KINH
VÔ LƯỢNG NGHĨA
Phẩm 3
THẬP
CÔNG ĐỨC
Phẩm này
trình bày công đức mà một người có thể đạt, những hành
vi đạo đức mà người ấy có thể thành tựu và những phục
vụ mà người ấy có thể thực hiện cho xã hội nếu người
ấy hiểu giáo lý được giảng trong kinh này. Nhiều người
bảo rằng tôn giáo không nên ban công đức cho tín đồ, nhưng
đây chỉ là một ý kiến nghe ra có vẻ hay ho. Nếu một người
không được công đức khi người ấy thực sự am hiểu một
tôn giáo đúng đắn, tin tưởng sâu xa và tu tập theo tôn giáo
ấy, thì điều này kể cũng lạ. Không cần phải nói, có
nhiều mức độ khác nhau về công đức tùy theo mức độ
am hiểu của người ta và tốc độ thể hiện thực sự về
công đức. Trong mọi trường hợp, khi một người tin tưởng
vào tôn giáo của mình, thông qua tôn giáo ấy mà đạt công
đức thì đấy là điều tự nhiên.
Như trước
đây đã nêu, giáo lý của đức Phật là chân lý về vũ trụ,
dĩ nhiên nó bao gồm con người. Chẳng có gì lạ, và chắc
chắn chẳng có gì vi diệu khi nếu một người sống theo chân
lý thì cuộc sống của người ấy được tốt đẹp. Điều
này cũng như nếu chúng ta mở máy truyền hình và vặn đúng
độ dài sóng được một trạm phát hình riêng phát đi thì
một hình ảnh sống động hiện ra trên màn hình và một âm
thanh rõ ràng phát ra.
Nếu không
có hình ảnh hiện lên trên màn hình dù chúng ta vẫn thường
cố chỉnh kênh thì máy truyền hình ấy là không dùng được.
Nó sẽ bị vứt vào một phòng kho nào đó, tại đấy, nó
sẽ bị bụi bặm bao phủ. Trong suốt lịch sử, nhiều tôn
giáo đã xuất hiện, nhưng một số đã mất dần năng lực
và cuối cùng trở nên xa vời với người ta. Sở dĩ như thế
là vì các tôn giáo ấy đã quên thứ công đức mà tín đồ
đạt, hoặc vì chỉ giảng về thứ công đức đạt được
sau khi chết, rằng người ta sẽ lên trời hay tái sinh ở thiên
đường.
Giáo lý thật
sự của đức Phật dù sao cũng không thuyết giảng về một
công đức mơ hồ mà người ta chỉ có thể hiểu được sau
khi chết. Công đức mà đức Phật thuyết giảng thể hiện
rõ ràng trong đời sống của chúng ta trên thế giới này.
Ngoài chính chúng ta, đây là một công đức gây một ảnh
hưởng vào tất cả xã hội, tất cả mọi người. Nếu chúng
ta không để ý tới và coi thường công đức này thì cũng
như chúng ta cố ý che kín ánh sáng giáo lý của đức Phật
bằng một tấm màn đen. Thái độ như thế là do sự hiểu
biết nông cạn đặc biệt của con người ngày nay.
Chúng ta cần
phải lìa bỏ lối suy nghĩ nông cạn ấy và tắm mình trong
ánh sáng của đức Phật bằng cách vén bức màn kia sang một
bên. Đây là niềm hy vọng thực sự của đức Phật và là
mục đích duy nhất khiến Ngài xuất hiện trên cõi đời này.
Bồ-tát Ma-ha-tát
Đại Trang Nghiêm xúc động mạnh mẽ vì kinh Vô Lượng Nghĩa,
bạch với Phật ngài có thể hiểu rằng kinh này là vi diệu,
sâu xa và có năng lực lớn lao. Rồi Bồ-tát Ma-ha-tát hỏi
đức Phật: “Bạch Thế Tôn, kinh này là bất khả tư nghì.
