Phẩm
28
PHỔ
HIỀN BỒ-TÁT KHUYẾN PHÁT
Bồ-tát Văn-thù
đại diện cho trí tuệ của đức Phật, trong khi Bồ-tát Phổ
Hiền tiêu biểu cho đức hạnh của đức Phật. Hai vị Bồ-tát
này được xem như một đôi trí tuệ mà ngài Văn-thù đại
diện, tượng trưng sự thể nghiệm chân lý và đức hạnh
mà ngài Phổ Hiền là tiêu biểu, tượng trưng sự thực hành
chân lý.
Chúng ta đã
nghiên cứu sự thể nghiệm chân lý trong Tích môn. Trong hội
chúng được đức Phật giảng pháp môn này, Bồ-tát Văn-thù
là người đại diện cho các đệ tử của đức Phật. Chúng
ta đã nghiên cứu cái thực thể của chân lý trong “Một
phẩm và Hai nửa” - nửa sau của phẩm 15, toàn phẩm 16 và
nửa đầu của phẩm 17. Trong hội chúng này, Bồ-tát Di-lặc
đại diện cho các đệ tử của đức Phật. Chúng ta được
giảng về sự thực hành chân lý qua thí dụ về những tu
tập của nhiều Bồ-tát trong nửa sau của phẩm 17 và các
phẩm sau đó được nêu định như là phần kết luận của
Bổn môn. Cuối cùng, Bồ-tát Phổ Hiền xuất hiện trong phẩm
cuối cùng của kinh Pháp Hoa. Sự việc ngài xuất hiện ở
chỗ đặc biệt này có một ý nghĩa thâm sâu.
BỐN SỰ
THỰC HÀNH (BỐN HẠNH) CỦA BỒ-TÁT PHỔ HIỀN:
Như được
nêu tỏ trong phẩm này và trong kinh Quán Phổ Hiền Bồ-tát,
được gọi là kinh kết của kinh Pháp Hoa, Bồ-tát Phổ Hiền
toàn hảo về bốn hạnh:
1.Ngài tự mình thực hành giáo lý của kinh Pháp Hoa. 2.
2.Ngài hộ trì giáo lý khỏi mọi sự ngược đãi.
3.Ngài xác chứng các công đức của những ai thực hành giáo
lý kinh và xác chứng các trừng phạt mà những ai phỉ báng
giáo lý kinh hay ngược đãi những người tin theo kinh phải
gánh chịu. 4.
4.Ngài xác nhận rằng ngay cả những người cưỡng ép giáo
lý kinh cũng có thể thoát khỏi các tội lỗi nếu họ sám
hối chân thành.
Bồ-tát Phổ
Hiền khích lệ những ai sau khi nghe kinh Pháp Hoa và khởi đầu
một cuộc sống mới như sau: “Ta nguyện thực hành bốn hạnh
này, xem đấy là kết quả của việc thực hành kinh Pháp Hoa.
Các vị hãy tinh cần trong tu tập, chớ lo lắng gì”.
Khích lệ
của ngài có thể được liên hệ với lời mở đầu mà vị
hiệu trưởng gửi đến các sinh viên tốt nghiệp. Giờ đây
họ rời trường, mang theo chân lý mà họ đã học ở đó.
Khi họ vào đời, họ thường bối rối không biết làm sao
để sử dụng thật tốt những gì họ đã học ở trường.
Đôi khi họ có những kinh nghiệm không may vì thủ đắc cái
chân lý họ đã học mà bị người khác phủ nhận hoặc thậm
chí bị ngược đãi vì chân lý ấy. “Hễ khi nào các bạn
gặp khó khăn, các bạn có thể viếng trường cũ của các
bạn. Chúng tôi sẽ cố gắng chứng tỏ rằng chân lý không
sai. Hơn nữa, chúng tôi sẽ nói cho các bạn biết các bạn
cần áp dụng chân lý vào từng vấn đề thực tiễn. Nếu
các bạn thất bại về việc gì, chúng tôi sẽ chỉ cho các
bạn cách thức để vượt qua thất bại ấy”. Bằng cách
như thế, bài diễn văn khai mạc của vị hiệu trưởng bảo
đảm cho sinh viên tốt nghiệp rằng những sinh hoạt của họ
sẽ được bảo trợ dù cho họ đã rời trường. Không có
lời giã từ để khích lệ nào gây xúc động hơn thế.
Giờ đây
chúng ta hãy đi vào nội dung phẩm 28.
Bấy giờ
Bồ-tát Phổ Hiền, với sức thần thông tự tại, oai đức,
thanh thế cùng với chư đại Bồ-tát, vô lượng, vô biên,
vô số, từ phía Đông đến; các quốc độ mà chư vị đi
qua đều rung động, hoa sen báu mưa xuống, vô lượng trăm
ngàn vạn ức loại nhạc được tấu lên. Lại còn có vô
số chư Thiên, Long, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Khẩn-na-la,
Ma-hầu-la-già, Nhân và Phi nhân... nhiễu quanh, tất cả đều
thể hiện uy lực thần thông. Bồ-tát và chư vị đến núi
Kỳ-xà-quật trong cõi Ta-bà.
Phi nhân như
Trời (Thiên), Rồng (Long), Dạ-xoa thường được nêu ra như
là hội chúng nghe đức Phật thuyết giảng từ khi họ xuất
hiện lần đầu tiên ở phần mở đầu kinh Vô Lượng Nghĩa.
Tuy nhiên, sự miêu tả ở phẩm này khác với những miêu tả
ở các phẩm trước. Sự khác biệt nằm trong biểu ngữ “tất
cả đều thể hiện uy lực thần thông”. Điều này có nghĩa
là do nghe đức Phật thuyết giảng kinh Pháp Hoa nên họ đạt
được uy lực thần thông và thể hiện được uy lực ấy.
