Phẩm
27
DIỆU
TRANG NGHIÊM VƯƠNG BỔN SỰ
Phẩm này
có vẻ như kể lại một câu chuyện huyễn hoặc từ một
thế giới, một thời xa xưa, nhưng thật ra nó dạy một bài
học thích ứng với đời sống thường nhật của chúng ta.
Phẩm này liên quan đến tôn giáo trong gia đình và ở đây
nó được trình bày như một vấn đề của người cha và
các con trai của ông mà mỗi bên có tín ngưỡng khác nhau.
Vấn đề của một người cha có tín ngưỡng sai lạc và các
con của ông có niềm tin vào một tôn giáo đúng đắn, và
thái độ của người mẹ phải đối xử với các cha con là
một cái gì chung trong xã hội ngày nay.
Câu chuyện
cũng liên quan đến vấn đề niềm tin mà những người đang
giữ chức vụ lãnh đạo cần phải nắm vững. Trong xã hội
ngày nay, tự do tôn giáo được bảo đảm cho mọi cá nhân
và không có quyền lực nào có thể tước đi của anh ta tự
do ấy. Những niềm tin tôn giáo của những người cầm quyền
đương nhiên gây ảnh hưởng lên nhiều người khác, dù cho
đây là một vấn đề riêng tư về một niềm tin của một
người. Những hành động của vua Diệu Trang Nghiêm gợi lên
cho chúng ta vấn đề này. Vua Diệu Trang Nghiêm và hai người
con trai của ông đã từ bỏ cuộc đời. Vào thời đại
chúng ta, tôn giáo và đời sống thường nhật không được
xem là đối lập mà được coi là tương hợp. Nếu ta hiểu
sự từ bỏ cuộc đời của các vương tử và sự thoái vị
của vị vua ấy theo nghĩa đen thì có thể ta sẽ hiểu nhầm
câu chuyện này. Sự từ bỏ thế giới của hai hoàng tử vốn
đang trong hoàn cảnh sung sướng trỏ cái ý tưởng rằng sự
bình an của tâm thức xuyên qua đời sống tâm linh thì quan
trọng hơn rất nhiều so với sự thỏa mãn trong đời sống
vật chất. Câu chuyện vua Diệu Trang Nghiêm, được sự tán
đồng của người em, đã từ bỏ ngai vàng và sống đời
Phạm hạnh thể hiện tư tưởng rằng vương quốc tâm linh
được thiết lập trong tâm người ta thì có giá trị hơn
rất nhiều so với thế quyền của một vị vua. Ta không nên
hiểu nhóm từ “từ bỏ cuộc đời” theo nghĩa đen mà cần
phải hiểu nó có nghĩa là sự cải đổi cuộc sống tâm linh
của con người.
Theo thứ
tự nội dung của phẩm này, trước hết chúng ta hãy theo dõi
câu chuyện về vua Diệu Trang Nghiêm rồi sau đó bàn về các
từ và thuật ngữ quan trọng.
Bấy giờ
đức Phật nói với đại chúng: “Ngày xưa, cách đây vô
lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp không thể nghĩ bàn, có một
vị Phật tên là Vân Lôi Âm Túc Vương Hoa Trí là đấng Như
Lai, Ứng Cúng, Tam-muội-tam-bồ-đề, quốc độ của Ngài tên
là Quang Minh Trang Nghiêm, kiếp của Ngài tên là Hỷ Kiến.
Trong thời Ngài có một vị vua tên là Diệu Trang Nghiêm. Vợ
của vua ấy tên là Tịnh Đức, có hai người con trai tên là
Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn. Hai người con trai ấy có thần lực
lớn, phước đức và trí tuệ, tu theo con đường chư Bồ-tát
đã hành, tức là bố thí Ba-la-mật, trì giới Ba-la-mật, nhẫn
nhục Ba-la-mật, tinh tấn Ba-la-mật, Thiền định Ba-la-mật,
trí tuệ Ba-la-mật, phương tiện Ba-la-mật, từ, bi, hỷ, xả
cho đến ba mươi bảy phẩm trợ đạo, tất cả đều được
họ thông đạt. Họ cũng đã đắc Bồ-tát tịnh tam-muội,
Nhựt tinh tú tam-muội, Tịnh quang tam-muội, Tịnh sắc tam-muội,
Tịnh chiếu minh tam-muội, Trường trang nghiêm tam-muội và
Đại oai đức tạng tam-muội; họ đều thông đạt các tam-muội
ấy.