Bạch Thế Tôn, vì lòng từ mẫn đối với hết thảy mọi
người, xin Ngài giảng giải vấn đề sâu xa và bất khả
tư nghì của kinh này. Bạch Thế Tôn, kinh này từ chỗ nào
đến ? Kinh này đi đến chỗ nào? Kinh này trụ ở chỗ nào
?”
Đức Phật
trả lời Bồ-tát Ma-ha-tát Đại Trang Nghiêm: “Này Thiện
nam tử ! Kinh này vốn từ trú xứ của hết thảy chư Phật
mà đến, đi đến chỗ mong cầu Phật quả của hết thảy
chúng sanh và trụ tại chỗ mà hết thảy Bồ-tát tu tập”.
Những từ
này rất quan trọng. Biểu ngữ “Kinh này vốn từ trú xứ
của hết thảy chư Phật mà đến” nghĩa là kinh phát xuất
từ tâm của đức Phật. Ở đây đức Phật nhấn mạnh rằng
kinh này như là một cỗ xe lớn (Đại thừa), thực sự là
một giáo pháp sâu xa phát xuất từ tâm từ bi của đức Phật,
khiến Ngài không thể không giảng nó. Chỗ mà kinh đi đến,
tức mục đích của kinh, là khiến cho tất cả các chúng sanh
mong cầu Phật quả. Chỗ mà kinh trụ là sự tu tập của chư
Bồ-tát, là rất nhiều pháp môn tu tập khác nhau đưa đến
sự chứng ngộ của đức Phật. Điều này cũng khẳng định
rằng mọi người đều có thể đạt đại công đức là có
thể đạt sự chứng ngộ của đức Phật nếu người ta tu
tập theo kinhnày.
Thế rồi
đức Phật giảng rõ về mười năng lực công đức của kinh.
Ở đây, chúng ta sẽ tập trung vào năng lực công đức thứ
nhất vốn được xem là năng lực căn bản nhất.
Đức Phật
dạy: “Này các Thiện nam tử ! Trước hết, kinh này có các
công đức sau đây: nó khiến cho chư Bồ-tát chưa được giác
ngộ mong cầu Phật quả và khiến cho người không có lòng
thương xót không lưu tâm tạo hạnh phúc cho những người
khác, sẽ khởi lòng thương xót. Nó cũng làm cho người thích
gây hại những người khác hay giết chóc chúng sanh, sẽ khởi
lòng đại từ bi. Nó làm cho một người có tính ganh ghét
khởi lòng hỷ xả. Ai tham lam và kiêu mạn thì nên đọc kinh
này, họ sẽ lĩnh hội được giáo lý của đức Phật, họ
có thể hiểu rằng một người có vẻ không ngang bằng họ
lại cũng bằng như họ trước đức Phật, họ sẽ đầy lòng
hoan hỷ và muốn được tối thượng như đức Phật. Do đó,
sự tham lam và ganh ghét bị tiêu trừ.
“Thật là
tự nhiên khi một người cảm thấy bị ràng buộc vào những
thứ chung quanh - tài sản, địa vị, danh dự, gia đình v.v...
Tuy nhiên, nếu người ấy chấp chặt những thứ này thì người
ấy sẽ mang lấy nhiều khổ đau về tinh thần. Nếu anh ta
đạt đến một trạng thái tâm thức xả bỏ các thứ ấy
vào bất cứ lúc nào thì tâm anh ta sẽ trở thành tự tại
đối với chúng. Vì không bị ràng buộc vào một thứ gì
cả, anh ta sống một cuộc sống bình an với gia đình, có
thể sử dụng tài sản một cách hữu ích và có thể tạo
ra một trú xứ tốt đẹp nhất trong cuộc đời. Kinh này có
công đức làm cho một người bị ràng buộc khởi tâm xả
ly.