Sau khi đảnh
lễ đức Phật, Bồ-tát Phổ Hiền nhiễu quanh Phật bảy lần
về phía phải rồi bạch: “Bạch Thế Tôn ! Con ở quốc độ
của đức Phật Bảo Oai Đức Thượng Vương, từ xa nghe kinh
Pháp Hoa được giảng tại cõi Ta-bà này nên cùng với hội
chúng này gồm vô lượng vô biên trăm ngàn vạn ức Bồ-tát
đến nghe và thọ nhận kinh. Bạch Thế Tôn! Xin ngài giảng
kinh ấy cho chúng con và cho chúng con biết sau khi đức Như
Lai nhập diệt, các thiện nam tử và thiện nữ nhân có thể
thủ đắc kinh Pháp Hoa như thế nào”.
Đức Phật
nói với Bồ-tát Phổ Hiền: “Nếu thiện nam tử, thiện nữ
nhân nào thành tựu bốn điều tiên quyết (tứ pháp) thì sau
khi Như Lai nhập diệt người ấy sẽ thủ đắc kinh Pháp Hoa
này: thứ nhất, đặt mình dưới sự hộ trì của chư Phật;
thứ hai, vun trồng thiện căn; thứ ba, nhập chánh định; thứ
tư, phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh. Thiện nam tử,
thiện nữ nhân nào thành tựu bốn điều tiên quyết ấy chắc
chắn sẽ thủ đắc kinh này sau khi Như Lai diệt độ”.
BỐN ĐIỀU
TIÊN QUYẾT (BỐN PHÁP):
Cụm từ
“Người ấy sẽ thủ đắc kinh Pháp Hoa này” không chỉ
có nghĩa là bắt gặp giáo lý mà có nghĩa là người bắt
gặp giáo lý, hiểu giáo lý đủ để áp dụng giáo lý. Hiểu
kinh đủ nghĩa là thủ đắc những công đức thực sự của
kinh. Ở đây đức Phât dạy chúng ta bốn điều tiên quyết
cần thiết để thủ đắc kinh Pháp Hoa sau khi Ngài nhập diệt.
Chúng ta phải hiểu rõ những điều này vì chúng là những
điểm thiết yếu của niềm tin.
Điều tiên
quyết thứ nhất là đặt mình dưới sự hộ trì của chư
Phật. Điều này có nghĩa là có một niềm tin tuyệt đối
không lay chuyển rằng mình được chư Phật hộ trì. Nói một
cách khác, đấy là sự thiết lập niềm tin của một người.
Tuy một người có thể hiểu thông suốt kinh Pháp Hoa từ quan
điểm học thuyết, người ấy cũng không thể áp dụng kinh
vào cuộc sống thực tiễn nếu người ấy không thiết lập
niềm tin trong tâm mình.
Điều tiên
quyết thứ hai là vun trồng thiện căn. Điều này có nghĩa
là không ngừng làm việc thiện trong đời sống hàng ngày.
Từ “thiện căn” (thiện đức) chỉ cái tâm tốt lành căn
bản cho sự đạt ngộ của người ta. Vun trồng một cái tâm
tốt lành như thế không chỉ gieo các mầm thiện mà còn nuôi
dưỡng chúng bằng cách tưới nước, bón phân chochúng.
Thiện tâm
của người ta được bồi dưỡng như thế nào ? Sự quan tâm
trước tiên là làm các việc thiện. Con người làm các việc
thiện là do bởi cái tâm thiện của mình, và đồng thời
làm việc thiện lại bồi dưỡng cho cái tâm thiện. Hai thứ
này, làm việc thiện và tâm thiện của con người, tạo thành
một cái vòng hiện hữu, tăng cường lẫn nhau để thăng tiến.
Giống như con gà và cái trứng, ta không thể bảo bên nào
có trước hoặc tạo ra bên kia. Cả hai không rời nhau, phụ
thuộc lẫn nhau.
Thật vậy,
khi ta làm một điều gì thiện dù chỉ vì hình thức, ta cảm
thấy một cách nào đó, vui vẻ và hăng hái. Thiện tâm của
ta đang lớn lên bên trong ta. Ý định không nhất thiết phải
đi trước hành động. Bằng cớ điều này sẽ được thể
hiện khi ta nhìn mình trong một tấm gương mà cố mỉm cười.
Nếu ta lặp lại như thế, ta sẽ cảm thấy rạng rỡ trong
tâm. Trái lại, khi ta cố sức nén nước mắt trước một
tấm gương, ta bắt đầu thấy buồn bã hơn. Quay trở lại
vấn đề, hàng ngày làm việc thiện là trồng những gốc
rễ của đức hạnh trong tâm - là thực sự bắt đầu hiểu
giáo lý kinh Pháp Hoa.
Điều tiên
quyết thứ ba là nhập vào trạng thái chánh định. Điều
này có nghĩa là nhập vào nhóm những người đã làm thiện.
Trong Phật giáo, những nhóm người được chia làm ba loại:
những người có chánh định, tà định và bất định định.
Nhóm thứ nhất là nhóm chánh định, gồm những người đã
quyết tâm hành thiện, ví dụ tập thể những người tin một
tôn giáo chân chánh. Nhóm thứ hai là nhóm tà định, gồm những
người quyết tâm làm ác, chẳng hạn, một băng móc túi hay
lưu manh. Nhóm thứ ba là nhóm bất định định, gồm những
người dao động giữa thiện và ác. Phần lớn những đám
người bình thường thuộc nhóm thứ ba này, trong đó họ có
xu hướng thiện nhưng rất thiếu ổn định đến nỗi họ
có thể chuyển sang ác bất cứ lúc nào.
Chúng ta là
hàng tín giả phải gia nhập vào nhóm có chánh định. Không
cần phải nói, nếu chúng ta thuộc nhóm những người có cùng
một niềm tin thì như thế sẽ dễ dàng và tốt hơn là chúng
ta cầu tìm Pháp một cách riêng lẻ. Khi chúng ta ở trong nhóm
những người có chánh định, chúng ta có thể khích lệ nhau
tránh sự thối thất khỏi trạng thái tâm thức mà chúng ta
đã nỗ lực đạt được. Dù cho chúng ta không nói đến sự
khích lệ hay sự không thối thất thì về mặt tâm linh, chúng
ta cũng được nối kết với nhau trong một mối liên hệ chặt
chẽ do cùng thảo luận và cùng nghe Pháp, và chúng ta có thể
thể hiện năng lực của niềm tin mạnh hơn rất nhiều so
với khi chúng ta phải đơn độc. Điều tiên quyết thứ ba
để nhập vào cấp độ chánh định dạy chúng ta như thế.
