PHẦN
BA
KINH
QUÁN PHỔ HIỀN BỒ-TÁT
HAI
Ý NGHĨA VÀ HAI PHƯƠNG PHÁP SÁM HỐI
ĐỨC
HẠNH VÀ NĂNG LỰC CỦA BỒ-TÁT PHỔ HIỀN
NHÌN
THẤY NGÀI PHỔ HIỀN TRONG MỘNG
MƯỜI
LỰC
CHỈ
RIÊNG ĐỨC PHẬT THÍCH-CA-MÂU-NI GIẢNG PHÁP
SÁU
ĐỐI TƯỢNG TƯ DUY
CÁC
TỘI LỖI VỀ MẮT
CÁC
TỘI LỖI VỀ TAI
CÁC
TỘI LỖI VỀ LƯỠI (SỰ NÓI NĂNG)
CÁC
TỘI LỖI VỀ THÂN VÀ TÂM
CÁC
CÔNG ĐỨC CỦA SÁM HỐI
SỰ
SÁM HỐI CỦA BA HẠNG NGƯỜI
Người
ta không biết lúc nào và ai đã tụng trước tiên, kinh này,
kinh được gọi là kinh kết thúc kinh Pháp Hoa. Tuy nhiên, người
tụng kinh này trước tiên chắc chắn là một nhân vật lớn.
Sở dĩ như thế là vì kinh Quán Phổ Hiền Bồ-tát (quán niệm
về Bồ-tát Phổ Hiền) thâm sâu đến nỗi kinh được xem
là sự nối tiếp thuyết giảng của đức Phật về kinh Pháp
Hoa và vì kinh dạy chúng ta nên làm sao để áp dụng kinh Pháp
Hoa một cách thực tế vào đời sống hàng ngày. Phương pháp
này là sự sám hối. Kinh Quán Phổ Hiền Bồ-tát dạy chúng
ta ý nghĩa và phương pháp thực sự của sám hối một cách
rốt ráo đến nỗi kinh thường được gọi là “kinh Sám
Hối”.(1)
HAI
Ý NGHĨA VÀ HAI PHƯƠNG PHÁP SÁM HỐI.
Từ “sám
hối” có hai ý nghĩa và hai cách áp dụng. Một là sám hối
theo nghĩa chung, tức sự thú lỗi về những hành động đã
qua của chính ta, sai lầm về vật lý và tâm lý. Tâm ta được
thanh tịnh do sự sám hối như vậy, và vì nó giải thoát cho
ta khỏi một cảm giác tội lỗi nên ta cảm thấy dễ chịu.
Có quá nhiều trường hợp để nêu ra về các thành viên của
Hội Risshò Kòsei được lành bệnh hay được giải phóng khỏi
những vấn đề gia đình mà chỉ nhờ thú lỗi trước các
thành viên thân hữu trong những phiên họp hướng dẫn nhóm.
Các nhà tâm phân học, đặc biệt là những người thực hiện
những phân tích thâm sâu, đã áp dụng nguyên lý này để
giúp đỡ nhiều người bị rối loạn tâm lý.
Dĩ nhiên,
sự lành bệnh tùy thuộc vào sự sám hối của ta mà giá trị
của nó chính là việc làm biểu lộ Phật tính của ta. Nhờ
kinh Pháp Hoa, ta đã có thể hiểu được rằng mọi người
đều có Phật tính như nhau. Nhờ kinh này, ta được biết
rằng tất cả chúng ta đều có viên ngọc Phật tính vô giá.
Thật vậy, kinh Pháp Hoa có thể được gọi là giáo lý về
sự khai mở Phật tính của ta.
Ngay khi được
khai từ mỏ lên, viên đá quý bị bùn đất bao phủ và không
lộ được vẻ sáng thực sự của nó. Nó không hiển lộ
được bản chất là một viên ngọc vô giá nếu người ta
không rửa sạch bùn đất đi. Rửa bùn đất làm sạch viên
ngọc cũng giống như giai đoạn thứ nhất của sự sám hối.
Bề mặt của Phật tánh bị bao phủ bởi nhiều ảo tưởng
sinh ra trong cuộc sống hàng ngày của ta. Nhờ sám hối, ta
sẽ gỡ bỏ những ảo tưởng ấy ra khỏi Phật tính của
ta, cũng như nước rửa sạch bùn đất ra khỏi viên đá quý.
Sám hối
với những người khác là giai đoạn thứ nhất của sự sám
hối. Chúng ta phải đi qua giai đoạn này, nhưng vì niềm tin
của chúng ta đã thâm sâu nên rốt lại là chúng ta sám hối
trực tiếp với đức Phật mọi tội lỗi của chúng ta. Chúng
ta xét mình là bất toàn và lầm lỗi, nghiên cứu Phật pháp
thâm sâu hơn, tư duy về các học thuyết Phật học và tự
nâng cao mình lên mãi. Đây là nguyên lý thâm diệu về sự
sám hối; đây là sự sám hối thực sự.
Giai đoạn
thứ hai của sự sám hối là việc thực hành mà qua đó ta
không ngừng đánh bóng viên ngọc Phật tính của ta. Một viên
ngọc không hiển lộ vẻ sáng của nó dù cho nó đã được
rửa sạch bùn đất. Mặt ngoài của nó bị các trầm tích
khoáng chất bao phủ và nó chỉ có thể để lộ vẻ sáng
thực sự khi người ta đánh bóng gỡ sạch những chất dơ
bẩn ra khỏi mặt ngoài của nó. Ta cũng có thể nói như thế
về Phật tính của ta. Giai đoạn thứ hai của sám hối là
sự thực hành mà qua đó ta đánh bóng Phật tính của ta.
Như được
nêu ở phẩm 20 của kinh Pháp Hoa, “Thường Bất Khinh Bồ-tát”,
để khai mở Phật tánh của những người khác, điều quan
trọng nhất đối với chúng ta là tôn kính Phật tính, kính
trọng mọi người. Ta phải có một thái độ thật nghiêm
túc hơn đối với chính ta. Ta phải luôn luôn tẩy sạch và
đánh bóng Phật tính của ta. Ta cảm thấy khó chịu khi ta
xối nước lạnh vào người rồi cọ xát mạnh bằng một
cái khăn ướt để làm sạch thân mình. Khi ta dám tẩy sạch
và đánh bóng Phật tính của ta thì dù khó chịu, nó cũng
bắt đầu phát ra một ánh sángngời.
Kinh Quán
Phổ Hiền Bồ-tát bằng một cách cụ thể và rốt ráo, dạy
ta ý nghĩa và sự thực hành giai đoạn thứ hai của sám hối.
Bây giờ ta hãy đi vào chính kinh.
Một thời
đức Phật ở tại giảng đường Trùng Các trong tinh xá Đại
Lâm ở Tỳ-xá-ly (Vaisàli), Ngài nói với các Tỳ-kheo: “Sau
ba tháng, Ta sẽ nhập Bát-niết-bàn (Parinirvàna)”. Tôn giả
A-nan liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chỉnh đốn y phục,
chắp tay, nhiễu quanh đức Phật ba vòng và đảnh lễ Ngài,
quỳ gối chắp tay, chăm chú nhìn đức Như Lai, mắt không
lúc nào quay nhìn nơi khác. Trưởng lão Ma-ha Ca-diếp, Bồ-tát
Ma-ha-tát Di-lặc cũng từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay đảnh
lễ, nhìn lên tôn nhan của đức Phật. Thế rồi ba vị Đại
sĩ phát ra cùng một âm thanh, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, sau khi đức Như Lai diệt độ, các chúng sanh làm
thế nào để có thể phát khởi tâm Bồ-đề, để tu hành
các kinh Đại Phương Quảng của Đại thừa, để chánh niệm
tư duy một cảnh giới chân thật ? Họ làm thế nào để không
bị mất cái tâm Bồ-đề vô thượng? Họ làm thế nào để
không cắt đứt phiền não, không từ bỏ năm dục mà lại
thanh tịnh được các căn và diệt trừ được các tội ?
Họ làm sao để bằng con mắt vốn thanh tịnh do cha mẹ sinh
ra và không cắt đứt năm dục mà lại có thể nhìn thấy
được các sự vật một cách tự tại ?”
Đức Phật
bảo ngài A-nan: “Hãy nghe cho kỹ ! Hãy nghe cho kỹ, hãy tư
duy và nhớ kỹ ! Ngày xưa tại núi Kỳ-xà-quật (Grdhrakùta)
và tại các nơi khác, Như Lai đã từng rộng giảng rõ ràng
con đường của một thực tính duy nhất. Nay tại nơi này,
nhằm cho các chúng sanh trong đời vị lai muốn tu hành pháp
vô thượng của Đại thừa muốn học hạnh Phổ Hiền và
theo hạnh Phổ Hiền, Ta sẽ giảng Pháp mà Ta đã ấp ủ. Nay
Ta sẽ rộng giảng rõ ràng cho các Ông về việc trừ khử
các tội cho những ai được trông thấy Phổ Hiền hoặc không
trông thấy Phổ Hiền. Này A-nan! Bồ-tát Phổ Hiền đã
sinh ra tại nước Tịnh Diệu ở phương Đông là quốc độ
mà Ta đã rộng giảng rõ ràng trong kinh Pháp Hoa. Nay trong kinh
này ta sẽ giải thích lại một cách vắt tắt.
“Này A-nan
! Nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, tám bộ
Trời và Rồng, và tất cả chúng sanh tụng kinh Đại thừa,
tu hành theo Đại thừa, khởi ý Đại thừa, vui mừng được
nhìn thấy sắc thân của Bồ-tát Phổ Hiền, vui mừng được
nhìn thấy tháp của đức Phật Đa Bảo, vui mừng được nhìn
thấy đức Phật Thích-ca-mâu-ni và chư Phật phân thân, vui
mừng được sự thanh tịnh của sáu căn, những vị ấy cần
phải học quán niệm này. Công đức của quán niệm này sẽ
loại trừ cho họ các chướng ngại, khiến họ thấy các sắc
tướng vi diệu. Dù cho họ chưa nhập được tam-muội nhưng
vì họ tụng và trì Đại thừa, nên họ sẽ chuyên tâm tu
tập không gián đoạn, không rời Đại thừa; sau một ngày
hoặc ba lần bảy ngày, họ sẽ nhìn thấy được Phổ Hiền;
người có trọng chướng thì sau bảy bảy lần ngày sẽ nhìn
thấy được ngài; lại có người có trọng chướng nhiều
hơn thì sau một đời mới nhìn thấy được ngài; lại có
người có trọng chướng nhiều hơn nữa thì hết hai đời
mới nhìn thấy được ngài; lại có người trọng chướng
còn nhiều hơn nữa thì sau ba đời mới nhìn thấy được
ngài. Như thế các thứ nghiệp báo không như nhau. Vì thế
nên Ta giảng giáo lý theo nhiều cách khác nhau”.
Nhiều điểm
quan trọng được bao gồm trong đoạn kinh trên. Đặc biệt
đáng lưu ý là biểu cú sau đây: “Họ làm thế nào để
không cắt đứt phiền não, không từ bỏ năm dục mà lại
thanh tịnh được các căn và diệt trừ được các tội ?”
Lý tưởng
của việc tu tập của chúng ta là cắt đứt phiền não và
từ bỏ năm dục. Dù một lý tưởng như thế phải là cần
thiết đối với các tu sĩ Phật giáo, nhưng đối với hàng
tín giả tại gia thì thật khó theo đuổi hơn nhiều vì họ
phải giữ niềm tin trong khi họ phải sống và làm việc trong
xã hội thế tục. Trong hoàn cảnh của họ, các trạng huống
do năm dục gây nên xảy ra liên tục và quanh họ là những
con người, những trạng huống gây phiền não cho họ. Nói
một cách lý tưởng, họ cần phải thoát khỏi tất cả các
tham dục, nhưng thực ra, mong chờ họ đạt tới một mức
độ tâm thức như thế ngay tức khắc là đòi hỏi quá đáng.
Tuy nhiên, một khi họ là tín giả thì họ phải nhắm đến
lý tưởng tối hậu của họ. Nhưng họ phải làm sao để
lấp cái khoảng cách giữa lý tưởng và thực tế ? Kinh này
dạy ta lời giải đáp cho vấn đề thực tiễn này, vấn đề
mà hàng tín giả phải đối mặt trong thời đại suy thoái
này.
Xuyên qua
toàn bộ kinh này là một quan niệm được diễn tả trong câu
sâu đây: “Dù cho họ chưa nhập được tam-muội, nhưng vì
họ tụng và trì Đại thừa, nên họ sẽ chuyên tâm tu tập
không gián đoạn...” Chỉ có người đã trải qua sự huấn
luyện tôn giáo đáng kể mới có thể tập trung tâm vào một
đối tượng đơn nhất và nhập thẳng vào cấp độ tâm thức
phân biệt thực tướng của tất cả các sự vật. Ai chưa
đạt được cấp độ tâm thức ấy thì nhờ dốc lòng tụng
và trì Đại thừa, sẽ dần dần tiến đến sự thực hành
của Bồ-tát Phổ Hiền. Một số người sẽ đạt đến sự
thực hành của Bồ-tát này sau ba lần bảy ngày, trong khi những
người khác sẽ phải sau ba đời mới được như thế. Trong
mỗi trường hợp, sự bảo đảm tiến dần đến một cấp
độ tâm thức như thế là một khích lệ lớn cho chúng ta
trong thời mạt pháp này.