“Kinh này
khiến người keo kiệt khởi tâm bố thí. Những ai keo kiệt
về những thứ riêng của mình và ham muốn những thứ của
người khác mà có thể hiểu Phật tâm, tận tụy chỉ vì
chúng sanh; thì tự nhiên những người ấy sẽ có tâm bố
thí và tử tế với những người khác. Họ sẽ có ích cho
những người khác.
“Kinh này
khiến người kiêu mạn khởi tâm giữ giới. Nếu những ai
tự hào về sự thù thắng, về trí khôn hay về phẩm hạnh
của mình thì cần phải đọc tụng kinh này và hiểu sự hiện
hữu của đức Phật, những người ấy sẽ lưu tâm đến
lối suy nghĩ và xử sự sai lầm và khởi tâm giữ gìn kiên
cố những giới luật mà đức Phật đã thiết lập.
“Kinh này
khiến người nóng nảy khởi tâm nhẫn nhục. Những ai thường
giận dữ vì những điều nhỏ nhặt thì cần phải noi theo
gương tâm của đức Phật, họ sẽ không còn nóng giận, oán
ghét về những gì mà những người khác có thể nói hay làm.
Trái lại, họ thông cảm với những người khác và từ bi
mong mỏi sửa chữa lối suy nghĩ sai lầm của những người
ấy. Đây là tâm nhẫn nhục vốn có thể chịu đựng những
gì không thể chịu đựng và làm cái không thể tha thứ thành
cái có thể tha thứ.
“Kinh này
khiến người lười biếng khởi tâm tinh tấn. Người lười
biếng là người không hướng hoạt động của mình cho tương
lai, là người bỏ qua bổn phận và cứ bận bịu theo những
việc không đâu. Tuy vậy, anh ta không thể không nỗ lực hướng
dẫn đời mình nếu anh ta hiểu lời đức Phật dạy rằng
mọi cuộc đời đều có thể được sống một cách đúng
đắn theo từng cách riêng và đây là cách làm cho toàn bộ
thế giới vận hành cho cái đúng. Chớ làm điều gì ác, hãy
làm hết thảy những gì thiện, hãy thanh tịnh tâm mình.
“Kinh này
khiến cho người bị dao động khởi tâm Thiền định. Ngay
cả những ai bị dao động, chao đảo do mọi thay đổi về
hoàn cảnh cũng tiếp tục duy trì cái tâm tĩnh lặng, an bình
khi họ hiểu ra rằng có một chân lý thường hằng bên dưới
mọi hiện tượng thay đổi.
“Kinh này
khiến cho người si muội khởi tâm trí tuệ. Người si muội
là người chỉ nghĩ đến hiện tại mà không thể suy tưởng
đến hậu quả của những hành động của mình. Do đó, người
ấy có thể bị dao động vì hoàn cảnh trực tiếp và thường
trở nên giận dữ hay lo lắng về những thứ như thế. Nếu
người ấy nghiên cứu giáo lý Đại thừa và có tâm trí tuệ,
anh ta sẽ dần dà thấy được các sự việc trong văn mạch
và không cảm thấy chán nản về mọi sự, tâm anh ta sẽ trở
nên sáng suốt hơn.
“Kinh này
khiến cho người không lưu tâm cứu giúp người khác khởi
tâm cứu giúp người khác. Nếu một người hiểu rằng những
người khác cũng như chính mình cần phải được cứu giúp
vì anh ta không sống trong đời này đơn độc, tách biệt với
những người khác thì tự nhiên anh ta sẽ khởi tâm giúp đỡ
những người khác.
“Kinh này
khiến người phạm mười điều ác khởi tâm về mười điều
thiện. Mười điều ác là sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói
dối, nói lời nhơ nhớp, nói lời hai lưỡi, ác khẩu, tham
lam, sân hận, và si muội. Khi một người thủ đắc giáo lý
chân thật của Đại thừa, người ấy sẽ dần dà không còn
nuôi dưỡng những điều ác ấy.