Điều tiên
quyết thứ tư là mong mỏi được cứu độ tất cả chúng
sanh. Về điểm này, tưởng không cần giải thích gì ở đây.
Thủ đắc thực sự Phật tính không có nghĩa là thể chứng
cho riêng mình hay giải thoát cho riêng mình khỏi khổ đau.
Tinh thần nền tảng của Phật giáo Đại thừa là ở chỗ
giải thoát người khác cũng như giải thoát chính mình và
ở chỗ thiết lập một cảnh giới lý tưởng trên cõi đời
này. Nếu chúng ta hành động trái với tính thần nền tảng
này thì tuy chúng ta tinh cần cầu tìm Pháp và tu tập, nỗ
lực như thế cũng sẽ chẳng có kết quả gì và nó cũng sẽ
không đưa chúng ta đến sự thể hiện những công đức chân
thật của Pháp.
Bốn điều
tiên quyết trên có thể được nêu tỏ lại như sau:
1.Luôn
luôn tự bảo rằng chúng ta sống là do đức Phật.
2 Luôn luôn
nỗ lực làm thiện.
3.Luôn luôn
thuộc nhóm những tín giả chân chánh.
4.Luôn luôn
phục vụ những người khác.
Bốn điều
tiên quyết này phải được xem là giáo lý thiêng liêng nhất
của đức Phật. Bốn điều này cũng phải được xem là đỉnh
cao của Phật pháp, nêu tỏ một cách chân thật rằng dù đức
Phật trước đây đã thuyết giảng nhiều giáo lý khó khăn,
những gì tinh yếu cho tất cả chúng sanh là chuyên tâm vào
bốn điều tiên quyết này trong khi tu tập giáo lý. Khi những
người còn ngại ngùng trong nỗ lực tìm hiểu thấu đáo giáo
lý thâm sâu và khó hiểu của kinh Pháp Hoa, nghe sự giải thích
đơn giản về bốn điều tiên quyết ấy, chắc chắn họ
sẽ cảm thấy được khích lệ.
Khi Bồ-tát
Phổ Hiền trình bày việc tu tập kinh Pháp Hoa, ngài lo lắng
không biết nên làm sao để dẫn dắt chúng sanh trong thời
mạt pháp, ngài được đức Phật nói rõ bốn điều tiên
quyết này, hẳn ngài phải rất xúc động bởi sự chỉ dạy
của đứcPhật.
Thế rồi,
Bồ-tát Phổ Hiền bạch Phật: “Bạch Thế Tôn ! Năm trăm
năm sau trong đời ác trược, ai thọ trì kinh này sẽ được
con thủ hộ, khiến người ấy tiêu trừ các tai hoạn, tâm
được an ổn và khiến kẻ xấu không tìm được cơ hội
gây hại. Dù Ma (Mara), con trai của Ma, con gái của Ma, dân của
Ma, chư hầu của Ma, Dạ-xoa (Yaksha), La-sát (Ràkshasa), Cưu-bàn-trà
(Kumbhànda), Tỳ-xá-xà (Pisàcaka), Kiết-giá (Krityas), Phú-đơn-na
(Pùtana), Vi-đà-na (Vetana), và các loại gây hoạn cho người,
đều không tìm được cơ hội gây hại. Hễ khi nào người
ấy đi, đứng, đọc, tụng kinh này, con liền cỡi voi trắng
chúa sáu ngà cùng với đại chúng Bồ-tát đến chỗ ấy và
hiện thân để cúng dường, hộ trì, an ủi tâm người ấy
và như thế cũng để cúng dường kinh Pháp Hoa.
Một biểu
ngữ khác “Con liền cỡi voi trắng chúa sáu ngà” trỏ ý
rằng Bồ-tát Phổ Hiền khác với Bồ-tát Văn-thù, ngài Văn-thù
thường cỡi sư tử. Sư tử tượng trưng sự thể nghiệm
chân lý. Sư tử vốn được gọi là vua của loài thú, quản
trị những con thú khác và khiến chúng kính sợ. Do đó, nó
có thể tự do cất tiếng rống trên thảo nguyên. Cũng như
sư tử, chân lý quản trị mọi thứ trong vũ trụ và chính
chân lý lại không bị một thứ gì kiểm sát cả. Có thể
nói chân lý là vua của vũ trụ và chân lý xuất hiện một
cách tự tại trong tất cả mọi hiện tượng.
Mặt khác,
voi đại diện cho đại năng lực thi hành. Hễ khi nào con vật
này với thân hình đồ sộ tiến lên trước thì không gì
có thể ngăn chận nó được.
Nếu có một
cái cây trên đường nó đi, nó sẽ húc ngã cây ấy. Khi nó
gặp một tảng đá giữa lối đi, nó sẽ đẩy đá lăn sang
một bên. Khi nó đi qua một con sông hay bãi lầy, nó vững
bước dẫm đáy. Do đó voi tượng trưng cho sự thực hành
rốt ráo.
Sáu ngà của
con voi chúa màu trắng mà Bồ-tát Phổ Hiền cỡi tượng trưng
cho giáo lý sáu Ba-la-mât (sáu sự toàn hảo). Giáo lý này dạy
ta sự thực hành có lợi cho chính mình và cả cho những người
khác. Bồ-tát Phổ Hiền cỡi voi trắng chúa như là một sứ
giả của đức Phật và hóa hiện ra cho hết thảy chúng sanh,
là hình tượng của một vĩ nhân đã gỡ bỏ mọi chướng
ngại và kiên quyết thực hành Pháp.