ĐỨC
HẠNH VÀ NĂNG LỰC CỦA BỒ-TÁT PHỔ HIỀN.
Đức Phật
dạy: “Bồ-tát Phổ Hiền có thân thể vô biên, âm thanh vô
biên, hình ảnh vô biên. Muốn đến quốc độ này, ngài nhập
vào thần thông tự tại, thu nhỏ thân lại. Vì người trong
cõi Diêm-phù-đề có ba chướng nặng nề nên ngài dùng sức
trí tuệ mà hóa thân cỡi trên một con voi trắng. Voi này có
sáu ngà, bảy chân đỡ thân mình trên đất. Bên dưới bảy
chân của nó là bảy hoa sen. Voi có màu trắng tươi, trắng
nhất trong những thứ có màu trắng, đến nỗi pha-lê và núi
Tuyết sơn cũng không sánh được. Thân voi dài bốn trăm năm
mươi do -tuần, cao bốn trăm do-tuần. Cuối sáu ngà có sáu
ao tắm. Trong mỗi ao tắm mọc lên mười bốn hoa sen lớn bằng
ao tắm ấy. Hoa mãn khai như vua của cây ở cõi trời. Trên
mỗi hoa này có một ngọc nữ nhan sắc hồng thắm, tươi sáng
hơn các thiên nữ. Trong tay của mỗi ngọc nữ tự nhiên hóa
ra năm cây đàn không hầu, mỗi cây đàn không hầu có năm
trăm nhạc khí để họa theo. Có năm trăm con chim gồm loài
nhạn, uyên, ương, tất cả đều có màu sắc của các thứ
báu, sinh khởi ra trong hoa và lá. Trên vòi voi có một
cái hoa, cuống hoa có màu của một viên ngọc đỏ, hoa thì
vàng, đang còn búp, chưa nở. Sau khi chứng kiến sự việc
như vậy, nếu có ai sám hối nhiều hơn nữa về tội của
mình, chú tâm quán tưởng tư duy về Đại thừa, tâm không
hư phế thì người ấy có thể thấy hoa nở ngay, sáng rực
sắc vàng. Đài của hoa sen ấy là một đài bằng ngọc báu
chân-thúc-ca (kimsuka), nhụy hoa làm bằng ngọc phạm-ma-ni (brahma)
vi diệu, tua hoa làm bằng châu báu kim cương. Người ấy trông
thấy các vị Hóa Phật ngồi trên đài hoa sen, rất nhiều
Bồ-tát ngồi trên tua hoa sen. Chỗ lông mày của vị Hóa Phật
cũng phát ra ánh sáng vàng, nhập vào vòi voi; từ vòi voi ra
rồi vào trong mắt voi; từ mắt voi ra rồi vào trong tai voi;
từ trong tai voi ra rồi chiếu trên đỉnh đầu voi, hóa thành
một đài vàng. Trên đầu voi ấy có ba vị hóa nhân: một
vị cầm một bánh xe vàng, một vị cầm một viên ngọc phạm-ma-ni
và một vị cầm một chày kim cang. Khi vị cầm chày giơ chày
lên trỏ voi thì voi liền cất bước đi. Voi không dẫm chân
lên đất, nó bay lửng cách đất bảy xích, nhưng lại để
lại các dấu chân trên đất, trong các dấu chân ấy đều
có in hình trục bánh xe ngàn căm đầy đủ. Ở mỗi dấu trục
bánh xe phát sinh một hoa se lớn. Trên hoa sen này có một
hóa tượng(1). Hóa tượng này cũng có bảy chân, bước theo
sau voi lớn. Mỗi khi hóa tượng nhấc chân hay hạ chân, bảy
ngàn con voi xuất hiện, tất cả đều bước theo sau voi lớn,
làm thành đoàn tùy tùng. Vòi của các voi có màu của hoa sen
đỏ, phía trên có một vị Hóa Phật phóng ánh sáng từ giữa
hai mày.
Ánh sáng
này màu vàng, như đã tả trên, nhập vào vòi voi; từ vòi
ra rồi vào trong mắt voi, từ mắt voi ra rồi lại vào tai voi,
từ tai voi ra rồi lên đến đầu voi, dần dần lên đến lưng
voi, hóa thành cái yên bằng vàng có trang hoàng bảy báu. Ở
bốn bề yên là bốn trụ bảy báu; các thứ báu trang hoàng
ở đấy tạo thành một đài báu. Trên đài này là một hoa
sen bảy báu. Tua sen do trăm thứ báu gồm thành. Đài hoa sen
ấy là một viên ngọc (ma-ni) lớn.
“Trên đài
có vị Bồ-tát ngồi kiết-già tên là Phổ Hiền. Thân ngài
có màu bạch ngọc phát ra năm mươi loại tia sáng, các tia
sáng này có năm mươi loại màu sắc, tạo thành vầng sáng
quanh đầu ngài. Từ các lỗ chân lông của ngài phát ra các
tia sáng vàng. Chỗ tận cùng các tia sáng có vô lượng vị
Hóa Phật có chư vị Bồ-tát làm quyến thuộc.”
Ở đây,
đức hạnh và năng lực của Bồ-tát Phổ Hiền được nêu
ra trong các câu có ngữ điệu. Sau đây là các giải thích
vắn tắt về các từ ngữ và các cú ngữ quan trọng.
Cú ngữ “Bồ-tát
Phổ Hiền có thân thể vô biên, âm thanh vô biên, hình ảnh
vô biên” trỏ cái kho sâu thẳm chứa đức hạnh và năng
lực của Bồ-tát Phổ Hiền. Nếu vị Bồ-tát này trông ra
hoàn toàn khác với người ở thế giới Ta-bà này khi ngài
hiện ra để giáo hóa họ thì họ sẽ cảm thấy khó chịu
đối với ngài và sẽ cảm thấy không thể theo ngài. Do đó,
ngài xuất hiện với hình tướng người và như thế ngài
cần được xem như là sự nhân cách hóa của “nguyên tắc
nửa bước” đã được bàn ở trang (270).
“Ba chướng”
(ba thứ gây trở ngại) trỏ ba thứ xấu ác là kiêu ngạo
(ngã mạn), ghen tỡ (tật đố) và tham muốn (tham dục). Vì
con người trong cõi Ta-bà phải gánh lấy ba trở ngại nặng
nề này (tam trọng chướng), họ cần được dẫn dắt qua
những thực hành liên hệ đến hoàn cảnh của chính họ.
Đây là công việc của Bồ-tát Phổ Hiền. Vì lý do ấy, ngài
cỡi một con voi trắng, tượng trưng cho sự tu tập Phật giáo
và biểu hiện của sự thanh tịnh. Sáu ngà của con voi trỏ
sự thanh tịnh của sáu quan năng (căn): mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân và ý. Bảy chân của con voi trỏ đến bảy điều xấu
là sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, nói xấu, nói thô
tục và nói hai lưỡi.
Kế đến,
thân thế của con voi và vẻ đẹp của nó được miêu tả
theo nhiều cách khác nhau. Điều này ngầm ý rằng thực hành
giáo lý của đức Phật thì thật là đẹp đẽ và quý giá
biết bao ! Thế rồi đoạn kinh miêu tả một ngọc nữ xuất
hiện trên mỗi hoa sen mọc lên từ các hồ tắm ở chỗ cuối
các ngà voi, cùng với nhiều nhạc khí và chim đủ màu. Đấy
có nghĩa là nếu ai tu tập Phật pháp thì những người chung
quanh tự nhiên cũng sẽ được thanh tịnh.
Một miêu
tả khác nữa là: “Trên vòi voi có một cái hoa, cuống hoa
có màu của viên ngọc đỏ, hoa thì vàng, đang còn búp, chưa
nở”. Đây là tượng trưng cái trạng thái trong đó niềm
tin của người ta chưa trọn vẹn, giống như một búp hoa và
trong đó người ta chưa chứng ngộ. Tuy nhiên, nếu một người
lưu ý đến trạng thái này, sám hối thâm sâu hơn về tội
lỗi của mình và dốc lòng theo hạnh Bồ-tát thì người ấy
sẽ có thể nhìn thấy hoa của niềm tin tự nhiên nở ra và
tỏa sáng sắc vàng. Một vị Hóa Phật được nhìn thấy ngồi
trên đài hoa sen này. Từ giữa đôi mày của vị Hóa Phật,
một tia sáng phát ra rồi nhập vào mắt của con voi, tia sáng
phát ra từ mắt voi rồi vào tai voi, tia sáng phát ra từ tai
voi rồi chiếu lên đầu voi. Đấy là trỏ ý rằng tâm của
đức Phật trú trong từng hành động của người nào thực
hành giáo lý của Ngài.
Thế rồi
biểu cú sau đây xuất hiện: “Trên đầu của voi ấy có
ba Hóa nhân: một vị cầm một bánh xe vàng, một vị cầm
một viên ngọc và một vị cầm một chày kim cương”. Bánh
xe bằng vàng tiêu biểu cho sự lãnh đạo mà một người dùng
để có thể cai quản nhân dân một cách tự tại, viên ngọc
trỏ năng lực của trí tuệ mà một người dùng để có thể
nhận rõ thực tướng của tất cả các sự vật, và chày
kim cương nghĩa là năng lực phê bác các kiến giải sai lầm
mà người ta dùng để có thể tác động mạnh vào kẻ xấu
ác và những tội lỗi của họ. Người nào thực hành giáo
lý của đức Phật thì dần dần sẽ có được các năng lực
này.
“Khi vị
cầm chày giơ chày lên trỏ vào voi thì voi liền cất bước
đi”. Biểu cú này có nghĩa là sự thực hành giáo lý của
một người khởi đầu bằng sự sám hối nhằm ngay vào những
xấu ác và tội lỗi của anh ta. “Voi không dẫm chân lên
đất, nó bay lửng cách mặt đất bảy xích nhưng lại để
lại các dấu chân trên đất, trong các dấu chân ấy đều
có in hình trục bánh xe ngàn căm đầy đủ”. Hình thái tu
từ này dạy ta rằng khi một người tiến đến lý tưởng
của mình (con voi bay lửng trên không), người ấy sẽ thực
sự nhận được những kết quả của sự thực hành đúng
đắn của mình.
“Ở mỗi
dấu trục bánh xe phát sinh một hoa sen lớn, trên hoa sen này
có một hóa tượng. Hóa tượng này cũng có bảy chân, bước
theo sau voi lớn. Mỗi khi hóa tượng nhấc chân hay hạ chân
, bảy ngàn con voi xuất hiện, tất cả đều bước theo sau
voi lớn, làm thành một đoàn tùy tùng”. Đây có nghĩa là
vì một người thực hành Phật pháp, người ấy gây ảnh
hưởng đến nhiều người khác, khiến họ tin giáo lý bằng
cách noi gương những người đi trước họ trong niềm tin.
Đức Phật
dạy tiếp: “Voi bước êm và chậm rải mưa hoa báu lớn,
đến trước hành giả, voi mở miệng, các ngọc nữ đang ở
trong ao tắm trên các ngà voi tấu nhạc ca hát, âm thanh vi diệu,
ca ngợi con đường chân thực độc nhất của Đại thừa”.
Cú ngữ “Ca ngợi con đường chân thực độc nhất của Đại
thừa” có nghĩa là ai tận tụy thực hành giáo lý của đức
Phật thì chắc chắn sẽ đạt chứng ngộ.
“Sau khi
nhìn thấy sự kỳ diệu này, hành giả vui mừng, kính lễ,
lại càng tụng đọc kinh điển thâm sâu, đảnh lễ chư Phật
khắp mười phương, lễ tháp đức Phật Đa Bảo và đức
Phật Thích-ca-mâu-ni, bái lạy Bồ-tát Phổ Hiền và các Đại
Bồ-tát. Hành giả phát nguyện: "Nếu con đủ phước đức
từ các đời trước, chắc chắn con có thể gặp được ngài
Phổ Hiền. Xin đấng Phước lành rộng khắp thị hiện cho
con được thấy sắc thân của ngài"“. Cú ngữ “hành giả
phát nguyện” không chỉ có nghĩa là phát một lời nguyện
mà còn có nghĩa là thể hiện mọi cố gắng có thể có được
để thành tựu lời nguyện ấy.