“Kinh này
khiến người tìm cầu hữu (sự hiện hữu) mong mỏi cái tâm
phi hữu. Ngay cả những ai chấp chặt quy ngã trong mọi sự
mà họ làm thì tự nhiên họ sẽ khởi tâm vô vị kỷ khi
họ nhờ kinh này mà đến gần Phật, tâm xem tất cả các
chúng sanh đều bình đẳng.
“Kinh này
khiến người có xu hướng bỏ đạo khởi tâm bất thối chuyển.
Những ai có thể bị thối thất trong sự tiến bộ tâm linh
sẽ có quyết tâm khiến họ nhằm đạt đến Phật quả, kiên
trì trong giới luật tu tập không bao giờ thối thất một
chút nào khi họ hiểu được giáo lý Đại thừa nhờ kinh
này. Điều này là hoàn toàn tự nhiên, vì họ có thể thấy
được con đường đang chiếu sáng và mở ra trước mắt họ
và họ không thể không được cảm ứng bởi con đường ấy.
“Kinh này
khiến cho người phạm các hành động cấu uế do bởi ảo
tưởng khởi tâm vô lậu vượt khỏi ảo tưởng và khiến
cho người khổ đau vì lậu hoặc khởi tâm viễn ly”.
Sau khi giảng
giải như thế, đức Phật dạy: “Này các Thiện nam tử,
đấy gọi là năng lực công đức bất khả tư nghì thứ nhất
của kinh này”.
Các năng
lực công đức đã nêu trên thì rất rộng lớn. Dù cho chúng
ta chỉ hoàn tất một trong các năng lực ấy thì đấy cũng
là một thành tựu tuyệt vời đối với chúng ta vốn là những
người đang sống trong thời đại mới này. Khi đọc về nhiều
công đức nêu ra đây, chúng ta chớ lo sợ mà nghĩ rằng các
công đức ấy vượt khỏi sức lực của chúng ta, vì nếu
chúng ta có thể hoàn thành chỉ một công đức thì chúng ta
có thể hoàn thành các công đức khác. Hãy cứ hoàn thành
một công đức - nghĩ như thế là rất quan trọng, nhằm để
ra sức học tập và để kiên trì trong kỷ luật như thế.
Thứ hai,
đức Phật khẳng định rằng nếu một chúng sanh nghe được
kinh này chỉ một lần, hay dù chỉ một câu hay một phần
câu, người ấy cũng thâm nhập vô số ý nghĩa vì kinh này
hàm chứa vô lượng nghĩa.
Năng lực
công đức bất khả tư nghì thứ hai của kinh được nêu như
sau: Từ một hạt giống, một trăm ngàn vạn hạt giống nảy
sinh, từ mỗi hạt giống của một trăm ngàn vạn hạt giống
này, một trăm ngàn vạn hạt giống khác nẩy sinh, và cứ
theo một quá trình như thế, các hạt giống gia tăng đến
vô cùng.
Kinh này
cũng như thế. Từ một pháp, một trăm ngàn vạn ý nghĩa nẩy
sinh, từ mỗi ý nghĩa của một trăm ngàn vạn ý nghĩa này,
một trăm ngàn vạn ý nghĩa khác nẩy sinh, và bằng một quá
trình như thế, các ý nghĩa gia tăng đến vô hạn.
Năng lực
công đức bất khả tư nghì thứ ba của kinh là như sau: Nếu
một chúng sanh nghe được kinh này chỉ một lần, hay dù chỉ
một câu hay một phần câu, người ấy cũng thâm nhập vô
số ý nghĩa. Sau đó, những si muội của người ấy, dù còn
hiện hữu, vẫn trở thành như không hiện hữu; người ấy
sẽ không sợi hãi dù người ấy chuyển dịch giữa sinh và
tử; và người ấy sẽ khởi tâm từ bi đối với mọi chúng
sinh, đạt được sự quả quyết tuân theo mọi pháp.