Bồ-tát Phổ
Hiền bạch tiếp: “Hễ khi nào người ấy ngồi, tư duy về
kinh này, khi ấy con lại cỡi voi trắng chúa mà hiện thân
trước người ấy. Nếu người ấy quên chỉ một câu, hay
một kệ của kinh Pháp Hoa, con sẽ dạy cho người ấy câu
ấy, kệ ấy, đọc, tụng cùng người ấy, khiến người ấy
được thông suốt.”
Biểu ngữ
“Hễ khi nào người ấy ngồi, tư duy về kinh này” trỏ
việc thực hành Thiền định, một trong Sáu Ba-la-mật. Hễ
có ai hành Thiền, Bồ-tát Phổ Hiền cỡi voi trắng và hiện
thân trước tín giả. Điều này có nghĩa là Bồ-tát hiện
ra trong tâm của tín giả mỗi khi người ấy tưởng niệm
Bồ-tát.
Câu “Nếu
người ấy quên chỉ một câu hay một kệ của kinh Pháp Hoa,
con sẽ dạy cho người ấy câu ấy, kệ ấy” cần phải được
hiểu nghĩa là nếu một người không thể nắm bắt được
ý nghĩa thực sự của giáo lý dù đã lắm tư duy Thiền quán,
trước hết người ấy cần phải nghĩ đến việc thực hành
giáo lý. Thế nào rồi người ấy cũng nắm bắt được ý
nghĩa thực sự của giáo lý. Vì kinh Pháp Hoa là giáo lý của
việc thực hành Phật Pháp, nếu ta quên thực hành giáo lý
mà cứ cố trèo lên ngọn núi của học thuyết thâm sâu của
kinh thì chắc chắn ta sẽ lạc đường. Thế thì nếu ta ngồi
yên lặng mà tư duy về kinh Pháp Hoa vốn rốt ráo là giáo
lý về sự thực hành tự độ và độ tha thì tức khắc ta
sẽ tìm thấy con đường đúng đắn để lên đỉnh núi.
Lời của ngài Phổ Hiền được nêu dẫn trước đây được
diễn tiếp một cách tự nhiên: “Bấy giờ có ai thọ trì,
đọc tụng kinh Pháp Hoa khi thấy được con thì sẽ rất hoan
hỷ và lại càng tinh tấn. Do nhìn thấy được con, người
ấy sẽ đạt định và đà-la-ni (dhàrani - tổng trì) gọi
là đà-la-ni Triền, đà-la-ni Trăm ngàn vạn ức Triền, đà-la-ni
Pháp âm Phương tiện, những loại đà-la-ni như vậy sẽ được
người ấy thủ đắc.
“Bạch Thế
Tôn ! Nếu đời sau, năm trăm năm cuối của đời ác trược,
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, người cầu tìm,
người thọ trì, độc tụng, người sao chép muốn tu tập
kinh Pháp Hoa này thì họ phải nhất tâm tinh tấn trong ba lần
bảy ngày. Sau khi ba lần bảy ngày đã mãn, con sẽ cỡi voi
trắng sáu ngà cùng với vô lượng Bồ-tát vây quanh hiện
thân ra trước mặt những người ấy với hình tướng mà
tất cả chúng sanh đều vui mừng nhìn thấy, và sẽ thuyết
pháp, khai mở, giáo hóa, gây lợi lạc và làm cho họ hoan hỷ.”
TẠO THÓI
QUEN TỐT VỀ MẶT TÂM LINH.
Chúng ta không
cần phải hiểu theo nghĩa đen về ba lần bảy ngày, nhưng
chúng ta nên thỉnh thoảng dấu mình vào một kỷ luật tôn
giáo trong một khoảng thời gian nhất định. Trên thế giới
rộn rịp ngày nay, các tín đồ tại gia cảm thấy khó có
thể giam mình trong một ngôi chùa trên núi để tu đạo trong
một thời gian dài. Nhưng dù chỉ trong một ngày - ví dụ ngày
chủ nhật - hay trong ba ngày liên tiếp khi chúng ta có thời
giờ rỗi rãnh, chúng ta nên quên mọi việc đời mà tích cực
nỗ lực học tập giáo lý hay Thiền định, hoặc tụng và
chép kinh. Tại sao như thế là cần thiết ? Vì cứ lặp lại
như thế, các hành tác sẽ thành một thói quen, do đó chúng
ta sẽ tạo nên những thói quen tốt về mặt tâm linh. Sự
tư duy thâm sâu và suy nghĩ nghiêm túc sẽ trở thành một thói
quen của tâm thức.
Hãy giả
dụ rằng ta nghe ai đó báo cáo, “Sinh viên băng qua các đường
phố trong một cuộc biểu tình, mang cờ và áp-phích”. Một
số người sẽ cảm thấy bực dọc ngay - “Ối, sinh viên
lại biểu tình nữa!” - dù rằng họ không biết lý do của
cuộc biểu tình. Mặt khác, những người khác lại vui vẻ:
“Ồ, tốt ! Một số rắc rối đang âm ỉ đây.” Một nhà
giáo sẽ lo lắng về giáo dục lớp trẻ khi ông nghe có biểu
tình. Một người mua bán cổ phiếu sẽ nghĩ ngay đến ảnh
hưởng có thể gây nên do cuộc biểu tình đối với giá cả
cổ phần. Tất cả những thái độ như thế đều do bởi
thói quen tâm thức của người ta.
Khi ta cố
queân việc đời trong một thời gian nhất định và tập trung
tâm thức vào một đối tượng đơn lẻ thì sự thực hành
như thế trở thành một thói quen của tâm thức. Giả sử
có người suốt trong ba tuần cứ mãi suy nghĩ: “Những người
khác cũng như chính ta thảy đều được đức Phật khiến
cho sống”. Sức mạnh và sự kiên trì của thói quen như thế
có mức độ khác nhau, tùy theo ta thực hành thói quen ấy tinh
cần như thế nào, ta duy trì nó triệt để ra sao, ta kiên trì
với nó trong bao lâu. Nếu ta liên tục nghĩ đến một cái
gì trong một giờ và rồi xao lãng sự chú tâm thì sự suy
nghĩ của ta sẽ không bao giờ trở thành một thói quen. Nếu
ta cố liên tục suy nghĩ thâm sâu đến chỉ một thứ gì thôi
trong một ngày thì xu hướng tâm thức như thế có thể tiếp
tục trong khoảng một tuần. Từ quan điểm tạo những thói
quen tôn giáo, ta thấy việc những tín đồ ở các nước Thiên
chúa giáo có thói quen đi nhà thờ vào các ngày chủ nhật
quả thật là rất tốt.