Những cố
gắng của một người cần phải thực hiện để thành tựu
lời nguyện của mình được nêu trỏ như sau: “Sau khi đã
phát nguyện, hành giả phải ngày đêm sáu thời lễ bái chư
Phật ở mười phương, thực hành pháp môn sám hối, tụng
kinh Đại thừa, đọc kinh Đại thừa, suy nghĩ về ý nghĩa
của Đại thừa, nhớ niệm đến các việc Đại thừa, cung
kính, cúng dường những người thủ trì Đại thừa, nhìn
đến tất cả mọi người như mình đang nghĩ đến Phật,
và đối đãi với các chúng sanh như mình đang nghĩ đến cha
mẹ”. Điều này dạy ta rằng khi một người thực hiện
mọi nỗ lực có thể có được để thành tựu thệ nguyện
của mình thì người ấy sẽ ý thức thâm sâu đến đức
và hạnh cao quý của Bồ-tát Phổ Hiền.
“Khi vị
ấy nghĩ như thế xong, Bồ-tát Phổ Hiền sẽ phóng ngay một
tia sáng từ vòng lông trắng giữa đôi mày tướng của bậc
Đại nhân. Khi tia sáng này xuất hiện, thân tướng của Bồ-tát
Phổ Hiền đoan nghiêm như núi vàng ròng, đoan chính, vi diệu,
đầy đủ ba mươi hai tướng. Các lỗ chân lông trên
thân ngài sẽ phát ra ánh sáng lớn chiếu vào voi lớn ấy
khiến voi có màu của vàng. Tất cả các hóa tượng cũng được
khiến có màu của vàng, và tất cả các Hóa Bồ-tát cũng
được khiến có màu của vàng. Khi các tia sáng này chiếu
vào vô lượng thế giới ở phương Đông, các thế giới này
đều sẽ được khiến có màu của vàng. Cũng vậy, các phương
Nam, Tây, Bắc ở bốn phương ở giữa, các phương trên và
dưới cũng đều như vậy.
“Bấy giờ
tại mỗi phương trong mười phương đều có một Bồ-tát
cỡi trên voi chúa trắng sáu ngà giống như Bồ-tát Phổ Hiền.
Cũng thế, bằng sức thần thông, Bồ-tát Phổ Hiền sẽ có
thể khiến cho người trì kinh Đại thừa nhìn thấy được
các hóa tượng đầy khắp mười phương”.
Đoạn này
trỏ ý rằng một hành động tốt (một hóa tượng) sản sinh
ra nhiều hành động tốt khác nữa (nhiều hóa tượng hơn).
Nhiều hành động tốt gia tăng theo cấp số nhân, cho đến
cuối cùng các thế giới ở mười phương đều đầy cả
hành động tốt. Ý niệm này dạy chúng ta rằng các tín giả
của kinh này có thể đạt được lòng tin vững chắc về
việc thực hiện một xã hội lý tưởng trong thế giới Ta-bà
này.
“Bấy giờ
hành giả sẽ hoan hỷ cả thân và tâm khi nhìn thấy chư Bồ-tát,
sẽ đảnh lễ chư vị và thưa rằng: "Bạch Chư tôn Đại
từ Đại bi, xin hãy thương xót con mà giảng Pháp cho con !"
Khi hành giả ấy thưa như thế, tất cả chư Bồ-tát và các
vị khác tuy khác miệng nhưng sẽ đồng thanh giải thích Pháp
thanh tịnh của các kinh Đại thừa và sẽ nói kệ để tán
thán hành giả ấy. Đây gọi là cảnh giới tối sơ trong quán
niệm đầu tiên về Bồ-tát Phổ Hiền”.
NHÌN
THẤY NGÀI PHỔ HIỀN TRONG MỘNG.
Đức Phật
dạy tiếp: “Bấy giờ hành giả chứng kiến sự việc ấy
xong, một lòng nhớ nghĩ đến Đại thừa, ngày đêm không
xả bỏ, thậm chí cả khi ngủ, người ấy cũng sẽ có thể
trông thấy ngài Phổ Hiền giảng pháp cho mình trong mộng,
giống như khi đang thức vậy. Bồ-tát sẽ an ủy tâm người
ấy, bảo rằng: "Ông đã quên câu này hoặc đã quên kệ này
trong các kinh mà Ông đã tụng, đã trì". Rồi hành giả nghe
được nghĩa thú thâm sâu mà Bồ-tát Phổ Hiền giảng giải,
sẽ hiểu ý nghĩa và trì kinh mà không quên”.
“Trông thấy
ngài Phổ Hiền trong mộng” là một Ẩn dụ thường xuất
hiện trong phẩm này, có hai ý nghĩa.
Thứ nhất,
nó có nghĩa là dù một người đang thức, người ấy cũng
có thể cố gắng một cách có ý thức để trì giữ Đại
thừa trong tâm, khi ngủ người ấy không thể kiểm soát được
tâm mình (cái tâm tiềm thức). Dù cho người ấy muốn có
một giấc mơ nào đó hay quyết định không nói trong giấc
ngủ, người ấy cũng không thể kiểm soát tâm thức và hành
động của mình trong khi ngủ. Tuy nhiên, nếu một người thực
sự đi sâu vào niềm tin của mình, người ấy có thể nhìn
thấy Bồ-tát Phổ Hiền giảng Pháp cho mình dù cả khi người
ấy đang nằm mơ. Vị Bồ-tát này sẽ xuất hiện trước mặt
người ấy trong một giấc mơ và sẽ khích lệ người ấy
rằng: “Ông sẽ có thể đạt đến cấp độ tâm thức của
một vị Bồ-tát”, và sẽ ân cần nhắc nhở người ấy:
“Ông đã quên câu này hay đã hiểu nhầm bài kệ này”.
Thứ hai,
“nhìn thấy ngài Phổ Hiền trong mộng” gợi ý nghĩa sau
đây: một người đã thực sự đi sâu vào niềm tin thì thường
có thể hiểu được chân lý của giáo lý bằng trực giác.
Cú ngữ này trỏ cái trạng thái tâm thức khi đã đạt được
sự khai mở của đức Phật hay khi đã tự mình chứng ngộ.
Tuy nhiên, sự khai mở mà một người đã đạt được từ
đức Phật bằng trực giác cũng giống như một giấc mơ;
nó chưa được cụ thể hóa. Khi người ấy xem xét sự khai
mở ấy một cách kỹ càng và tin rằng chắc chắn đấy là
chân lý được xét từ mọi góc cạnh, thì sự khai mở ấy
sẽ có ích cho người ấy và sẽ là một giáo lý đáng truyền
bá cho những người khác.
Đức Phật
dạy tiếp: “Vì hành giả ngày nào cũng cứ như thế, tâm
người ấy sẽ dần dần được lợi ích. Bồ-tát Phổ Hiền
sẽ khiến hành giả ấy nhớ đến chư Phật ở mười phương.
Theo giáo lý của ngài Phổ Hiền, hành giả sẽ chánh tâm chánh
ý, dần dần với con mắt tâm, hành giả sẽ thấy chư Phật
ở phương Đông thân có màu vàng của vàng và rất đoan nghiêm
vi diệu. Sau khi nhìn thấy một đức Phật, hành giả sẽ lại
nhìn thấy một đức Phật khác. Cứ như thế, vị ấy sẽ
dần dần nhìn thấy tất cả chư Phật khắp phương Đông,
và do tư duy linh lợi, vị ấy sẽ nhìn thấy tất cả chư
Phật ở khắp mười phương”.
Các từ “phương
Đông” và “ở phương Đông” đã xuất hiện khá thường
ở các chương trước của cuốn sách này. Phương Đông là
hướng mặt trời mọc do đó mà ngầm trỏ sự khởi đầu
của mọi sự. Mặt khác, phương Tây là hướng mặt trời
lặn và do đó chỉ sự chấm dứt của mọi sự. Ý niệm
sau phù hợp với sự tin tưởng trong Phật giáo rằng ai niệm
danh hiệu đức Phật A-di-đà với một cái tâm chân thành
thì sẽ có thể tái sinh vào cõi Tịnh Độ ở phương Tây.
Trong phẩm này “nhìn thấy chư Phật ở phương Tây” trỏ
thời gian mà một người vừa khởi sự thực hành một niềm
tin thực sự.
Cú ngữ “Sau
khi nhìn thấy một đức Phật, hành giả sẽ lại nhìn thấy
một đức Phật khác” có nghĩa là dù chân lý là một, tín
giả sẽ có thể nhìn thấy nhiều biểu hiện liên tiếp nếu
vị ấy thể hội một chân lý. Nếu một người có thể nhìn
thấy tất cả chư Phật ở khắp phương Đông, người ấy
sẽ có thể tư duy về mình một cách thuận lợi hơn nhiều
và do đó sẽ có thể nhìn thấy tất cả chư Phật ở mười
phương. Khi người ấy đạt được tâm thái này, niềm hoan
hỷ tâm linh của người ấy sẽ trở nên sâu đậm. Tuy nhiên,
trong câu kế tiếp, đức Phật dạy ta rằng dù cho tín giả
đạt được một tâm thái như vậy, vị ấy cũng chớ nên
thỏa mãn mà cần phải sám hối sâu xa hơn nữa về những
tội lỗi của mình. Qua đó ta hiểu rằng việc thực hành
sám hối chân thực không nên chỉ giới hạn ở sự thú tội.
Sám hối không chỉ gồm việc tẩy rửa Phật tính của ta
cho sạch mà còn phải đánh bóng Phật tính ấy nữa.
Đặc biệt
chúng ta nên thực hành sám hối như thế nào ? Đức Phật
dạy chúng ta nên có thái độ tâm thức sau đây, dù cho đã
đạt tới cái trạng thái tâm thức cao đã nói trên: “Sau
khi thấy chư Phật, vị ấy (hành giả) hoan hỷ trong lòng và
bảo rằng: "Nhờ Đại thừa, ta đã thấy được chư Đại
sĩ. Nhờ sức của chư Đại sĩ, ta đã thấy được chư Phật.
Tuy ta đã thấy chư Phật, nhưng ta vẫn còn chưa thấy chư
Phật thật rõ ràng. Nhắm mắt thì ta thấy chư Phật, nhưng
khi mở mắt ra, ta lại không còn thấy chư Phật". Sau khi bảo
như thế, vị ấy gieo thân xuống đất mà đảnh lễ chư Phật
ở mười
phương.
Đảnh lễ chư Phật xong, vị ấy nên quỳ xuống chắp tay
mà tác bạch: "Bạch chư Phật, Thế Tôn có mười lực, vô
úy, mười tám tính chất đặc biệt, đại từ, đại bi, ba
niệm xứ, là những bậc thường tại ở thế gian, có sắc
tướng tối thượng trong các sắc tướng ! Do con có tội lỗi
gì mà không được nhìn thấy chư Phật ?"“
Câu “Nhắm
mắt thì thấy chư Phật, nhưng khi mở mắt ra, ta lại không
còn thấy chư Phật” diễn ta một kinh nghiệm mà mọi Phật
tử sẽ nhận biết.
MƯỜI
LỰC:
Mười lực
nghĩa là sự lĩnh hội viên mãn trong mười phạm vi của cái
biết mà chỉ có đức Phật mới có được. Các năng lực
này sẽ được giải thích vắn tắt ở đây vì hàng tín giả
của kinh Pháp Hoa hiểu được chúng là một điều rất thiết
yếu. Mười năng lực được gán cho đức Phật là:
1. Năng lực
biết cái đúng và cái sai; 2. Năng lực biết hậu quả của
nghiệp; 3. Năng lực biết tất cả các Thiền định; 5. Năng
lực biết các khả năng cao hay thấp của chúng sanh; 6. Năng
lực biết bản tính và hành động của chúng sanh; 7. Năng
lực biết nguyên nhân và kết quả của chúng sanh trong mọi
cảnh giới; 8. Năng lực biết kết quả của nghiệp trong các
đời quá khứ; 9. Năng lực biết bằng trí siêu phàn, và 10.
Năng lực thoát khỏi mọi sai lầm, hay không thể sai lầm trong
cái biết.
Mười tám
tính chất đặc biệt là mười tám công đức mà chỉ có
đức Phật mới có được. Các tính chất đặc biệt này
là: 1. Không sai lầm về thân thể; 2. Không sai lầm về ngôn
ngữ; 3. Không sai lầm về ý niệm; 4. Không bất định về
tâm; 5. Không có tâm lựa chọn; 6. Nhẫn nhục hoàn toàn; 7.
Kiên trì mong mỏi cứu độ tất cả chúng sanh; 8. Tinh tấn
không giảm; 9. Nhớ nghĩ không giảm về mọi giáo lý của
chư Phật quá khứ, hiện tại và tương lai; 10. Quán niệm
không giảm; 11. Trí tuệ không giảm; 12. Giải thoát không giảm
đối với mọi phiền chướng; 13. Mọi hành động về thân
đều phù hợp với trí tuệ; 14. Mọi hành động và lời nói
phù hợp với trí tuệ; 15. Mọi ý nghĩ phù hợp với trí tuệ;
16. Có trí tuệ không bị ngăn ngại về quá khứ; 17. Có trí
tuệ không bị ngăn ngại về tương lai và 18. Có trí tuệ
không bị ngăn ngại về hiện tại.
