KINH
VÔ LƯỢNG NGHĨA
Phẩm 1
ĐỨC
HẠNH
Như đã nói,
kinh này là một dẫn nhập cho kinh Pháp Hoa. Kinh khởi đầu
bằng việc miêu tả một số Bồ-tát tán thán công đức và
sự tối thắng của đức Phật Thích-ca-mâu-ni. Phẩm này được
mở đầu bằng nhóm từ “Tôi nghe như vầy” và tiếp theo
đó, bằng ngôn ngữ đẹp đẽ và trang nghiêm, nêu lên hoàn
cảnh vào lúc đức Phật đang trú tại một tinh xá trên núi
Linh Thứu (Grdharakùta) (gọi như thế vì núi có hình giống
như con chim ó) cùng với một hội chúng lớn gồm tất cả
mười hai ngàn đại Tỳ-kheo.
Một Tỳ-kheo
(Bhikshu) là một tu sĩ Phật giáo và các đại Tỳ-kheo là những
đại đệ tử của đức Phật, như Xá-lợi-phất (Sàriputta)
và Ca-diếp (Kàsyapa). Mặc dù các đại Tỳ-kheo này chưa đạt
quả vị Bồ-tát, họ cũng đã đắc quả vị A-la-hán, tức
là vị thoát khỏi mọi ảo tưởng bằng phương tiện của
giáo lý Tiểu thừa. Người ta không cần phải nắm cụ thể
con số mười hai ngàn được kể cho các đại Tỳ-kheo. Chúng
ta thường gặp những số lớn trong các kinh, nhưng những số
này có thể thường được dùng chỉ để trỏ “một số
lớn” mà thôi.
Trong đại
chúng cũng có nhiều vị Bồ-tát Ma-ha-tát. Bồ-tát là vị
tu tập giáo lý Phật giáo Đại thừa. Ma-ha (Mahà) nghĩa là
“lớn” và tát (sattva) nghĩa là “người”, do đó Ma-ha-tát
chỉ bậc “Đại nhân”, tức là vị có một mục đích lớn
lao. Chư Bồ-tát cũng được gọi là Đại nhân vì chư vị
có mục đích lớn lao là cầu tìm chứng ngộ tối thượng
và cuối cùng đạt Phật quả bằng cách làm cho hết thảy
mọi người được chứng ngộ.
Trong hội
chúng còn có chư Thiên, Long, Dạ-xoa (yakshas), ma, súc sanh. Chư
Thiên là các chúng sanh sống trên các cõi trời, trong khi Long
(rồng) là những chúng sanh có phân nửa tính Thiên với hình
rắn sống dưới đáy biển. Dạ-xoa là quỷ bay. Như thế,
đại chúng gồm cả quỷ, thường bị xem là gây hại cho người
cũng như cho loài súc sinh.Loại miêu tả này là một đặc
trưng của Phật giáo mà trong các tôn giáo khác không thấy
có. Đức Phật đã không cố dẫn dắt chỉ riêng con người
đến chứng ngộ mà Ngài đã có lòng đại từ bi muốn cứu
độ hết thảy chúng sanh trong vũ trụ. thoát khỏi khổ
đau và đưa họ đến bờ phước lạc. Do đó, cả đến các
quỷ ăn thịt người cũng được phép tham dự vào hội chúng
để nghe đức Phật thuyết pháp.
Ngoài ra còn
có đủ hạng người: Tỳ-kheo (bhikshu - nam tu sĩ), Tỳ-kheo-ni
(bhikshuni - nữ tu sĩ), Ưu-bà-tắc (upàsaka - nam cư sĩ), Ưu-bà-di
(upàsikà - nữ cư sĩ), nhiều vị vua, hoàng tử, đại thần
có đức hạnh và giới bình dân, nam giới, nữ giới nữa,
cũng như rất nhiều người giàu có. Họ bày tỏ sự tín thành
đối với đức Phật bằng cách phủ phục dưới chân Ngài
và nhiễu quanh Ngài. Sau khi đốt hương liệu, rải hoa và kính
lễ Ngài theo nhiều cách khác nhau, họ rút lui và ngồi sang
một bên.
Đối với
các Phật tử, kính lễ Phật là một biểu hiện của sự
biết ơn. Khi chúng ta có cái cảm giác sâu xa về sự biết
ơn, chúng ta phải luôn luôn quyết diễn tả nó trong thái độ
của chúng ta. Sự biết ơn mà không có kính lễ thì không
thể gọi là sự biết ơn thực sự. Để tôn kính đức Phật,
người Phật tử Nhật Bản kính lễ trước bàn thờ của
gia đình bằng cách dâng hoa, trà, nước và bằng cách đốt
hương liệu và đánh chuông.