Sự nỗ lực
chuyên tâm vào một đối tượng trong ba tuần lễ khiến ta
tạo ra được những thói quen tốt về tâm linh (mặc dù một
người siêu đẳng có thể thọ nhận sự mặc khải lớn lao
từ Thượng đế hay từ đức Phật, đấy là một trường
hợp ngoại lệ). Những ai quá bận rộn nếu phải dành riêng
một thời gian đặc biệt thì nên cố gắng chuyên chú vào
giáo lý sâu xa của đức Phật trong một giờ thường xuyên
hàng ngày càng tốt. Sự lặp đi lặp lại việc ấy cũng tạo
thành một thói quen tâm thức.
Tâm thanh
tịnh và sự phấn kích tôn giáo mà chúng ta cảm nhận được
sau khi tận lực trong tu hành có thể được so sánh với cảm
giác nhìn thấy Bồ-tát Phổ Hiền cỡi voi trắng.
Bồ-tát bạch
tiếp: “Con lại còn cho họ Đà-la-ni; và khi họ được Đà-la-ni
này thì không có ai, không có phi nhơn nào có thể phá hoại
họ được, cũng không có nữ nhân nào quyến rũ họ được.
Tự thân con vẫn luôn che chở họ. Xin Thế Tôn cho phép con
đọc bài chú Đà-la-ni này.”
Các từ “không
có ai, không có phi nhơn nào” ngầm trỏ tiền bạc hay các
thứ vật chất. Nếu những thứ này được kiếm ra và được
sử dụng cho mục đích chánh đáng thì chúng không bao giờ
trở thành một trở ngại cho niềm tin, nhưng nếu quá ham muốn
chúng thì tâm sẽ bị lệch lạc. Biểu ngữ “không có nữ
nhân nào quyến rũ họ” phản ánh lập trường của phái
nam, nhưng sự biểu thị ngược lại sẽ áp dụng cho lập
trường của phái nữ. Biểu thức này chỉ đơn giản trỏ
đến giới tính đối lập. Tình yêu vợ chồng giữa người
chồng và người vợ dĩ nhiên là một yếu tố quan trọng
trong việc tạo lập gia đình và xã hội. Tuy nhiên, người
ta có xu hướng trở thành bị ràng buộc vào tình yêu như
thế và trở thành ích kỷ trong tình yêu. Họ có thể không
biết đến cái tình yêu rộng lớn hơn mà họ nên có đối
với tất cả chúng sanh. Một số người khác thì đắm mình
trong tình yêu nhục dục đối với nhiều người và thực
hiện những hành động gian dối. Nếu họ luôn nghĩ đến
hạnh của Bồ-tát Phổ Hiền thì tâm họ, vốn có thể bị
lòng ham muốn giới tính khác với giới tính họ dẫn đi sai
lạc, có thể quay về con đường chân chánh, tràn đầy tình
thương người cao cả và tinh ròng.
Thế rồi,
trước sự hiện diện của đức Phật, Bồ-tát Phổ Hiền
đọc bài chú sau đây: “A-đàn-địa đàn-đà-bà-địa đàn-đà-bà-đế
đàn-đà-cưu-xá-lệ đàn-đà-tu-đà-lệ tu-đà-lệ tu-đà-la-bà-đế
phật-đà-ba-chiên-nễ đà-la-ni a-bà-đa-ni tu-a-bà-đa-ni tăng-già-bà-lý-xoa-ni
tăng-già-niết-già-đà-ni đạt-ma-tu-ba-lý-sát-đế tát-bà-tát-đỏa-lâu-đà-kiêu-xá-lược-a-nâu-già-đế
tân-a-tỳ-kiết-lỡ-địa-đế.”
(Adande dandapati
dandàvartani dandakusale dandasudhàri sudhàri sudhàrapati budhapa'syane
dhàrani àvartani samvartani samghaparìkshite samghanirghàtani dharmaparìkshte
sarvasattva-rutakau'sayànugate simhavikrìdite [anuvarte vartàni vartàli
svàhà]).
“Bạch Thế
Tôn ! Nếu có vị Bồ-tát nào nghe đà-la-ni này, vị ấy sẽ
biết đến sức thần thông của Phổ Hiền. Nếu trong khi kinh
Pháp Hoa tiến hành qua cõi Diêm-phù-đề mà có những ai thọ
trì kinh thì những người ấy nên nghĩ rằng:
"Đây toàn
là uy lực của Phổ Hiền". Nếu những ai thọ trì, đọc tụng,
nhớ nghĩ đúng đắn kinh này, hiểu ý nghĩa kinh và thực hành
như kinh dạy thì nên biết rằng những người ấy đang thực
hành hạnh Phổ Hiền và vốn vun trồng thâm sâu căn lành trong
vô lượng vô biên cõi Phật và sẽ được chư Như Lai xoa
đầu. Nếu những người ấy chỉ chép kinh thì khi mạng chung,
họ sẽ được sinh lên cõi trời Đao-lỡ (Tràyastrimsa); lúc
ấy họ sẽ được tám vạn bốn ngàn thiên nữ tấu đủ
loại âm nhạc mà đến nghênh đón và họ sẽ đội mũ bảy
báu, hưởng lạc thú giữa đám thiên nữ; huống chi những
ai thọ trì, đọc tụng, niệm nghĩ kinh đúng đắn, hiểu ý
nghĩa kinh và thực hành theo kinh dạy thì lạc thú sẽ lớn
hơn biết bao ! Nếu những ai thọ trì, đọc tụng, niệm nghĩ
kinh đúng đắn, hiểu ý nghĩa kinh thì khi mạng chung sẽ được
một ngàn đức Phật đón nhận, khiến cho không sợ hãi, không
rơi vào đường xấu mà thẳng tiến lên chỗ của Bồ-tát
Di-lặc trên cõi trời Đâu-suất, tại đấy Bồ-tát Di-lặc
có ba mươi hai tướng tốt, có hội chúng đại Bồ-tát vây
quanh và có trăm ngàn vạn ức quyến thuộc của Thiên nữ;
những người ấy sẽ được sinh ra trong đám đông này.”