Ba loại niệm
xứ nghĩa là những thái độ ổn cố của đức Phật đối
với chúng sanh bằng cách phân ra ba loại: niệm xứ thứ nhất
(Sơ niệm xứ - Sho-nenjo), niệm xứ thứ hai (Nhị niệm xứ
- Ni-nenjo) và niệm xứ thứ ba (Tam niệm xứ - San-nenjo).
Khi chúng
sanh khen ngợi đức độ của Ngài, đức Phật khen ngợi sự
khen ngợi Ngài của họ chứ không phải khen ngợi sự việc
Ngài được khen ngợi. Thái độ này là niệm xứ thứ nhất.
Khi có ai phỉ báng hay lăng mạ Ngài, đức Phật không bao giờ
cảm thấy buồn khổ về một người như vậy hay giận dỗi
người ấy vì Ngài đang bị sỉ nhục. Với lòng từ bi sâu
đậm, Ngài thực sự thương xót người ấy. Thái độ này
là niệm xứ thứ hai. Một số người trong số các chúng
sanh đông đảo quy hướng Phật pháp, nhưng những người khác
thì không như thế. Đức Phật không bao giờ phân biệt hai
loại chúng sanh này mà đều có lòng từ bi ngang bằng đối
với họ vì tất cả họ đều có Phật tính. Thái độ đối
xử không phân biệt này đối với họ là niệm xứ thứ ba.
Ba thái độ này chỉ có đức Phật mới có, nhưng chúng ta
phải theo gương đức Phật khi chúng ta quảng bá giáo lý củaNgài.
Đức Phật
dạy tiếp: “Tác bạch như thế xong, hành giả lại càng sám
hối nhiều hơn. Sau khi người ấy thành tựu sự thanh tịnh
của sám hối, Bồ tát Phổ Hiền lại sẽ xuất hiện trước
mặt người ấy và luôn ở bên cạnh người ấy, thậm chí
sẽ còn thuyết Pháp cho người ấy khi người ấy đang nằm
mơ. Sau khi tỉnh giấc, người ấy sẽ được sự hỷ lạc
về Pháp. Cứ như thế, sau ba lần bảy ngày đêm, người ấy
sẽ đắc đà-la-ni Triền. Nhờ đạt được đà-la-ni, người
ấy sẽ giữ mãi trong trí óc mà không quên Diệu pháp mà chư
Phật và chư Bồ-tát đã giảng. Trong những giấc mơ, người
ấy sẽ luôn nhìn thấy bảy vị Phật của quá khứ, trong
đó chỉ riêng đức Phật Thích-ca-mâu-ni sẽ giảng Pháp cho
người ấy. Chư Thế Tôn này đều xưng tán kinh điển Đại
thừa. Bấy giờ hành giả lại sám hối(1) thêm nữa và lễ
bái chư Phật ở khắp mười phương. Sau khi người ấy lễ
bái chư Phật ở mười phương, Bồ-tát Phổ Hiền đứng trước
mặt người ấy, sẽ giảng dạy người ấy về tất cả nghiệp
và duyên của các đời trước của người ấy, và sẽ khiến
người ấy phát lộ tất cả các tội lỗi hắc ám, xấu ác
đã mắc phải. Hướng đến chư Thế Tôn, người ấy cần
phải tự miệng mình phát lộ các tội lỗi của mình”.
CHỈ
RIÊNG ĐỨC PHẬT THÍCH-CA-MÂU-NI GIẢNG PHÁP.
Một biểu
cú rất quan trọng xuất hiện trong đoạn trên: “Trong những
giấc mơ, người ấy sẽ luôn nhìn thấy bảy vị Phật của
quá khứ, trong đó chỉ riêng đức Phật Thích-ca-mâu-ni sẽ
giảng pháp cho người ấy”. Quả thực rằng tất cả chư
Phật đời quá khứ đều tối cao, nhưng trong chư vị chỉ
riêng đức Phật Thích-ca-mâu-ni thuyết giảng giáo lý của
Ngài cho chúng ta ở thế giới Ta-bà này. Nhờ giáo lý này,
chúng ta có thể biết cái chân lý đã tồn tại bất biến
từ thời quá khứ vô thỉ. Do đó, chúng ta chỉ quy y đức
Phật Thích-ca-mâu-ni; qua đó, chúng ta cũng quy y chư Phật khác
(những biểu hiện khác nhau của chân lý).
Nhìn thấy
đức Phật trong những giấc mơ của mình nghĩa là người
ta đạt được một ý thức mơ hồ về sự hiện hữu cùng
với chư Phật, người ta còn cảm thấy lòng hoan hỷ nhiều
hơn và bái lạy chư Phật ở khắp mười phương. Thế rồi
Bồ-tát Phổ Hiền sẽ hiện ra trước mặt hành giả và sẽ
bảo với người ấy rằng người ấy đã có thể nhìn thấy
chư Phật nhờ tất cả các nhiệp và duyên trong các đời
trước và sẽ khiến người ấy phát lộ các tội lỗi của
mình. Thế có nghĩa là tín giả biết rõ các tội lỗi của
chính mình nhờ Bồ-tát Phổ Hiền. Đây là sự sám hối mà
người ta thể hiện trước chư Phật. Biểu cú “Người ấy
cần phải tự miệng mình phát lộ các tội lỗi của mình”
trỏ sự sám hối mà người ấy thể hiện trong tâm thức.
Đức Phật
dạy tiếp: “Sau khi đã phát lộ tội lỗi của mình, người
ấy sẽ đạt được tam-muội Chư Phật hiện tiền(1). Đạt
tam-muội này xong, người ấy sẽ nhìn thấy đức Phật A-súc
(Akshobhya) và quốc độ Diệu Hỷ của Ngài ở phương Đông
một cách rõ ràng, tinh tường. Cũng như thế, người ấy sẽ
nhìn thấy rõ ràng, tinh tường các quốc độ kỳ diệu của
chư Phật ở mười phương. Sau khi đã nhìn thấy chư Phật
ở mười phương, người ấy sẽ nằm mơ thất rằng: một
vị Kim cang
cỡi trên đầu voi dùng chày kim cang trỏ vào sáu căn (sáu
quan năng). Trỏ vào sáu căn xong, Bồ-tát Phổ Hiền sẽ giảng
cho hành giả cách sám hối để có được sự thanh tịnh của
sáu căn. Vị ấy sám hối như vậy trong một ngày hoặc ba
lần bảy ngày. Sau đó, nhờ sức tam-muội Chư Phật hiện
tiền và nhờ sự trang nghiêm của sự việc Bồ-tát Phổ Hiền
thuyết pháp, tai của hành giả dần dần nghe được các âm
thanh mà không bị chướng ngại, và
mũi sẽ
dần dần ngửi được các mùi mà không bị chướng ngại.
Đây được giảng rộng như ở kinh Diệu Pháp Liên Hoa(1).
Sau khi đạt được sự thanh tịnh của sáu căn, người ấy
có được sự hoan hỷ về thân và tâm, không có các tướng
xấu ác, tâm thuần Pháp này, tương hợp với Pháp này. Người
ấy lại sẽ đạt thêm trăm ngàn vạn ức đà-la-ni Triền
và sẽ được rộng thấy trăm ngàn vạn ức vô lượng chư
Phật. Các đức Thế Tôn này đều dùng tay phải mà xoa đầu
hành giả và dạy rằng: "Hay thay ! Hay thay ! Ông là một hành
giả của Đại thừa, một người phát tâm đại trang nghiêm
và là một người trì giữ Đại thừa trong tâm. Ngày xưa
khi chúng ta phát tâm Bồ-đề, chúng ta cũng giống như Ông
vậy, chuyên cần, không bỏ bê. Do đã thực hành Đại thừa
trong các đời trước nên nay chúng ta thành tựu thân thanh
tịnh chánh biến tri. Nay Ông hãy chăm chỉ tu tập, chơù biếng
lười. Các kinh Đại thừa này là kho báu của chư
Phật, là
mắt của chư Phật ở mười phương trong quá khứ, hiện tại
và tương lai và cũng là hạt giống sản sinh ra chư Phật trong
ba đời ấy. Người trì các kinh này chính là trì thân của
Phật, làm việc của Phật. Nên biết rằng người ấy chính
là sứ đồ của chư Phật, được khoác áo của chư Phật,
chư Thế Tôn, là pháp tử quý của chư Phật, chư Thế Tôn.
Ông hãy thực hành Đại thừa và chớ cắt đứt hạt giống
Pháp. Nay Ông hãy quán kỹ chư Phật ở phương Đông !"“
“Khi chư
Phật dạy như thế, hành giả liền thấy tất cả vô lượng
thế giới ở phương Đông, đất bằng phẳng như bàn tay,
không có gò, đồi hay gai góc, trái lại, đất bằng lưu ly
và đường lát vàng. Các thế giới ở mười phương cũng
lại như thế. Sau khi đã chứng kiến sự việc này, hành giả
sẽ nhìn thấy một cây báu, cây cao quý, kỳ diệu, cao năm
ngàn do- tuần. Cây này luôn sản sinh vàng ròng và ngọc trắng
và sẽ được trang hoàng bằng bảy báu; dưới cây tự nhiên
có một tòa sư tử, tòa sư tử ấy cao hai ngàn do-tuần và
trên tòa phát ra ánh sáng của trăm thứ báu. Cũng như vậy,
từ tất cả các cây đều có các tòa báu và mỗi tòa báu
đều có phát ra ánh sáng của trăm thứ báu. Cũng như vậy,
từ tất cả các cây, có các tòa báu khác và mỗi tòa báu
sẽ lộ ra năm trăm con voi trắng trên đó tất cả Bồ-tát
Phổ Hiền ngồi cỡi”.
Chày kim cang
là một loại vũ khí vốn được dùng ở Ấn Độ cổ. Trong
Phật giáo, nó được xem là một biểu tượng của tâm Bồ-đề
vì nó có thể đoạn diệt tất cả các lậu hoặc và tà kiến.
Do đó, cú ngữ “trỏ chày kim cang vào sáu căn” trỏ cái
năng lực của tín giả nhằm đoạn trừ sự ô nhiễm của
sáu căn của người ấy, nó minh chứng sự kiện tâm người
ấy chuyển đến sự sám hối. Biểu cú “Bồ-tát Phổ Hiền
sẽ giảng cho hành giả, cách sám hối để có được sự
thanh tịnh của sáu căn” có nghĩa là thông qua sự thực hành
sám hối, hành giả có thể biết mình được thanh tịnh về
thân và tâm.
Một biểu
cú đáng chú ý khác là: “Khi chư Phật dạy như thế, hành
giả liền thấy tất cả vô lượng thế giới ở phương Đông...”
Đây muốn bảo rằng nếu ai thâm hiểu Thánh tính của Phật
pháp và việc giảng Phật pháp (cây báu và đài báu), và nếu
Phật pháp được giảng rộng khắp thì tất cả mọi người,
xã hội và toàn thế giới sẽ trở nên đẹp đẽ.
“Bấy giờ
hành giả lễ bái tất cả chư Phổ Hiền và nên bảo rằng:
"Con có tội lỗi gì mà chỉ thấy được đất báu, đài báu
và cây báu nhưng không thấy được chư Phật ?"“
Trong đoạn
trước đây có cú ngữ sau: “Do tư duy linh lợi, vị ấy sẽ
nhìn thấy tất cả chư Phật ở khắp mười phương”. Người
đọc có thể nghĩ rằng ở đây mâu thuẫn với câu: “Con
có tội lỗi gì .... không thấy được chư Phật ?”, nhưng
thật ra cả hai chỗ không phải là không nhất quán. Dù cho
một người nhận thức mạnh mẽ được rằng mình hiện hữu
cùng với đức Phật, nhưng nếu người ấy chưa đạt được
cấp độ tâm thức của một vị Bồ-tát thì nhận thức này
sẽ phai mờ ngay khi có cái gì đó xâm chiếm sự chú tâm của
người ấy và làm người ấy xao lãng.
“Khi tác
bạch như thế xong, hành giả sẽ thấy rằng trên mỗi tòa
báu đều có một đức Thế Tôn đang ngồi đoan nghiêm, vi
diệu. Nhìn thấy chư Phật xong, hành giả sẽ rất vui mừng,
lại càng tụng đọc và tu tập các kinh điển Đại thừa.
Do năng lực của Đại thừa, từ không trung có tiếng ca ngợi
rằng: "Hay thay ! Hay thay ! Thiện nam tử ! Do công đức thực
hành Đại thừa nên Ông có thể nhìn thấy được chư Phật.