Hết thảy
chư Bồ-tát trong hội chúng đều là các bậc đại Thánh của
Chánh pháp và đã đạt giới, định, tuệ, giải thoát và
giải thoát tri kiến. Chư vị luôn trú trong định, tâm của
chư vị tĩnh lặng, không xao lãng, và chư vị bằng lòng với
mọi hoàn cảnh và dửng dưng với tham lợi của cuộc đời.
Chư vị đã không còn si muội, rối rắm. Chư vị luôn có
sự suy nghĩ sâu xa, vô cùng nhờ có tâm tĩnh lặng và sáng
suốt. Do giữ được trạng thái tâm như thế, chư vị có
thể nhớ tất cả vô lượng giáo lý của đức Phật. Hơn
nữa, do đạt được đại trí tuệ, chư vị có khả năng
thấu suốt mọi sự vật.
Trí tuệ
là khả năng nhận biết những dị biệt giữa các sự vật,
đồng thời thấy cái chân lý chung cho các sự vật ấy. Tóm
lại, trí tuệ là cái khả năng nhận ra rằng bất cứ ai cũng
có thể trở thành một vị Phật. Giáo lý của đức Phật
nhấn mạnh rằng chúng ta không thể nhận thức tất cả các
sự vật trên đời một cách đúng đắn nếu chúng ta không
trọn vẹn có cái khả năng biết sự dị biệt lẫn sự tương
đồng.
Chư Bồ-tát
đức hạnh này phổ giảng Phật pháp giống như hết thảy
chư Phật chuyển Pháp luân. Thứ tự mà chư Bồ-tát nhằm
thực hiện để giảng Pháp được nêu rõ trong phẩm này.
Trước tiên, như một hạt sương làm tan bụi trên nền đất
khô cứng, chư Bồ-tát nhận chìm bụi dục vọng của con người
trong một giọt giáo lý. Đây là điều quý giá nhất trong
việc mở cổng vào Niết-bàn. Kế đó, chư vị thuyết giảng
con đường giải thoát và rũ bỏ mọi khổ đau và hư ảo
mà con người đang phải đối mặt. Chư vị cũng làm cho người
ta cảm thấy rất an lạc và thanh thản như là tâm của họ
được rửa sạch nhờ nghe Pháp. Kế nữa, chư vị dạy học
thuyết Mười hai nhân duyên cho những người phải khổ đau
vì si muội, tuổi già, bệnh tật và cái chết, và do đó những
người này thoát khỏi khổ đau, giống như một trận mưa
rào làm mát những người đang khổ vì khí nóng mùa hè. Cho
đến đây, chư Bồ-tát vẫn dạy giáo pháp của Tiểu thừa.
Giáo pháp
Mười hai nhân duyên, cũng được gọi là học thuyết dây
xích mười hai mắc về nguồn gốc hữu vi, là một trong những
giáo lý chính của Tiểu thừa. Trong học thuyết quan trọng
này, đức Thích-ca-mâu-ni giải thích về quá trình của một
người xuyên suốt từ khi sinh ra đến lúc chết đi và giải
thích thể cách lặp lại của quá trình này trong sự chuyển
sinh trong ba trạng thái thời gian của hiện hữu - quá khứ,
hiện tại, vị lai. Nối kết với điều này, Ngài cũng
nêu rõ rằng, vì mọi khổ đau của con người phát sinh từ
cái vô minh căn bản (huyễn ảo), người ta có thể thoát khỏi
khổ đau bằng cách gỡ bỏ vô minh và có thể đạt hạnh
phúc bằng cách vượt khỏi ba trạng thái thời gian của hiện
hữu. Phẩm 7 của kinh Pháp Hoa “Hóa thành dụ” nêu ra một
giải thích rõ ràng về học thuyết này.
Chư Bồ-tát
giác ngộ quần chúng nói chung theo thứ tự nói trên và khiến
cho mọi người nuôi lớn cái mầm Phật quả. Chư vị cũng
áp dụng những phương tiện thiện xảo để khai bày Đại
thừa và cố gắng làm cho mọi người thành tựu sự Chứng
ngộ Toàn hảo (Vô thượng Chánh Đẳng Giác) một cách tấn
tốc. Nhóm từ “làm cho mọi người thành tựu sự Chứng
ngộ Toàn hảo một cách tấn tốc” mà ta thường gặp trong
kinh là rất quan trọng. Từ “tấn tốc” gồm ý nghĩa “thẳng
tới, không đi vòng”, cũng như ý nghĩa của “một cách mau
lẹ hay nhanh chóng”.