Cú ngữ “sẽ
được chư Như Lai xoa đầu” có nghĩa là hàng tín giả được
đức Phật khen ngợi và tín nhiệm. Nhóm từ này ngầm trỏ
niềm vui lớn lao nhất của họ, một cuộc sống đầy phấn
kích tôn giáo. Cú ngữ kế tiếp, “Nếu những người ấy
chỉ chép kinh thì khi mạng chung, họ sẽ được sinh lên cõi
trời Đao-lỡ” có nghĩa là họ sẽ không đạt đến cấp
độ tâm thức của sự phấn kích tôn giáo nhưng khổ đau
được gỡ bỏ khỏi tâm họ, họ sẽ sống đời hạnh phúc
an bình.
Cú
ngữ “tiến thẳng lên chỗ của Bồ-tát Di-lặc” có nghĩa
là hàng tín giả sẽ có được cái tâm từ bi như Bồ-tát
Di-lặc và sẽ hàng ngày tinh cần thực hành hạnh Bồ-tát.
Ba vị Bồ-tát đại diện ba điểm quan trọng trong giáo lý
kinh Pháp Hoa đã được nêu (xem trang 431) là: Bồ-tát Văn-thù
(trí tuệ của đức Phật), Bồ-tát Di-lặc (từ bi của Ngài)
và Bồ-tát Phổ Hiền (Đạo hạnh của Ngài). Bồ-tát Di-lặc,
tiêu biểu cho lòng từ bi của đức Phật, được xem là vị
kế tục đức Thích-ca-mâu-ni Như Lai. Bằng tiếng Nhật Ngài
được gọi là Fusho no Bosatsu “vị Bồ-tát sẽ kế vị (đức
Phật). Người ta tin rằng ngài Di-lặc đang sống trên trời
Đâu-suất, chờ thời sẽ xuống cõi Ta-bà này và thành đức
Phật kế tiếp do kết quả tu tập của ngài. Trong một ý
nghĩa, người ta có thể bảo ngài là vị Bồ-tát cao nhất.
Vì lý do này, ngài có được ba mươi hai tướng của đức
Phật. Nhóm từ “tiến thẳng lên chỗ của Bồ-tát Di-lặc
cũng có nghĩa là nếu ai tiếp tục hạnh từ bi trong cõi Ta-ba,
người ấy sẽ cảm thấy đáng sống và niềm vui lớn lao
trong cuộc sống.
Ngài Phổ
Hiền bạch tiếp: “Những công đức, lợi lạc của họ là
như thế đấy. Do đó, người trí nên nhứt tâm sao chép kinh
hay khiến người khác sao chép, thọ trì, đọc tụng, niệm
nghĩ đúng đắn kinh và thực hành theo như kinh dạy. Bạch
Thế Tôn ! Nay con xin lấy sức thần thông mà thủ hộ kinh
này để sau khi Như Lai diệt độ, kinh được quảng bá không
ngừng trong cõi Diêm-phù-đề.”
CHỨNG ĐẮC
CAO NHẤT VỀ SỰ PHẤN KÍCH TÔN GIÁO.
Bấy giờ
đức Phật Thích-ca-mâu-ni khen ngợi Bồ-tát: “Hay lắm, hay
lắm, Phổ Hiền, Ông có thể hộ trợ kinh này, mang lại hạnh
phúc, an lạc cho chúng sanh ở nhiều nơi. Ông đã thành tựu
các công đức không thể nghĩ bàn, thành tựu lòng đại từ
bi thâm sâu. Từ quá khứ xa xôi, Ông đã mong cầu Chứng ngộ
Toàn hảo và đã có thể phát nguyện thần thông này để
thủ hộ kinh này. Nay Ta, bằng sức Thần thông sẽ hộ trì
những ai thọ trì danh hiệu của Bồ-tát Phổ Hiền. Phổ Hiền
! Nếu những ai thọ trì, đọc tụng, nhớ niệm đúng đắn,
thực hành và sao chép kinh Pháp Hoa này thì Ông nên biết rằng
những người ấy đang đảnh lễ đức Phật Thích-ca-mâu-ni;
Ông nên biết rằng đức Phật ngợi khen họ - "Hay lắm !";
Ông nên biết rằng họ đang được đức Phật Thích-ca-mâu-ni
xoa đầu; Ông nên biết rằng họ được che phủ bằng đức
Phật Thích-ca-mâu-ni.”.
Cú ngữ “Họ
được che phủ bằng áo của đức Phật Thích-ca-mâu-ni”
trỏ trạng thái tâm thức khi ta được giữ chặt trong vòng
tay của đức Phật; đây là chứng đắc cao nhất về sự
phấn kích tôn giáo và an tịnh của tâm. Không trở ngại nào
có thể phá hỏng niềm tin hay sự tu tập của người đã
chứng đắc được cấp độ này.
Đức Phật
dạy tiếp: “Những người như thế sẽ không còn ham muốn
lạc thú thế tục, cũng không thích kinh thư và thủ bút của
ngoại đạo, không thích thân cận với những người như sau
và những kẻ ác khác, hoặc đồ tể, hoặc chăn nuôi heo,
dê, gà, chó, hoặc người đi săn, hoặc kẻ hiếu sắc. Những
người như thế sẽ có tâm ý chân chánh, có mục đích đúng
đắn và có phước đức.”