Nay tuy Ông đã có thể nhìn thấy chư Phật, Thế Tôn, nhưng
Ông chưa thể nhìn thấy đức Phật Thích-ca-mâu-ni, chưa thể
nhìn thấy chư Phật phân thân từ Ngài và tháp của đức
Phật Đa Bảo." Sau khi nghe tiếng ấy từ không trung phát ra,
hành giả sẽ lại càng tụng đọc và tu tập các kinh điển
Đại thừa. Do tụng đọc và tu tập các kinh Đại thừa phương
quảng nên ngay cả trong các giấc mơ, người ấy cũng sẽ
thấy đức Phật Thích-ca-mâu-ni đang ở tại núi Kỳ-xà-quật
cùng với đại chúng, thuyết giảng kinh Pháp Hoa, diễn giải
ý nghĩa của cái chân thật duy nhất. Sau khi nghe giảng về
sám hối và khát khao mong mỏi được nhìn thấy đức Phật,
người ấy cần chắp tay, quỳ xuống hướng về núi Kỳ-xà-quật
và tác bạch: "Bạch đức Như Lai, đấng Đại hùng của thế
gian, thường tại thế gian ! Xin rũ lòng thương xót con mà
hiện thân cho con được trông thấy"“.
Độc giả
có thể tự hỏi tại sao hành giả lại bảo “Xin... hiện
thân cho con được trông thấy” dù đã có sự tuyên bố rằng:
“Ngay cả
trong các giấc mơ, người ấy cũng sẽ thấy đức Phật Thích-ca-mâu-ni
đang ở tại núi Kỳ-xà-quật”. Sở dĩ như thế là vì hành
giả muốn nắm chắc cái ý định thực sự của đức Phật
rõ ràng và thâm sâu hơn. Khi suy nghĩ như thế và hình dung
núi Kỳ-xà-quật cho mình, người ấy có thể thấy cảnh đẹp
sau đây:
“Tác bạch
như thế xong, người ấy sẽ thấy núi Kỳ-xà-quật được
trang hoàng bằng bảy thứ báu và đầy cả vô số Tỳ-kheo,
Thanh văn và một đại chúng; nơi này có các cây báu xếp
thành hàng và đất báu thì bằng phẳng, có một tòa sư tử
quý báu và vi diệu. Trên tòa có đức Phật Thích-ca-mâu-ni
phóng ánh sáng giữa đôi mày chiếu sáng khắp suốt mọi thế
giới ở mười phương và xuyên suốt vô lượng thế giới
ở mười phương. Chư Phật phân thân từ đức Phật Thích-ca-mâu-ni
ở mười phương mà ánh sáng ấy chiếu đến vân tập lại
cùng một lúc và rộng giảng Diệu pháp như được nêu trong
kinh Diệu Pháp Liên Hoa(1). Mỗi vị Phật Phân thân này có
thân vàng ròng, thân hình lớn vô biên, ngồi trên tòa sư tử
được trăm ức vô lượng đại Bồ-tát làm quyến thuộc.
Các vị Bồ-tát này có hạnh giống như hạnh của ngài Phổ
Hiền. Quyến thuộc của vô lượng chư Phật, chư Bồ-tát
ở mười phương cũng như vậy. Khi đại chúng đã vân tập,
chư vị sẽ thấy đức Phật Thích-ca-mâu-ni phóng các tia sáng
có màu của vàng từ các lỗ chân lông trên toàn thân Ngài;
trong mỗi tia sáng này đều có một trăm ức Hóa Phật. Chư
Phật Phân thân sẽ phóng các tia sáng từ chòm lông trắng,
tướng của bậc Đại nhân; các tia này lưu chuyển vào đỉnh
đầu đức Phật Thích-ca-mâu-ni. Chứng kiến cảnh trạng này,
chư Phật Phân thân cũng sẽ phóng các tia sáng có màu sắc
của vàng từ các lỗ chân lông trên thân chư vị; trong mỗi
tia sáng có các vị Hóa Phật nhiều như bụi cát sông Hằng”.
Đoạn trên
chứa đựng bốn sự miêu tả quan trọng. Thứ nhất, chư Phật
hóa thân từ đức Phật Thích-ca-mâu-ni được nhìn thấy qua
một tia sáng phát ta từ đôi mày của đức Phật. Như thế
nghĩa là nếu một người quy y Phật pháp, tâm người ấy
sẽ thông hội với tâm của tất cả chư Phật; nói một cách
khác, nếu người ấy lĩnh hội chân lý mà đức Phật Thích-ca-mâu-ni
dạy thì người ấy sẽ hiểu được ý nghĩa chân thực của
mọi giáo lý. Thứ hai, chư Phật hóa thân từ đức Phật
Thích-ca-mâu-ni giảng cùng một Pháp như Pháp được giảng
trong kinh Pháp Hoa. Điều này chứng tỏ rằng hết thảy mọi
giáo lý đều thống nhất vào kinh Pháp Hoa. Thứ ba, sự tu
tập của mỗi vị trong vô lượng trăm ức đại Bồ-tát đều
giống như sự tu tập của Bồ-tát Phổ Hiền. Điều này nghĩa
là Thánh tính của một vị Bồ-tát vốn có trước mọi thứ
trong sự tu tập của ngài. Thứ tư, khi những tia sáng phát
ra từ những đôi mày của chư Phật Phân thân lưu chuyển
vào đỉnh đầu của đức Phật Thích-ca-mâu-ni, chư Phật
Phân thân phóng các tia sáng từ khắp các lỗ chân lông của
chư vị và trong mỗi tia sáng có vô số chư Hóa Phật. Điều
này có nghĩa là Phật pháp quảng bá không giới hạn. Ánh
sáng của chân lý chiếu đến mọi nơi, và tất cả những
gì phù hợp với chân lý sáng ngời lên do ánh sáng phản chiếu
của chân lý. Nhưng những gì bao phủ chân lý bằng ảo tưởng
và tội lỗi sẽ không sáng lên dù cho những thứ này có nhận
ánh sáng phản chiếu của chân lý. Do đó khi nào một người
gỡ bỏ các ảo tưởng và tội lỗi khỏi tâm mình nhờ thực
hành sám hối thì khi ấy người ấy vẫn còn căn bản tâm
linh.
“Bấy giờ
Bồ-tát Phổ Hiền sẽ lại phóng ánh sáng, tướng của bậc
Đại nhân, từ giữa đôi mày ngài, đưa vào tâm của hành
giả. Sau khi ánh sáng này vào tâm hành giả, người này
sẽ nhớ lại trong thời của vô lượng trăm ngàn đức Phật
trong quá khứ, người ấy đã thọ trì, tụng đọc kinh Đại
thừa và người ấy sẽ thấy rõ ràng tinh tường các đời
trước của mình, chẳng khác gì người ấy đã có các thần
thông như túc mạng thông(1) Khoát nhiên đại ngộ, người
ấy sẽ đắc đà-la-ni Triền và trăm ngàn vạn ức đà-la-ni”.
“Khoát nhiên
đại ngộ”, không có nghĩa là chúng ta có thể chấm dứt
ngay việc thực hành sám hối. Không gì có thể vượt xa hơn
chân lý. Dù cho chúng ta có tự tin rằng mình đã chứng ngộ,
cũng vẫn có sự khác biệt rất lớn giữa sự chứng ngộ
của đức Phật và sự chứng ngộ của chúng ta. Do đó, chúng
ta không được bỏ qua sự thực hành đánh bóng Phật tính
của chúng ta chừng nào chúng ta còn sống.
(1) Túc mạng
thông: một trong sáu thần thông. Đây là những năng lực kỳ
diệu của đức Phật và các A-la-hán, đạt được do Thiền
định và trí tuệ.
SÁU
ĐỐI TƯỢNG TƯ DUY.
Đức Phật
dạy tiếp: “Xuất khỏi định, người ấy sẽ thấy trước
mặt mình có tất cả các đức Phật Phân thân đang ngồi
trên các tòa sư tử dưới các cây báu.
Người ấy
cũng sẽ thấy đất lưu ly từ hư không phía dưới vọt lên
giống như những khóm sen; giữa mỗi hoa, có chư Bồ-tát nhiều
như bụi nhỏ đang ngồi kiết-già. Người ấy cũng sẽ thấy
chư Bồ-tát phân thân từ Bồ-tát Phổ Hiền đang ca ngợi
Đại thừa trong chúng hội của chư vị.
“Bấy giờ
chư Bồ-tát mỗi người một miệng nhưng đồng thanh âm sẽ
khiến hành giả thanh tịnh sáu căn. Có vị sẽ bảo rằng:
"Ông nên niệm Phật"; có vị sẽ bảo: "Ông nên niệm Pháp”;
có vị sẽ bảo: "Ông nên niệm Tăng"; có vị sẽ bảo: "Ông
nên niệm Giới"; có vị sẽ bảo: "Ông nên niệm Thí"; có
vị sẽ bảo:"Ông nên niệm Thiên". Và chư Bồ-tát sẽ giảng
thêm rằng: "Sáu pháp này là tâm Bồ-đề, là những pháp sinh
ra chư Bồ-tát.Nay trước mặt chư Phật, Ông nên phát lộ
các tội lỗi đã phạm trước kia và chí thành sám hối"“.
Ở đây chư
Bồ-tát dạy cho hành giả phải làm gì để thanh tịnh sáu
căn của mình. Điều này có nghĩa là người ấy xem xét và
tư duy về sự bất toàn của mình khi so sánh sự tu tập của
mình với sự tu tập của chư Bồ-tát như được kể trong
các kinh điển Đại thừa. Đây được xem như âm thanh vang
đến từ trên trời. Âm thanh thứ nhất bảo hành giả: “Ông
nên niệm Phật”. Âm thanh này bảo vị ấy: “Ông tự tin
rằng đã quy y Phật nhưng sự quy y của ông chưa trọn vẹn.
Ông sẽ chẳng phải là một tín giả chân chính nếu như Ông
không nỗ lực thật nhiều hơn nữa để kính lễ đức Phật”.
Một âm thanh khác bảo hành giả: “Ông nên niệm Pháp”.
Âm thanh này bảo vị ấy: “Ông tự hãnh diện rằng Ông tinh
cần đến nỗi đã hoàn toàn hiểu Phật pháp ư ? Ông không
tự kiêu khi nghĩ như thế chứ ? Phật pháp rất thâm sâu.
Nếu Ông không nghiên cứu và không hiểu Phật pháp một cách
thâm sâu thì thực sự Ông chẳng hiểu Phật pháp”.
Tuy thế,
một âm thành khác lại bảo hành giả: “Ông nên niệm Tăng”.
Âm thanh này chỉ trích vị ấy: “Sự thống nhất và hòa
hợp của các tín giả là tuyệt đối cần thiết để quảng
bá Phật pháp trên đời này. Ông đã nỗ lực thể hiện hai
điều thiết yếu này đối với Tăng-già chưa ? Sự nỗ lực
của Ông đã đủ chưa ?
Ông phải
gỡ bỏ tính tự kỷ ra khỏi tâm Ông và tận tụy đối với
cộng đồng các tín hữu”.
Một âm thanh
khác hỏi xem hành giả có giữ giới luật mà đức Phật đã
trao hay không; trong khi một âm thanh khác hỏi hành giả đã
đạt được cấp độ tâm thức của chư Thiên chưa, đấy
là cấp độ tự tại đối với ảo tưởng và khổ đau.
Những âm
thanh khác nữa thì bảo rằng hành giả sẽ đạt ngộ khi vị
ấy thành tựu viên mãn sáu điều tiên quyết - Phật, Pháp,
Tăng, Giới, Thí (bố thí), và Thiên (chư Thiên) - và rằng
việc thực hành sáu điều tiên quyết này là cách để trở
thành một vị Bồ-tát. Do đó, hành giả phải phát lộ sự
bất toàn của mình trước chư Phật và chân thành sám hối.
CÁC
TỘI LỖI VỀ MẮT
Cái tinh thần
sám hối mà hành giả phải duy trì được nêu rõ trong đoạn
sau đây: “Trong vô lượng đời trước, do nhãn căn (mắt),
ông đã tham trước các sắc tướng. Do tham trước các sắc
tướng, ông tham ái các bụi trần.(1) Do tham ái các bụi trần,
Ông mang thân của người nữ và đắm mình vào sắc tướng
khắp mọi chốn mà Ông thọ sinh từ đời này sang đời khác.
Sắc tướng làm hại mắt Ông, khiến Ông trở thành kẻ nô
lệ của ân ái. Do đó mà sắc tưởng làm cho Ông lang thang
khắp ba cõi. Điều tệ hại này khiến cho Ông mù quáng chẳng
thấy gì cả. Nay Ông đã tụng các kinh Phương quảng Đại
thừa. Trong các kinh này, chư Phật ở mười phương giảng
rằng sắc thân của chư vị là bất diệt. Nay Ông đã có
thể nhìn thấy được chư vị ấy - chẳng thực như thế
sao ?
Nhãn căn
xấu ác thường gây hại nhiều cho Ông. Vâng theo lời ta, Ông
phải quy y chư Phật và đức Phật Thích-ca-mâu-ni và phát
lộ các tội lỗi do mắt gây nên: "Pháp thủy của tuệ nhãn
của chư Phật và chư Bồ-tát ! Xin dùng nước của Pháp này
mà rửa sạch con, khiến con được thanh tịnh !".