Kế đến,
chư Bồ-tát này được ca ngợi bằng những ngôn từ cao đẹp
nhất về các đức hạnh và về tầm quan trọng của chư vị
đối với mọi người. Nhiều Tỳ-kheo cũng được tán dương
là những A-la-hán tôn quý, không bị hạn chế vì những ràng
buộc của lầm lạc, tự tại với mọi chấp trước và thực
sự giải thoát.
Sự tán tụng
này về chư Bồ-tát và Tỳ-kheo không phải chỉ là sự ca
ngợi suông. Nó trỏ đến cái mẫu thức tu tập Phật pháp
của chư vị ấy. Chúng ta không thể đạt đến cái trạng
thái tâm giống như đức Phật bằng một sự nhảy vọt đơn
thuần. Trước hết, chúng ta phải học cách tu tập của chư
Bồ-tát và Tỳ-kheo. Một số người cho rằng chúng ta không
thể theo đúng như cách tu tập của chư vị ấy do bởi nó
quá xa vời với thực tế của cuộc sống hằng ngày.
Đương nhiên
là không nên có suy nghĩ như thế vì không lý do gì lại không
cố gắng để theo mẫu thức của chư Bồ-tát và Tỳ-kheo.
Có một chìa khóa hay một cơ may để mở cổng chứng ngộ
khi chỉ cần theo một trong nhiều sự tu tập đức hạnh của
chư Bồ-tát mà kinh diễn tả.
Khi thấy
tất cả các nhóm đều ngồi với tâm định tĩnh và hoàn
toàn sẵn sàng nghe đức Phật thuyết giảng, Bồ-tát Đại
Trang Nghiêm liền từ chỗ ngồi đứng dậy cùng với nhiều
Bồ-tát khác và đảnh lễ đức Phật bằng nhiều thứ cúng
dường. Tỏ lòng tôn kính dưới chân đức Phật, Bồ-tát
Đại Trang Nghiêm dùng kệ để ca ngợi Ngài. Kệ thường được
dùng trong các kinh để nêu lại một cách ngắn gọn những
điểm chính trước đây đã được nêu bằng văn xuôi hoặc
được dùng để ca ngợi đức Phật và chư Bồ-tát.
Hết thảy
các vị ấy, gồm cả Bồ-tát Đại Trang Nghiêm ca ngợi diệu
tâm của đức Phật, bậc đã hiểu biết tất cả, đã vượt
lên tất cả và đã dẫn dắt mọi chúng sanh trong vũ trụ
như Ngài mong muốn. Chư vị cũng ca tụng vẻ đẹp của mặt
mày, thân thể và âm thanh của đức Phật là những thứ được
thể hiện một cách tự nhiên do đức hạnh của Ngài, và
ca ngợi sự kỳ diệu của sự việc Ngài giác ngộ hết thảy
mọi chúng sanh bằng giáo lý của Ngài. Chư vị cũng tán tụng
sự việc đức Phật đã không nghĩ gì đến chính Ngài trong
suốt nỗ lực lâu dài của Ngài và sự việc Ngài đem hết
sức để cứu mọi chúng sanh bằng cách mang lấy mọi thứ
khổ nhọc và từ bỏ tất cả, mà do đó Ngài đạt được
đại trí tuệ, điều này khiến mọi chúng sanh được dẫn
đến chứng ngộ. Đoạn kệ chót của phẩm này ca ngợi đức
Phật đã thành bậc Đại Giác, Đại Thánh, diễn tả sự
thán phục của chư Bồ-tát là những vị đang trên đường
chứng đạt trạng thái này, về nỗ lực mà đức Phật đã
thực hiện suốt một thời gian lâu dài. Chư vị chấm dứt
bài tán tụng bằng câu “Chúng con xin quy phục đấng đã
thành tựu tất cả những việc khó khăn”.
Tán tụng
đức Phật là để ghi khắc lý tưởng của chúng ta về đức
Phật sâu trong tâm trí chúng ta. Sự tán tụng này nêu rõ cứu
cánh Phật quả bằng cách xây dựng một minh họa về hình
ảnh và năng lực của đức Phật như là vị đón nhận sự
cung kính lớn lao nhất và là vị tuyệt đối toàn hảo.