Ta phải cẩn
thận chú ý đến cú ngữ “Những người như thế không còn
ham muốn lạc thú thế tục.” Điều này không có nghĩa rằng
sống đời hạnh phúc, lạc thú là xấu, mà có nghĩa rằng
bị trói buộc vào hạnh phúc, lạc thú rồi khao khát hạnh
phúc, lạc thú là xấu. Nghiên cứu kinh văn ngoại đạo cũng
không phải là xấu mà thực ra là giúp ích cho ta mở rộng
cái nhìn tâm linh và giúp ta có thể phân biệt rõ hơn giữa
chân lý và phi chân lý. Nhưng ta không nên bị ràng buộc vào
kinh điển ngoại đạo vì nếu thế thì ta sẽ không còn nhìn
thấy chân lý.
Từ “thủ
bút” nghĩa là “thi ca” trong văn bản tiếng Phạn, nhưng
ở đây từ này có thể được hiểu là văn chương thế tục
nói chung. Đây không có nghĩa rằng văn chương là xấu đối
với người ta, mà có nghĩa rằng văn chương là không tốt
đối với ta khi ta bị mê đắm trong văn chương đồi trụy
và rẻ tiền khiến tâm trí ta bị che mờ, không thấy được
chânlý.
Ta phải đặc
biệt cẩn thận để đừng bị hiểu nhầm cú ngữ sau đây:
“không thích thân cận với những người như sau và những
kẻ khác, hoặc đồ tể, hoặc chăn nuôi heo, dê, gà, chó,
hoặc người đi săn, hoặc kẻ hiếu sắc”. Đây không có
nghĩa là ta không nên giao thiệp với những người như thế,
mà có nghĩa là ta chớ để bị ảnh hưởng bởi cái khung
cảnh do họ tạo ra. Nếu ta, vốn là người muốn quảng bá
Phật pháp trên khắp thế giới, lại loại trừ những người
dấn thân vào những nghề nghiệp như thế thì ta sẽ vi phạm
thô bạo đến ý định thực sự của đức Phật là cứu
độ hết thảy chúng sanh. Và nếu thế thì ta không thể đạt
được hạnh phúc tâm linh được miêu tả ở cú ngữ: “Những
người như thế sẽ có tâm ý chân chánh, có mục đích đúng
đắn và có phước đức.”
Ta còn đọc
thấy câu sau đây: “Những người như thế sẽ không bị
ba độc não hại, cũng không bị tật đố, ngã mạn, tăng
thượng mạn não hại.” Ba độc là tham (ham muốn), sân (nóng
giận), si (si muội) bị xem là ba thứ độc căn gốc đưa người
bình thường đến sự suy thoái. “Ngã mạn” nghĩa là ích
kỷ, tự cao.
“Tà mạn”
nghĩa là sự kiêu căng sai lầm, nghĩ rằng mình đúng dù mình
sai trái. “Tăng thượng mạn” nghĩa là tà mạn và tự phụ
do cái ảo tưởng rằng mình thông hiểu những gì mà người
ta khó hiểu được. Tật đố phát sinh do người ta có cảm
giác mình thấp kém trong khi ngã mạn, tà mạn, tăng thượng
mạn phát sinh từ cảm giác tự tôn sai lầm. Những thứ tự
kiêu, tự cao này sinh ra do người ta nhìn các sự vật từ
một quan điểm lệch lạc và quy ngã. Những ai đã thực sự
hiểu Phật pháp và đã có thể đạt được cái nhìn đúng
đắn về các sự vật sẽ không bao giờ nhượng bộ lối
suy nghĩ lệch lạc như thế.
Đức Phật
cũng tuyên bố: “Những người như thế sẽ bằng lòng với
những ham muốn ít ỏi của mình và có thể tu hạnh của Phổ
Hiền”. Cụm từ “những ham muốn ít ỏi” (thiểu dục)
nghĩa là ít ham muốn các thứ trong đời. Ở đây “ham muốn”
không chỉ gồm ham muốn tiền bạc và các vật chất mà còn
mong được địa vị, danh vọng. Nó cũng trỏ sự mong muốn
được những người khác thương yêu và phục vụ. Một người
đã đạt đến cấp độ tâm thức về niềm tin thâm sâu thì
có rất ít các ham muốn và thờ ơ với các ham muốn. Ta phải
cẩn thận lưu ý rằng dù một người như thế thờ ơ với
những ham muốn thế tục, người ấy cũng rất khát khao chân
lý, tức là người ấy có sự ham muốn lớn lao đối với
chân lý. Thờ ơ với chân lý là biếng nhác trong đời sống.
Bằng lòng với những ham muốn ít ỏi (tri túc, thiểu dục)
nghĩa là thỏa mãn với sự thu đạt vật chất ít ỏi, tức
là không cảm thấy buồn bực với số phận của mình và
không lo lắng gì đến việc đời. Tuy nhiên, đây không có
nghĩa là không quan tâm đến sự tự cải tiến mà cố gắng
tối đa trong công việc chứ không chán nản. Một người như
thế chắc chắn sẽ được người chung quanh biết tới. Nhưng
dù cho anh ta không được như thế, anh ta cũng sẽ cảm thấy
hoàn toàn hạnh phúc vì theo một quan điểm tâm linh, anh ta
sống như một ông vua.
Đức Phật
dạy tiếp: “Phổ Hiền ! Sau khi Như Lai diệt độ, vào năm
trăm năm sau, nếu có người nhìn thấy một người thọ trì,
đọc tụng kinh Pháp Hoa, người ấy phải nghĩ rằng: "Người
này chẳng bao lâu sẽ đến Đạo trường, phá chúng Ma, đạt
được Tối thượng Bồ-đề, chuyển bánh xe Pháp, đánh trống
Pháp, thổi loa Pháp, rải mưa Pháp, sẽ ngồi Pháp tòa sư tử
giữa đại chúng Trời và Người."“
Chúng ta có
thể hiểu đoạn trên là đoạn miêu tả sự chứng Chánh đẳng
giác của đức Phật Thích-ca-mâu-ni dưới cội Bồ-đề và
sự nghiệp truyền bá Chánh pháp của Ngài. Chúng ta cũng có
thể xem đây là lời bảo đảm của đức Phật rằng hễ
ai thọ trì, đọc tụng kinh Pháp Hoa thì dứt khoát sẽ đạt
Vô thượng Bồ-đề.