Giống như
một người chở thuyền, dù người ấy ở bờ bên này, đang
mắc bệnh nặng, cũng có thể được sang bờ bên kia nhờ
một chiếc thuyền tốt và chắc chắn chở được bất cứ
ai một cách an toàn; đối với người trì kinh này cũng như
thế. Dù người ấy ở bờ bên này thuộc vô minh, già và
chết, với một trăm lẻ tám loại bệnh nặng mà thân thể
người ấy mắc phải theo năm trạng thái (ngũ đạo), người
ấy cũng có thể được giải thoát khỏi sinh tử nhờ tu tập
kinh Đại thừa Vô Lượng Nghĩa kiên cố này là kinh thực
hiện giải thoát chúng sanh.
Năng lực
công đức bất khả tư nghì thứ tư của kinh này là như sau:
Nếu một chúng sanh nghe được kinh này chỉ một lần, hay
chỉ một câu hay một phần câu, người ấy sẽ đạt được
tinh thần quả cảm, và sẽ cứu giúp những người khác dù
người ấy chưa thể tự cứu mình. Người ấy sẽ trở
thành người theo hầu chư Phật cùng với hết thảy chư Bồ-tát
và hết thảy chư Phật Như Lai sẽ luôn luôn giảng Pháp cho
người ấy. Biểu ngữ “hết thảy chư Phật Như Lai sẽ luôn
luôn giảng Pháp cho người ấy” có ý nghĩa rất thâm sâu,
trỏ rằng mặc dù mãi cho đến nay người ấy đã không biết
hoặc cố ý lẩn tránh đức Phật, giờ đây người ấy lại
trực tiếp diện kiến đức Phật. Dù muốn hay không, người
ấy cũng được trực tiếp đưa ra trước ánh sáng của đức
Phật. Đây là một công đức rất quan trọng mà người ấy
có thể đạt được từ đức Phật. Người ấy càng thường
xuyên nhận giáo lý của đức Phật thì càng có nhiều người
có thể được người ấy thuyết giảng giáo lý ấy tùy theo
những phương pháp thích hợp nhất cho nhiều người khác nhau.
Năng lực
công đức bất khả tư nghì thứ tư dạy rằng nếu một Bồ-tát
nghe được một phần câu hay một câu kệ của kinh này một
lần, hai lần, mười lần, một trăm lần, một ngàn lần,
một vạn lần hay vô số lần, vị ấy sẽ có thể thâm nhập
vào Mật pháp của chư Phật và sẽ diễn giải Mật pháp ấy
không lầm lẫn sai sót dù cho chính vị ấy chưa thể nghiệm
chân lý tối hậu. Vị ấy sẽ luôn luôn được hết thảy
chư Phật hộ trì và đối xử từ ái vì vị ấy là kẻ sơ
học.
Năng lực
công đức bất khả tư nghì thứ năm và thứ sáu của kinh
này là như sau: Nếu Thiện nam tử hay Thiện nữ nhân nào thọ
trì, tụng đọc hay chép kinh này hoặc trong thời đức Phật
tại thế hoặc sau khi Ngài nhập diệt thì dù cho họ còn bị
vô minh hạn chế, lời nói và các cư xử của họ cũng sẽ
có ích cho xã hội. Họ sẽ giải thoát các chúng sanh khỏi
sinh tử của vô minh và khiến các chúng sanh thắng vượt mọi
khổ đau bằng cách giảng pháp cho các chúng sinh. Đây là sự
tu tập quan trọng nhất của chư Bồ-tát và chứng tỏ rằng
người ta có thể thuyết pháp cho những người khác ngay cả
khi người ta chưa thành tựu pháp một cách viên mãn; người
ta phải chia xẻ cái biết của chính mình dù cái biết ấy
còn ít ỏi, để mình tiến xa hơn. Ẩn dụ sau đây sẽ minh
họa năng lực công đức thứ sáu: Giả thử một vị vua đang
tuần du hay đang bị bệnh mà phải giao sự cai quản việc
nước cho thái tử dù thái tử chỉ là một đứa trẻ. Thái
tử do lệnh vua mà lãnh đạo toàn bộ các quần thần theo
luật và phổ biến các chính sách đúng đắn, khiến cho mọi
công dân trong nước theo lệnh của thái tử chính xác như
chính nhà vua đang trị vì. Các Thiện nam tử hay Thiện nữ
nhân thọ trì kinh này cũng giống như thái tử ấy vậy.