“Sau khi
nói như thế, hành giả phải bái lạy khắp chư Phật ở mười
phương, hướng về đức Phật Thích-ca-mâu-ni và các kinh điển
Đại thừa rồi nói rằng:
"Các trọng
tội thuộc nhãn căn con mà nay con sám hối là những chướng
ngại và ô uế đến nỗi làm cho con mù quáng không thể thấy
được gì cả. xin đức Phật đại từ bi thương xót và che
chở con ! Xin Bồ-tát Phổ Hiền trên thuyền Đại pháp cứu
độ khắp tất cả, cùng vô lượng Bồ-tát ở mười phương
của ngài, thương xót mà hãy cho con nghe pháp sám hối các
tội lỗi xấu ác nghiệp chướng !". “Nói như thế ba lần,
hành giả phải sụp dưới đất, chánh niệm Đại thừa tâm
không bỏ quên. Đây gọi là pháp sám hối tội lỗi về mắt.
Nếu có ai xưng danh chư Phật, đốt hương, rải hoa, phát ý
Đại thừa, treo lụa, phướn, lọng nói lên những lầm lỗi
của mắt, sám hối tội lỗi của mình thì người ấy ngay
trong đời hiện tại sẽ nhìn thấy đức Phật Thích-ca-mâu-ni
và vô lượng đức Phật phân thân từ Ngài, suốt a-tăng-kỳ
kiếp sẽ không bị rơi vào đường ác. Nhờ năng lực và
hạnh nguyện của Đại thừa, người ấy sẽ trở thành quyến
thuộc của chư Phật cùng với hết thảy chư Bồ-tát đà-la-ni.
Ai tư duy như thế người ấy là người có chánh niệm. Nếu
ai tư duy khác đi thì gọi là người có tà niệm. Đây là
tướng trạng của giai đoạn thứ nhất của sự thanh tịnh
nhãn căn.”
Kế đến,
đức Phật dạy hành giả không nên bằng lòng với sự thanh
tịnh nhãn căn mà phải thực hành sám hối nhiều hơn nữa.
Đức Phật nêu rõ người ấy phải làm thế nào qua đoạn
sau đây: “Sau khi thanh tịnh nhãn căn, hành giả phải nên
đọc tụng các kinh Đại thừa nhiều hơn nữa, ngày đêm sáu
thời quỳ mà sám hối và nên bảo rằng: "Tại sao ta chỉ
trông thấy đức Phật Thích-ca-mâu-ni và chư Phật phân thân
từ Ngài mà lại không thể trông thấy xá-lợi của toàn thân
đức Phật trong tháp của đức Phật Đa Bảo ? Tháp của đức
Phật Đa Bảo vẫn mãi tồn tại không bị hủy diệt. Ta vì
có mắt dơ bẩn xấu ác nên không thể nhìn thấy tháp ấy".
Sau khi nói như thế, hành giả lại cần phải thực hành sám
hối thêm nữa”.
Như được
giảng ở phẩm 11 của kinh Pháp Hoa, đức Phật Đa Bảo xuất
hiện để chứng nhận rằng tất cả những gì đức Như Lai
Thích-ca-mâu-ni nói đều đúng thực. Do đó, hành giả phải
kiên quyết đối với tự mình và chớ dối mình. Nếu người
ấy chưa hiểu đầy đủ một giáo lý nào trong các giáo lý
của đức Phật, người ấy phải tự phê phán mình và phải
ân hận về sự thiếu sót ấy của mình. Sau bảy ngày, sám
hối của người ấy sẽ được đền đáp như sau:
“Sau bảy
ngày, tháp của đức Phật Đa Bảo sẽ từ đất vọt lên.
Đức Phật Thích-ca-mâu-ni sẽ dùng tay phải mở cửa tháp,
trong tháp có đức Phật Đa Bảo nhập tam-muội Phổ hiện
sắc thân. Từ mỗi lỗ chân lông của Ngài phát ra những tia
sáng nhiều như bụi của cát sông Hằng. Trong mỗi tia
sáng có trăm ngàn vạn ức vị Hóa Phật. Khi tướng trạng
ấy xuất hiện, hành giả sẽ vui mừng, nói kệ ca ngợi mà
nhiễu quanh tháp bảy lần. Khi người ấy đã đi quanh
tháp bảy lần, đức Như Lai Đa Bảo cất tiếng ca ngợi người
ấy: "Này Pháp tử, nay quả thật Ông đã thực hành được
Đại thừa và đã vâng theo ngài Phổ Hiền mà sám hối các
tội lỗi về nhãn căn. Vì lý do ấy, ta đến đây mà chứng
minh cho Ông". Nói thế xong, đức Như Lai Đa bảo ca ngợi: "Hay
thay ! Hay thay ! Đức Phật Thích-ca-mâu-ni ! Ngài có thể thuyết
giảng Đại pháp, tưới mưa Đại pháp, khiến cho mọi chúng
sanh bị ô nhiễm thành tựu Phật tính của họ". Bấy giờ
hành giả sau khi nhìn thấy tháp của đức Phật Đa Bảo, lại
đến chỗ Bồ-tát Phổ Hiền, chấp tay kính lễ mà tác bạch:
"Bạch Đại sư! Xin ngài chỉ dạy cho con sám hối các lỗi
lầm".
“Tam-muội
Phổ hiện sắc thân” nghĩa là phép Thiền định trong đó
thân thể hay sắc tướng của đức Phật Đa Bảo xuất hiện
khắp nơi. Biểu này dạy ta rằng nếu ta đạt đến giai đoạn
thể nghiệm hoàn toàn chân lý tuyệt đối của Phật pháp
thì ta có thể nhìn thấy đức Phật Đa Bảo bất cứ lúc
nào.
CÁC
TỘI LỖI VỀ TAI.
Đức Phật
dạy tiếp: “Ngài Phổ Hiền lại bảo hành giả: "Trải qua
nhiều kiếp, do bởi nhĩ căn (tai), Ông cứ đeo đuổi âm thanh
bên ngoài, khi Ông nghe được âm thanh vi diệu thì tâm sinh
cảm luyến, khi Ông nghe âm thanh xấu ác thì tâm khởi lên
một trăm lẻ tám phiền não. Hậu quả ấy của sự việc
Ông nghe các âm thanh xấu ác tạo ra các điều xấu ác và
việc Ông cứ mãi nghe các âm thanh xấu ác sản sinh nhiều
phiền toái khác nhau. Do sự nghe điên đảo của Ông, Ông sẽ
rơi vào các đường xấu, vào các nơi xa xôi đầy tà kiến,
tại đấy người ta không thể nghe được Chánh pháp. Ngày
nay, Ông đã tụng và trì Đại thừa vốn là kho biển chứa
các công đức. Do như vậy, Ông đã trông thấy chư Phật ở
mười phương và tháp của đức Phật Đa Bảo xuất hiện
đã xác chứng cho Ông. Ông phải tự mình thố lộ những sai
lầm, những thứ xấu ác của chính Ông và phải sám hối
tất cả tội lỗi của Ông"“.
Sự khuyên
bảo tốt lành cho mọi người được bao gồm trong đoạn trên.
Những người bình thường có cái khuynh hướng đáng tiếc
là lấy làm khó chịu về những gì người khác nói. Tệ nhất
là thói quen này biểu lộ trong câu chuyện tầm phào. Khi ta
diễn dịch những gì người khác nói mà ta không tán đồng
thì ta sẽ bị ám ảnh bởi thành kiến và ấp ủ cái tinh
thần thù hận. Ta phải hết sức cẩn thận để ngăn chặn
thói quen như thế trong đời sống hàng ngày của ta.
“Khi hành
giả nghe như vậy thì phải càng nên chắp tay, rạp mình xuống
đất mà lễ bái và bạch: “Bạch đức Thế Tôn Chánh Biến
Tri ! Xin Ngài hiện thân mà chứng minh cho con ! Các kinh Phương
Đẳng là những vị chủ đạo về từ bi. Xin Ngài quán xét
con mà nghe những lời nói của con!"“. Câu “Các kinh Phương
Đẳng là những vị chủ của từ bi” là quan trọng nhất.
Nó trỏ ý rằng giáo lý Đại thừa là những vị chủ đạo
về từ bi, rằng giáo lý này là nền tảng của sự thực
hành từ bi. Người ta không thể thực sự nêu cao tinh thần
từ bi và thể hiện những hành động từ bi nếu người ta
không hiểu rằng tất cả mọi người đều có Phật tính.
“"Con từ
nhiều kiếp đến nay, do bởi nhĩ căn của con, con đã bị
ràng buộc vào các âm thanh xấu ác, giống như keo dính vào
cỏ; sự việc con nghe các âm thành xấu ác tạo ra chất độc
phiền não ràng buộc với mọi hoàn cảnh và con không thể
ngưng nghỉ trong phút chốc nào được; sự việc con tạo nên
các âm thanh xấu ác làm mệt mỏi tinh thần con và khiến con
rơi vào ba đường xấu ác. Nay con mới hiểu được điều
ấy, con xin hướng đến chư Thế Tôn mà phát lộ và sám hối".
Sau khi sám hối như thế, hành giả sẽ thấy đức Phật Đa
Bảo phóng một tia sáng lớn có màu của vàng chiếu khắp
phương Đông cũng như khắp thế giới ở mười phương, tại
đấy vô lượng chư Phật xuất hiện với thân có màu vàng
ròng. Ở phương Đông, trên không trung có tiếng vang lên:
"Đây là
một vị Phật, hiệu là Thiện Đức, cũng có vô số Phật
Phân thân đang ngồi kiết-già trên các tòa sư tử dưới các
cây báu. Tất cả các đức Thế Tôn ấy nhập vào tam-muội
Phổ hiện sắc thân, đều nói lời tán thán hành giả rằng:
"Hay thay ! Hay thay! Thiện nam tử ! Nay Ông đã đọc tụng các
kinh điển Đại thừa, những gì Ông đã tụng là cảnh giới
của Phật"“.
Sau khi sám
hối như thế, hành giả càng thanh tịnh thân mình nhiều hơn
và biết chắc được rằng mình đang theo con đường đưa
đến cảnh giới tâm linh của một vị Phật. Bồ-tát Phổ
Hiền khuyến khích hành giả thực hành sám hối nhiều hơn
nữa: “Sau khi những lời ấy được nói lên, Bồ-tát Phổ
Hiền sẽ lại giảng thêm cho hành giả về pháp sám hối:
"Trong vô
lượng đời trước của Ông, do Ông tham trước vào các mùi
hương nên sự phân biệt và nhận thức của Ông bị ràng
buộc vào mọi hoàn cảnh và Ông bị rơi vào sinh tử. Nay Ông
nên quán về nguyên nhân của Đại thừa ! Nguyên nhân của
Đại thừa là thực tướng của các pháp".
“Nghe được
như thế, hành giả cần phải sụp mình xuống đất mà sám
hối nhiều hơn nữa. Sau khi sám hối, người ấy nên tác bạch
rằng: "Nam-mô Thích-ca-mâu-ni Phật ! Nam-mô Đa Bảo Phật Tháp
! Nam-mô Thập phương Thích-ca-mâu-ni Phật Phân thân chư Phật
!(1)" Sau khi tác bạch như thế, vị ấy cần lễ bái khắp
chư Phật ở mười phương: "Nam-mô Đông phương Phổ Đức
Phật" và đảnh lễ chư Phật phân thân từ đức Phật Phổ
Đức. Hành giả phải dốc lòng lễ bái chư Phật ấy như
chính mắt mình đang nhìn thấy chư vị và cúng dường chư
vị bằng hoa, hương. Sau khi lễ bái chư Phật ấy, vị ấy
phải chắp tay quỳ xuống, tán thán chư Phật bằng nhiều
bài kệ khác nhau. Tán thán xong, vị ấy phải nói về Mười
nghiệp ác và sám hối mọi tội lỗi của mình. Sám hối xong,
vị ấy nên tác bạch: "Suốt vô lượng kiếp của các đời
trước của con, con đã tham đắm hương, vị, xúc, đã tạo
nhiều thứ nghiệp xấu ác. Do thế nên trong vô lượng đời
trước đến nay, con phải luôn mang những cái thân xấu ác
ở các cõi địa ngục, quỷ đói, súc sanh, chốn xa xôi(1)
của những tà kiến. Hôm nay con xin phát lộ những nghiệp
xấu ác ấy, con xin quy hướng chư Phật, những vị vua của
Chánh pháp, xin nói ra các tội lỗi của con và xin sám hối"“.
“Sám hối
như thế xong, thân và tâm không biếng lười, hành giả lại
phải càng đọc tụng các kinh điển Đại thừa. Do năng lực
của Đại thừa, từ không trung có âm thanh vang lên: "Này Pháp
tử, nay ông nên ca ngợi và thuyết giảng Đại thừa, hướng
đến chư Phật ở mười phương và tự nói lên những lỗi
lầm của mình trước mặt chư vị ấy. Chư Phật, chư Như
Lai là những đấng từ phụ củaÔng"“.