Thế rồi
đức Phật tuyên bố: “Phổ Hiền ! Trong tương lai, những
ai thọ trì, đọc tụng kinh này sẽ không còn tham trước vào
y phục, chỗ nằm, thức ăn uống và các thứ tư sanh; những
gì họ muốn không bao giờ là không được và ngay trong đời
hiện tại, họ sẽ được phước báo.”
Từ “các
thứ tư sanh” nghĩa là những thứ cần thiết cho đời sống.
Cú ngữ “những gì họ muốn không bao giờ là không đượ
c” trỏ ý ước mong được hạnh phúc viên mãn của họ chắc
chắn sẽ được thành tựu. Do đó “trong đời hiện tại,
họ sẽ được phước báo”. Không tham trước vào cuộc sống
vật chất trỏ cho một cái tâm vô vị kỷ. Ý muốn tất cả
những người khác được hạnh phúc viên mãn phát xuất từ
lòng từ bi và từ cái tâm vô vị kỷ của mình. Người nào
có cái tâm quảng đại như thế chắc chắn sẽ được quả
báo trong đời hiện tại vì cuộc sống của chính vị ấy
sẽ tràn đầy niềm vui, sự an tâm và hyvọng.
TỘI LỖI
CỦA VIỆC KHINH THƯỜNG VÀ PHỈ BÁNG HÀNG TÍN GIẢ.
Đức Phật
dạy tiếp: "Nếu có kẻ nào khinh thường và phủ báng họ
rằng: “Ông chỉ là kẻ khùng, theo đuổi con đường này
một cách vô ích, rốt chẳng được gì cả." Quả báo của
tội lỗi như thế là sẽ bị mù đời này đời khác. Nếu
có ai cúng dường, tán thán họ thì ngay đời này, người
ấy sẽ được phước báo rõ ràng.”
Cú ngữ “Quả
báo của tội lỗi như thế là sẽ bị mù đời này đời
khác” là một biểu thị có tính cách Ẩn dụ về sự sâu
nặng của tội lỗi. Tại sao trong kinh Pháp Hoa, sự khinh thường,
phỉ báng hàng tín giả lại là tội lỗi lớn như vậy ? Đấy
là vì ngôn ngữ và hành tác của một người như thế gây
trở ngại cho việc chuyển bánh xe Pháp. Hãy giả thử một
người cứ luôn trộm cắp, lừa đảo. Hẳn nhiên là những
hành động như thế là vi phạm năm giới của Phật giáo và
việc làm điều xấu thì gây phiền phức cho những người
khác. Tuy nhiên, vì những hành động xấu ấy thế nào cũng
mang lại quả báo, một người như thế hiển nhiên sẽ bị
lên án và sẽ bị phạt vì những hành động xấu của anh
ta. Những người khác thấy thế sẽ nghĩ rằng: “Sớm muộn
gì những hành động xấu cũng sẽ bị phát hiện. Ta chớ
bao giờ làm những điều như thế.”
Những hành
động xấu như thế có một ảnh hưởng trong một phạm vi
tương đối hẹp. Mặt khác, dù ngôn ngữ và hành tác gây
trở ngại cho việc quảng bá Chánh pháp thì không bị pháp
luật xử phạt, chúng cũng gây một ảnh hưởng lớn đến
hoàn cảnh sống của con người. Nếu Chánh pháp được
quảng bá khắp nơi thì vô số người sẽ đạt được công
đức của Chánh pháp và nhờ Chánh pháp mà từ bỏ cuộc sống
xấu ác. Khi một người ngăn cản những người khác truyền
bá Chánh pháp, người ấy phạm một trọng tội. Tội của
anh ta không biểu lộ ra, nhưng ảnh hưởng của nó thì quá
lớn lao đến nỗi các Phật tử gọi đấy là “cắt đứt
mầm Pháp”, một hình thái tu từ diễn tả rất hay về tính
trầm trọng của sự phỉ báng Chánh pháp.
Quả báo
khủng khiếp của sự phỉ báng Chánh pháp được miêu tả
một cách tượng hình như sau: “Lại nữa, nếu có ai trông
thấy những người thọ trì kinh này rồi vạch những sai trái,
tội lỗi của họ dù thật, dù không thật thì người ấy
ngay trong đời này sẽ bị phong hủi. Nếu người ấy mỉa
mai họ thì đời này đời khác, răng của người ấy sẽ
bị thưa và thiếu, môi xấu, mũi tẹt, tay chân cong queo, mắt
lé, thân thể hôi thối vì ghẻ mụt máu mủ, bụng ỏng, hơi
thở ngắn và mang đủ mọi trọng bệnh”.
Sau đó đức
Phật dạy: “Do đó, Phổ Hiền, nếu có ai trông thấy những
người thọ trì kinh này thì nên đứng dậy nghênh đón từ
xa như tôn kính đức Phật vậy.” Bằng lời dạy này, đức
Phật kết thúc việc giảng kinh Pháp Hoa diễn ra ở hai nơi
và ba hội chúng. Ngài bảo rằng toàn thân của đức Như Lai
ở trong giáo lý của kinh Pháp Hoa, những ai tin và thực hành
giáo lý này cần phải được tôn kính như tôn kính đức
Phật. Chúng ta nên thọ nhận lời dạy này của đức Phật
với lòng biết ơn.
Phẩm 28 kết
thúc bằng đoạn sau đây: “Trong khi đức Phật giảng phẩm
"Phổ Hiền Khuyến Phát" này, vô lượng, vô biên Bồ-tát được
trăm ngàn vạn ức đà-la-ni Triền và số Bồ-tát nhiều như
bụi của Tam thiên đại thiên thế giới đều thành tựu con
đường Phổ Hiền.”
“Khi đức
Phật giảng kinh này, ngài Phổ Hiền cùng các Bồ-tát khác,
ngài Xá-lợi-phất và các Thanh văn khác, Trời, Rồng, Người
và Không phải người và mọi vị khác trong đại chúng hội
đều rất vui mừng, thọ trì lời Phật dạy, lễ bái mà đi.”