
về mười hai loại kinh của bộ Phương Đẳng và các kinh
khác.
“Này các
Thiện nam tử ! Nói một cách khác, Ta đã thuyết giảng chỉ
một chân lý ngay từ lúc khởi đầu. Điều này không phải
chỉ riêng phần Ta, hết thảy chư Phật đều làm như thế.
Vì chân lý căn bản chỉ là một, chư Phật đáp ứng rộng
khắp mọi âm thanh bằng chỉ một lời; dù chỉ có một thân,
chư Phật thị hiện vô lượng vô vàn thân, trong mỗi thân
phô bày vô hạn vô số hình tướng, và trong mỗi hình tướng
lại thể hiện vô số vẻ dáng.
“Này các
Thiện nam tử ! Đây là cõi Phật không thể nghĩ bàn và thâm
áo. Hàng Nhị thừa (1) không thể hiểu được, và ngay cả
chư Bồ-tát đã đạt cấp độ cao nhất (thập trụ) cũng
không thể lĩnh hội được.
“Chỉ có
Phật với Phật mới có thể thâm hiểu được. Do đó, các
vị phải nỗ lực đạt đến cấp độ như của đức Phật
nhờ kinh Vô Lượng Nghĩa mà ta đang thuyết giảng đây. Kinh
mầu
nhiệm, sâu xa, cao siêu này là hợp lẽ về mặt luận lý,
là vô thượng về mặt giá trị và được hết thảy chư
Phật trong ba đời hộ trì. Không có loại ma quỷ hay ngoại
đạo nào thâm nhập vào được, cũng không bị tà kiến hay
sinh tử làm hư hoại.
“Do đó,
chư Bồ-tát Ma-ha-tát muốn thành tựu Phật quả tối thượng
một cách nhanh chóng thì cần phải học và quán triệt kinh
Đại thừa Vô Lượng Nghĩa thâm sâu tối thượng này”.
Khi đức
Phật thuyết giảng xong, trời và đất lay động theo mọi
cách và hiển bày nhiều cảnh tượng đẹp đẽ phi thường;
hoa, hương, áo, vòng hoa và báu vật vô giá của trời từ
trên trời mưa rải xuống và thiên nhạc được tấu lên để
ca ngợi đức Phật, tất cả chư Bồ-tát, Thanh văn và đại
chúng.
Ngay sau đó,
nhiều Bồ-tát Ma-ha-tát trong hội chúng đắc định Vô Lượng
Nghĩa và nhiều Bồ-tát Ma-ha-tát khác đắc vô số vô hạn
cảnh giới Đà-la-ni(1). Tất cả Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc,
Ưu-bà-di và các vị khác trong hội chúng nghe đức Như Lai
thuyết giảng kinh này đều đạt ngộ tương ưng với cấp
độ tâm thức của từng vị. Hơn nữa, hết thảy đều mong
ước đạt Phật quả như đức Phật bằng cách theo đúng
giáo lý của Ngài và nỗ lực phổ biến giáo lý ấy.
(1) Các biểu từ âm tiết thần bí hộ trì cho cuộc sống
tu hành của người tụng đọc - Các biểu từ này thường
không có ý nghĩa về mặt văn tự.