Các năng
lực công đức thứ bảy, thứ tám, thứ chín, và thứ mười
của kinh diễn tả một cấp độ tâm thức rất khó khăn để
tiến lên từ mỗi tầng bậc. Xin vắn tắt trình bày chung
về các năng lực công đức này: khi người ta hiểu kinh này
sâu hơn, tu tập và truyền bá kinh này cho người khác, thì
người ta có thể chính tự mình thành tựu kinh và đồng thời
có thể cứu độ kẻ khác; và cuối cùng, có thể đạt được
một trạng thái tâm như của đức Phật.
Khi đức
Phật giảng xong các năng lực công đức bất khả tư nghì
của kinh này, đất rung chuyển và hoa, hương, áo, tràng hoa
và báu vật vô giá của trời từ trên trời mưa xuống. Các
thứ này được dâng cúng đức Phật, chư Bồ-tát, Thanh văn
và đại chúng. Bấy giờ cùng với nhiều Bồ-tát Ma-ha-tát
khác, Bồ-tát Ma-ha-tát Đại Trang Nghiêm nguyện với đức
Phật rằng chư vị sẽ truyền giảng rộng rãi kinh này sau
khi đức Như Lai diệt độ, vâng theo lời Phật dạy và khiến
mọi người quyết thọ trì, đọc tụng, sao chép và tôn sùng
kinh này.
Đức Phật
rất hoan hỷ nghe các lời nguyện của chư vị ấy và khen
rằng: “Hay thay ! Hay thay ! Này các Thiện nam tử, các vị
quả thực là con của Phật. Các vị là những người cứu
tất cả chúng sanh khỏi khổ đau. Hãy luôn luôn ban phước
lạc của Chánh pháp rộng khắp hết thảy“.
Kinh Vô Lượng
Nghĩa chấm dứt bằng những biểu từ sau: “Bấy giờ, mọi
người trong đại chúng đều hết sức vui mừng, đảnh lễ
đức Phật, thọ nhận kinh mà rút lui“.
Tóm lại,
điểm thiết yếu của kinh này là mọi pháp đều phát sinh
từ một pháp, tức là, cái thực tướng của hết thảy mọi
sự vật. Tất cả các hiện tượng của vũ trụ, bao gồm
cả đời sống con người, thể hiện bằng muôn ngàn cách
khác nhau và xuất hiện, biến diệt, biến chuyển, đổi thay.
Tâm con người có thể bị dẫn dắt sai lạc trong khổ đau
và lo lắng vì sự dị biệt và biến dịch. Nếu chúng ta không
lưu tâm đến sự dị biệt và biến dịch có tính chất ngoại
tướng như thế, và nếu chúng ta có thể nhìn thấy sâu suốt
cái thực tướng của tất cả các sự vật vốn vượt khỏi
sự dị biệt bên ngoài, cái
thực tướng
mãi mãi không thay đổi thì chúng ta có thể đạt được trạng
thái tâm thức tự tại với mọi sự vật trong khi sống đời
sống thường nhật
Tuy nhiên,
kinh Vô Lượng Nghĩa không giải thích rõ “thực tướng của
mọi sự vật” là gì và chúng ta phải làm gì để thấy
rõ thực tướng ấy. Điểm quan trọng này sẽ được làm
sáng tỏ trong kinh Pháp Hoa sau đây.