Câu “Chư
Phật, chư Như Lai là những đấng từ phụ của Ông” rất
quan trọng. Vì hành giả không ngừng thực hành sám hối cho
đến chỗ nghiêm khắc một cách cùng cực với chính mình
nên một số người do cái nhìn hời hợt về sự sám hối
ấy, có thể cảm thấy bị thúc ép. Những người khác
thì có thể xem vị hành giả sám hối ấy như một con người
đáng thương hại đang run lên vì sợ hãi và sụp mình trước
một người cầm quyền đang nghiêm khắc xem xét tội lỗi
của mình, thú tội và cầu xin người cầm quyền tha thứ.
Tuy nhiên ý tưởng như thế thật là sai lầm. Chư Phật là
những người cha từ ái của chúng ta, chỉ nghĩ đến việc
cứu độ hết thảy chúng sanh. Do đó, chư Phật khen ngợi
chúng ta vì qua sự sám hối, chúng ta gỡ bỏ dần những ô
nhiễm khỏi tâm mình. Chúng ta không thực hành sám hối vì
sợ chư Phật mà vì hy vọng được sự khen ngợi của chư
Phật là những vị mà chúng ta hằng ấp ủ lòng mong mỏi,
khát khao. Câu “Chư Phật, chư Như Lai là những đấng từ
phụ của Ông” có ý nghĩa sâu xa như thế.
CÁC
TỘI LỖI VỀ LƯỠI (Sự nói năng).
Sau đây là
sự miêu tả về sự sám hối các tội lỗi về lưỡi. Lưỡi
của người ta, bị tác động bởi những ý nghĩ xấu, tạo
ra nhiều thứ tội lỗi khác nhau. Sửa chữa những thứ ấy
là cần thiết cho việc sửa chữa tâm mình. Mặt khác, lời
nói bất cẩn thường khiến người ta phát triển những ý
nghĩ xấu. Ta phải đặc biệt cẩn thận về cách nói năng
của ta vì cả ý nghĩ lẫn lời nói đều có thể là nguyên
nhân cũng như kết quả của sự xấu ác.
“Ông nên
tự nói về những nghiệp xấu ác do thiệt căn (lưỡi) gây
nên. "Thiệt căn này bị tác động bởi các nghiệp xấu ác
khiến con nói bậy, nói thêu dệt, ác khẩu, nói lời hai lưỡi,
phỉ báng, nói dối, tán thán tà kiến, nói lời vô ích. Do
nhiều nghiệp xấu ác phức tạp như vậy, con đã gây ra những
đấu tranh bất đồng và con đã nói Pháp thành ra không phải
Pháp. Nay con xin sám hối tất cả các tội lỗi ấy của con”.
“Nói lời
vô ích” có thể xem là không đặc biệt gây hại. Tuy nhiên,
nếu một người thích thú trong cuộc nói chuyện tầm phào,
tâm người ấy sẽ trở nên chậm lụt và sẽ ra khỏi cái
thói quen suy nghĩ và bàn thảo những điều có ý nghĩa. Đây
là lý do tại sao chúng ta phải cố gắng tránh sự nói chuyện
vô bổ và vô nghĩa.
“Sau khi
tác bạch như thế trước các bậc Thế Hùng, hành giả phải
sụp mình xuống đất mà lễ lạy khắp chư Phật ở mười
phương, rồi chắp tay quỳ mà bạch rằng: "Các lỗi lầm về
việc nói năng này thì vô lượng vô biên. Tất cả gai của
ác nghiệp từ thiệt căn phát sinh ra, bánh xe Chánh pháp bị
cắt đứt do bởi thiệt căn này. Thiệt căn xấu ác này cắt
đứt các hạt mầm của công đức. Sự thuyết giảng những
điều vô nghĩa thường được áp đặt vào những người
khác. Ca ngợi tà kiến cũng giống như thêm củi vào lửa,
như càng làm hại chúng sanh vốn đã khổ vì lửa cháy mạnh.
Đấy cũng giống như người chết vì uống thuốc độc không
để lộ vết thương hay mụt nhọt. Kết quả của các tội
lỗi như thế là ác, tà, bất thiện, và khiến cho con phải
rơi vào các ác đạo suốt trăm kiếp, ngàn kiếp. Nói dối
khiến con phải rơi vào địa ngục lớn. Nay con quy hướng
chư Phật ở phương Nam mà phát lộ các sai lầm, tội lỗi
của con.
“Khi hành
giả suy nghĩ như thế, từ hư không sẽ có một âm thanh vang
lên: "Ở phương Nam có một đức Phật tên là Chiên-đàn Đức.
Đức Phật này cũng có vô lượng vị Phật Phân thân. Tất
cả chư Phật này đều giảng Đại thừa và diệt trừ tội
lỗi xấu ác. Nay hướng về vô lượng chư Phật và chư Thế
Tôn đại từ đại bi, Ông phải phát lộ những tội lỗi,
sai lầm và thành tâm sám hối". Nghe nói như vậy, hành giả
lại nên sụp mình xuống đất và lễ lạy chư Phật.
“Khi ấy
chư Phật sẽ phóng ánh sáng chiếu vào thân hành giả, khiến
thân và tâm của hành giả tự nhiên hoan hỷ, khởi lòng đại
từ bi, nhớ tưởng đến tất cả mọi sự. Bấy giờ chư
Phật sẽ rộng giảng cho hành giả về pháp đại từ bi hỷ
xả và cũng dạy cho hành giả nói lời nhu ái, thực hành sáu
hòa kính. Thế rồi hành giả sau khi nghe lời phán dạy ấy,
tâm rất vui mừng, sẽ lại càng tụng đọc và tu tập lời
dạy ấy, không biết lười ngưng nghỉ”.
Hỷ và xả
là hai trong bốn công đức vô lượng(1). Công đức vô lượng
về hỷ nghĩa là vui khi thấy những người khác được hạnh
phúc. Công đức vô lượng về xả nghĩa là từ bỏ sự ràng
buộc vào những lợi lạc mà mình cho người khác và vào những
tai hại mà chính mình nhận từ kẻ thù. Hiểu chung “hỷ
và xả” trỏ một thái độ tâm thức trong đó người ta
từ bỏ mọi ràng buộc và chỉ nghĩ đến lợi lạc của người
khác.
Biểu ngữ
“lời nhu ái” nghĩa là lời nói đầy tình cảm, một trong
bốn đức hạnh của vị Bồ-tát. “Sáu hòa kính” là sáu
loại thực hành qua đó hàng tín giả hòa hợp và tôn trọng
nhau trong quá trình mong cầu chứng ngộ.
(1) Tức tứ
vô lượng tâm: từ, bi, hỷ, xả (N.D.)
CÁC
TỘI LỖI VỀ THÂN VÀ TÂM.
Đức Phật
dạy tiếp: “Từ hư không lại có âm thanh vi diệu vang lên:
"Nay Ông nên thực hành sám hối về thân và tâm. Cáctội lỗi
về thân là sát sanh, trộm cắp, tà dâm, trong khi đó các tội
lỗi về tâm là suy nghĩ những điều xấu ác. Tạo ra mười
nghiệp xấu ác và năm tội khốc liệt(1) thì giống như khỉ
vượn, như keo nhựa, dính mắc tham trước vào mọi chỗ, đến
khắp sáu căn của chúng sanh hữu tình. Các nghiệp của sáu
căn này cùng với các nhánh, cành, hoa lá của chúng đầy khắp
hai mươi lăm trú xứ, khắp mọi nơi có chúng sanh sinh ra. Các
nghiệp ấy cũng làm tăng trưởng mười hai sự khổ gồm từ
vô minh cho đến lão tử; tám tà(2), tám nạn, không thứ nào
là không phải trải qua. Nay ông nên sám hối về các nghiệp
xấu ác như thế !"“
Năm tội
khốc liệt là giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán, làm bị
thương thân của đức Phật, và phá sự hòa hợp của cộng
đồng Tăng chúng. Những ai phạm năm tội này sẽ bị rơi
vào địa ngục A-tỳ (Avìci). Hai mươi lăm trú xứ của các
chúng sanh là bốn cõi xấu ác (địa ngục, súc sanh, quỷ đói,
A-tu-la), bốn châu lục của cõi người, sáu cõi trời của
dục giới, bảy cõi trời của sắc giới, và bốn cõi trời
của vô sắc giới. Tám nạn trỏ tám hoàn cảnh khiến người
ta không thể nhìn thấy được đức Phật hoặc không nghe
được Chánh pháp; đó là: địa ngục, súc sanh, quỷ đói,
cõi trời có thọ mạng lâu dài, các vùng hoang dã, trạng thái
mù và điếc, thành kiến thế tục, thời không có đức Phật.
“Hành giả
nghe được như thế xong liền hỏi âm thanh ở không trung ấy
rằng: "Nay con có thể thực hành pháp sám hối tại chỗ nào
?"
“Âm thanh
ở không trung liền đáp: "Đức Phật Thích-ca-mâu-ni được
gọi là Tỳ-lô-giá-na Biến Nhứt Thiết Xứ và nơi ở của
Ngài tên là Thường Tịch Quang, nơi này được hình thành
bởi Ba-la-mật Thường hằng và được an lập bởi Ba-la-mật
Tự ngã, là nơi của Ba-la-mật Diệt thọ tưởng, là nơi mà
Ba-la-mật Tịnh lạc diệt tướng trạng của hữu và là nơi
không thấy tướng trạng của các pháp hữu và vô, là nơi
của giải thoát tịch tịnh..., Ba-la-mật Trí tuệ. Vì đấy
là pháp thường hằng, Ông nên quán niệm chư Phật ở mười
phương”.
Các biểu
ngữ “Tỳ-lô-giá-na Biến Nhứt Thiết Xứ” và “Thường
Tịch Quang” cũng như các biểu ngữ sau đó, nghĩa là sự
vượt khỏi mọi giới hạn của thời gian và không gian, được
xây dựng trên ý niệm về Sunya hay không (sẽ được giải
thích dưới đây). Một cách tích cực, Sunya có nghĩa là tính
phổ quát tuyệt đối của đức Phật và cõi Phật.
“Bấy giờ
chư Phật ở mười phương mỗi vị đều duỗi tay phải xoa
đầu hành giả mà dạy: "Hay thay! Hay thay ! Thiện nam tử !
Vì ông đã tụng đọc kinh Đại thừa nên chư Phật ở mười
phương sẽ giảng pháp sám hối. Những gì chư Bồ-tát làm
không phải là dứt đoạn phiền não, cũng không trụ vào biển
phiền não. Hãy quán tâm là vô tâm. Tâm từ cái tưởng điên
đảo mà khởi thì đấy chỉ là cái tâm của tưởng điên
đảo ấy. Tâm từ cái tưởng hư vọng mà khởi thì đấy
cũng như gió trên không trung không có chỗ tựa chỗ dừng.
Những tướng trạng của pháp như thế thì không sinh không
diệt, vậy cái gì là tội lỗi, cái gì là phước đức ?
Tâm ta tự nó không thì tội lỗi và phước đức cũng không
có(1). Tất cả các pháp cũng như thế, không ổn trụ cũng
không hư hoại. Hãy quán tâm là vô tâm, pháp không trụ trong
pháp. Các pháp đều là giải thoát, là diệt đế, tịch tịnh.
Suy tưởng như thế gọi là sự sám hối lớn lao, là sự sám
hối
trang nghiêm,
là sự sám hối không có tướng trạng của tội lỗi, và
là sự phá hoại cái tâm phân biệt. Người thực hành sự
sám hối này có thân và tâm thanh tịnh, không bị gắn chặt
vào pháp, giống như dòng nước vậy. Trong từng ý nghĩ, người
ấy đều được thấy Bồ-tát Phổ Hiền và chư Phật ở
mười phương"“(1).
“Bấy giờ
chư Thế Tôn phóng ánh sáng đại từ bi thuyết giảng pháp
vô tướng cho hành giả. Hành giả nghe chư Thế Tôn thuyết
giảng về cái Không đệ nhất nghĩa. Khi hành giả nghe xong,
tâm không sợ hãi, ngay đó liền nhập vào địa vị thực
sự của Bồ-tát”.
“Phiền
não” (hay kiết sử) là một thuật ngữ Phật học chỉ sự
ô nhiễm, nó gắn kết (kiết) con người vào luân hồi và
khiến (sử) con người đến các cảnh giới của khổ đau.
Sự thực hành của Bồ-tát là con đường ở giữa sự khổ
hạnh quá đáng và sự lạc thú quá đáng.
Các từ “tự
nó là không”, “không”, từ tiếng Phạn là Sùnya hay sùnyatà,
có nghĩa thứ nhất là vô bản chất và nghĩa thứ hai là vô
chấp trước (không ràng buộc). Biểu cú “tội lỗi và phước
đức cũng không có”(2) nghĩa là cái trạng thái vô chấp,
tức là sùnya. Khi một người đạt đến trạng thái vô chấp
thì vấn đề thiện và ác bị tiêu mất.
Đức Phật
bảo ngài A-nan: “Thực hành như thế thì gọi là sám hối.
Đây là phép sám hối mà chư Phật ở mười phương và chư
Đại Bồ-tát đã thực hành.
Sau khi đức
Phật diệt độ, nếu các đệ tử của đức Phật sám hối
các nghiệp xấu ác của mình thì họ chỉ cần tụng đọc
kinh điển Đại thừa. Các kinh Phương Đẳng này là mắt của
chư Phật. Do các kinh này mà chư Phật có được năm loại
mắt. Ba loại thân của đức Phật cũng phát sinh từ các kinh
Phương Đẳng.
Đây là
Pháp ấn to lớn ấn vào biển Niết-bàn. Ba loại thân thanh
tịnh của đức Phật được sinh ra trong biển này. Ba loại
thân này của đức Phật là ruộng phước của Trời và Người
và là thứ vô thượng, đáng cúng dường. Nếu có ai tụng
đọc các kinh Phương Đẳng, Đại thừa thì Ông nên biết
rằng người ấy được các công đức của đức Phật, những
xấu ác vĩnh viễn bị tiêu diệt và người ấy được sinh
ra từ trí tuệ của đức Phật.”
Năm loại
mắt là (1) mắt của những người có thân thể vật chất;
(2) mắt trời của chư Thiên ở cõi Sắc; (3) mắt trí tuệ
mà các hành giả của hai thừa nhận thức tính vô bản chất
của các sự vật; (4) mắt pháp mà chư Bồ-tát dùng để nhận
thức mọi giáo lý để đưa con người đến chứng ngộ; và
(5) mắt Phật, bốn loại mắt được kể trên có trong thân
của đức Phật.
Bấy giờ
đức Thế Tôn lặp lại ý chính của các giáo lý của Ngài
bằng kệ:
“Ai
xấu ác về mắt
Nghiệp chướng,
mắt bất tịnh
Hãy nên
tụng Đại thừa
Suy nghĩ
Nghĩa thứ nhất
Đấy là
sám hối mắt
Để dứt
mọi nghiệp xấu.
Tai nghe tiếng
rối loạn
Phá rối
nghĩa hòa hợp
Do đó khởi
cuồng loạn
Như khỉ
vượn ngu ngốc.
Hãy nên
tụng Đại thừa
Quán pháp
không, vô tướng
Dứt mãi
mọi xấu ác.
Tai trời
nghe mười phương;
Mũi ngửi
các mùi hương,
Do nhiễm
xúc giác khởi
Như thế
mũi nhiễm ô
Do nhiễm,
bụi trần sinh.
Nếu tụng
kinh Đại thừa
Quán pháp
là chân thật
Nghiệp xấu
mãi xa lìa
Đời sau
chẳng sinh lại.
Thiệt căn
khởi năm thứ
Ác khẩu,
nghiệp bất thiện,
Nếu muốn
kiểm soát chúng
Phải cố
tu lòng từ
Quán pháp,
nghĩa chân tịch
Không có
tướng phân biệt,
Ý tưởng
như khỉ vượn
Chẳng có
lúc tạm ngưng;
Nếu muốn
khuất phục nó
Phải chăm
tụng Đại thừa
Niệm thân
Phật đại giác
Và năng
lực, vô úy.
Thân là
chủ các căn,
Như bụi
chuyển theo gió
Lang thang
trong sáu giặc
Tự do, không
chướng ngại;
Nếu muốn
diệt ác này
Xa rời mãi
trần lao,
Trú mãi
thành Biết-bàn,
An lạc tâm
bình lặng,
Phải tụng
kinh Đại thừa
Niệm mẹ
của Bồ-tát
Vô lượng
cách thiện xảo
Do quán Thực
mà được.
Sáu thứ
đã nêu ấy
Gọi là
sáu tình căn.
Biển của
mọi nghiệp chướng
Đều sanh
từ vọng tưởng
Nếu ai muốn
sám hối
Ngồi thẳng,
niệm thực tướng.
Mọi tội
như sương, móc,
Mặt trời
trí làm tan.
Vì thế,
cần dốc lòng
Sám hối
sáu tình căn”.
Tinh yếu
của sự sám hối được tóm tắt trong các dòng sau đây của
bài kệ trên.
“Nếu
ai muốn sám hối,
Ngồi thẳng,
niệm thực tướng.
Mọi tội
như sương, móc,
Mặt trời
trí làm tan”
Những dòng
này cao cả và quan trọng đến nỗi ta cần phải học thuộc
lòng và luôn ghi nhớ trong tâm.
CÁC
CÔNG ĐỨC CỦA SÁM HỐI.
Nói kệ xong,
đức Phật lại nói với ngài A-nan: “Nay Ông nên thọ trì
phương pháp sám hối về lục căn của Bồ-tát Phổ Hiền,
rồi đem giảng rõ, phổ biến khắp chư Thiên trong vũ trụ
và loài Người. Sau khi đức Phật diệt độ, nếu các đệ
tử của đức Phật thọ trì, tụng đọc và thuyết giảng
các kinh Phương Đẳng thì nên tại chỗ yên tĩnh, hoặc chỗ
nghĩa địa, hoặc dưới cội cây, hoặc chốn a-lan-nhã (àranya)(1),
đọc tụng các kinh Phương Đẳng, nghĩ đến ý nghĩa Đại
thừa. Do sức niệm tưởng mạnh mẽ, họ sẽ có thể thấy
Ta, thấy tháp của đức Phật Đa Bảo, vô lượng chư Phật
Phân thân ở mười phương, Bồ-tát Phổ Hiền, Bồ-tát Văn-thù,
Bồ-tát Dược Vương và Bồ-tát Dược Thượng. Do họ cung
kính Pháp nên chư Phật và chư Bồ-tát ấy đứng giữa không
trung, cầm các thứ hoa vi diệu mà tán thán, kính lễ người
hành trì Phật pháp. Do họ chỉ tụng các kinh Phương Đẳng,
Đại thừa, chư Phật và chư Bồ-tát sẽ ngày đêm cúng dường
những ai thủ trì Pháp.
“Ta cũng
như chư Bồ-tát trong Hiền kiếp(2) và chư Phật ở mười
phương, nhờ nghĩ đến ý nghĩa chân thực của Đại thừa
nên nay đã sạch hết mọi tội lỗi của sinh tử trong suốt
trăm vạn ức a-tăng-kỳ-kiếp. Nhờ pháp sám hối thắng diệu
này mà nay chúng ta mỗi vị đều thành Phật. Nếu ai muốn
chóng đạt Trí tuệ Tối thượng và muốn ngay trong đời hiện
tại thấy được chư Phật ở mười phương cùng Bồ-tát
Phổ Hiền, người ấy phải tắm gội cho sạch sẽ, mặc áo
sạch sẽ, thắp hương quý, tại chỗ thanh vắng, cần phải
tụng đọc các kinh Đại thừa và nghĩ đến ý nghĩa của
Đại thừa.
“Nếu có
những chúng sanh muốn quán Bồ-tát Phổ Hiền thì nên quán
như thế. Quán như thế gọi là chánh quán. Nếu quán khác
đi thì đấy gọi là tà quán. Sau khi Phật diệt độ, hàng
đệ tử của Phật vâng theo lời Phật dạy mà thực hành
sám hối thì nên biết rằng những người ấy đang thực hành
hạnh Phổ Hiền. Những ai thực hành hạnh Phổ Hiền thì không
thấy các tướng ác, nghiệp ác. Nếu có chúng sanh nào ngày
đêm sáu thời lễ bái chư Phật ở mười phương, tụng kinh
Đại thừa, tư duy về pháp thâm sâu của Đệ nhất nghĩa
thì chỉ trong thời gian búng ngón tay, những người ấy sẽ
tiêu trừ hết mọi tội lỗi của sinh tử đã có trong suốt
trăm vạn ức a-tăng-kỳ kiếp. Người thực hành hạnh này
là nam tử thực sự của đức Phật, từ chư Phật mà sinh
ra. Chư Phật ở mười phương và chư Bồ-tát đều là Hòa
thượng của người ấy. Đấy gọi là người thành tựu đầy
đủ giới của chư Bồ-tát. Không cần phải qua nghi thức
Yết-ma (thú tội), tự nhiên người ấy cũng thành tựu địa
vị Bồ-tát, xứng đáng thọ nhận sự cúng dường của tất
cả Trời và Người”.
Một vị
Hòa thượng là một vị thầy trao giới điều cho một người
muốn trở thành một tu sĩ trong một buổi lễ mà người ấy
nguyện tôn giữ các giới điều. Ở đây xác định rằng
chư Phật ở mọi phương và chư Bồ-tát sẽ trở thành Hòa
thượng truyền giới của một người Phật tử thực sự,
người thọ trì đầy đủ các giới của chư Bồ-tát.
“Nghi thức
Yết-ma” trong tiếng Phạn được gọi là jnapti-karman là một
nghi lễ trong đó một người thọ nhận những giới luật
mà đức Phật đã đặt ra cho Tăng và Ni (xem thêm dưới đây,
trang 889. Đây muốn bảo rằng không cần qua nghi thức Yết-ma,
một Phật tử thực sự sẽ tự mình thành tựu địa vị
của Bồ-tát và được hết thảy chư Thiên và loài Người
tôn kính.
Kế đến,
đức Phật dạy hành giả thực hành sám hối theo các cách
sau đây, nếu vị ấy muốn thành tựu giới hạnh của vị
Bồ-tát: “Lúc ấy, nếu hành giả muốn được thành tựu
Bồ-tát giới, vị ấy phải chắp tay tại một nơi thanh vắng,
lễ bái khắp chư Phật ở mười phương mà sám hối tội
lỗi của mình. Sau đó, tại một nơi yên tĩnh, vị ấy phải
bạch chư Phật ở mười phương rằng: "Kính bạch Phật, Thế
Tôn thường trụ ở thế gian ! Do nghiệp chướng, tuy tin vào
các kinh Phương Đẳng, con vẫn không thể thấy được chư
Phật. Nay con quy y chư Phật. Con xin Thế Tôn Chánh Biến Tri
Thích-ca-mâu-ni làm Hòa thượng truyền giới của con ! Bạch
ngài Văn-thù-sư-lợi đầy đủ trí tuệ lớn ! Xin ngài dùng
trí tuệ mà truyền cho con pháp của chư Bồ-tát thanh tịnh!
Bạch Bồ-tát Di-lặc, mặt trời từ bi lớn lao và cao cả
! Xin ngài vì lòng thương xót con mà cho con được thọ nhận
pháp của chư Bồ-tát ! Bạch chư Phật ở mười phương
!
Xin chư Phật
hiện thân mà chứng giám cho con ! Bạch chư Đại Bồ-tát,
xin chư vị mỗi vị xưng danh của mình, là những bậc Đại
sĩ cao cả che chở chúng sanh, hộ trợ cho chúng con! Ngày nay
con thọ trì các kinh Phương Đẳng. Dù có mất mạng, dù phải
đọa địa ngục chịu vô lượng khổ, con cũng sẽ không bao
giờ phỉ báng Chánh pháp của chư Phật. Do sức công đức
của nhân duyên ấy, bạch đức Phật Thích-ca-mâu-ni ! Xin đức
Phật làm Hòa thượng truyền giới của con; bạch ngài Văn-thù-sư-lợi
! Xin hãy là giáo thọ của con ! Bạch ngài Di-lặc của tương
lai ! Xin ngài truyền pháp cho con! Bạh chư Phật ở mười phương
! Xin chư Phật chứng giám cho con ! Bạch chư Bồ-tát đức
lớn ! Xin hãy làm bạn của con ! Nay con xin nương tựa vào
ý nghĩa thâm sâu vi diệu của các kinh Đại thừa mà quy y
Phật, quy y Pháp, quy y Tăng"“.
Đức Phật
bảo hành giả nói như thế ba lần. Niềm tin và ước vọng
của các Phật tử được tóm gọn trong đoạn này. Các cú
ngữ “Xin chư Phật hiện thân mà chứng giám cho con” và
“Xin xác chứng cho con” nghĩa là “con kêu gọi tất cả
chư Phật chứng giám xem con có thực hành các thệ nguyện
của con hay không”. Nhóm từ “những bậc Đại sĩ cao cả”
trỏ chư Bồ-tát.
“Dù có
mất mạng, dù phải đọa địa ngục chịu vô lượng khổ,
con cũng sẽ không bao giờ phỉ báng Chánh pháp của chư Phật”;
đây là thái độ tâm thức của một tín giả thực sự. Khi
người ta không đạt được công đức nào rõ ràng từ việc
tu hành do bởi các nghiệp xấu ác triền miên trong các đời
trước của họ thì họ thường phỉ báng Thượng đế hay
đức Phật. Làm như thế, họ đánh mất cái phao cứu hộ
có thể cứu họ khỏi khổ. Không có ng