“Bấy giờ
đức Phật ấy muốn dẫn đạo vua Diệu Trang Nghiêm và có
lòng thương tưởng chúng sanh nên giảng kinh Pháp Hoa này. Lúc
ấy hai người con trai Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn ấy đến chỗ
mẹ, chắp tay thưa rằng: "Thưa mẹ, xin mẹ đến thăm đức
Phật Vân Lôi Âm Túc Vương Hoa Trí. Chúng con cũng xin theo hầu,
thân cận, cúng dường và lễ bái Ngài. Tại sao ? Vì đức
Phật ấy thuyết giảng kinh Pháp Hoa trong hội chúng Trời và
Người và chúng ta cần phải nghe kinh ấy". Người mẹ trả
lời cùng các con bà: "Cha các con tin ngoại đạo, bị ràng
buộc thâm sâu vào pháp Bà-la-môn. Các con nên đến nói với
cha các con rằng người nên cùng đi với chúng ta". Tịnh Tạng
và Tịnh Nhãn chắp hai bàn tay mười ngón thưa mẹ rằng: "Chúng
con là con của Pháp vương dù sinh ra trong nhà tà kiến này".
Người mẹ nói với các con: "Các con nên thương cảm cha các
con mà cho người thấy một số thần thông để cho tâm người
được thanh tịnh và có lẽ người sẽ cho phép chúng ta đến
chỗ đức Phật".
“Thế là
hai người con trai nghĩ đến cha, nhảy lên hư không, cao bằng
bảy cây ta-la, hóa hiện nhiều thứ thần biến, đi, đứng,
ngồi, nằm giữa hư không; phía trên thân thì tuôn nước,
phía dưới thân thì phun lửa hoặc phía dưới tuôn nước
thì phía trên phun lửa; hoặc hiện thân lớn đầy cả hư
không, rồi hiện thân nhỏ; hoặc hiện thân nhỏ rồi hiện
thân lớn; rồi biến mất trong không trung rồi bỗng hiện
ra trên đất, nhập vào đất như vào nước, đi trên nước
như trên đất; thị hiện các thần thông như vậy, họ khiến
cho vua cha tâm được thanh tịnh mà tin hiểu.
“Khi trông
thấy thần lực của các con như thế, người cha rất đỗi
vui mừng, chắp tay hướng về các con mà nói: "Ai là thầy
của các con ? Các con là đệ tử của ai ?" Hai người con thưa:
"Tâu Đại vương, đức Phật Vân Lôi Âm Túc Vương Hoa Trí
kia hiện đang ngồi trên Pháp tòa dưới cội Bồ-đề bảy
báu mà giảng kinh Pháp Hoa giữa hội chúng gồm Trời và Người
chính là thầy của chúng con, chúng con là đệ tử của Ngài".
Người cha
liền bảo các con:
"Giờ đây
ta cũng muốn trông thấy Thầy của các con; chúng ta hãy cùng
đi".
“Thế rồi
hai người con từ không trung bước xuống, đến chỗ người
mẹ, chắp tay thưa: "Phụ vương chúng con giờ đây đã tin
và hiểu, đã có thể phát tâm Tam-muội Bồ-đề. Chúng con
đã làm Phật sự đối với cha chúng con. Xin mẹ cho phép chúng
con xuất gia tu đạo theo đức Phật ấy".
“Bấy giờ
hai người con muốn trùng tuyên ý mình, dùng kệ thưa với
mẹ:
"Xin
buông thả chúng con
Xuất gia
làm Sa-môn
Thật khó
gặp chư Phật
Chúng con
theo học Phật
Như hoa ưu-đàm-bát
Gặp Phật
thật khó hơn
Thoát các
nạn cũng khó.
Xin cho phép
xuất gia".
“Người mẹ
liền bảo: "Ta cho phép các con xuất gia. Tại sao ? Vì khó gặp
được Phật vậy".
“Bấy giờ
hai người con thưa với cha mẹ: "Hay lắm, thưa cha, thưa mẹ
! Xin cha mẹ giờ đây hãy đến chỗ đức Phật Vân Lôi Âm
Túc Vương Hoa Trí, thân cận và cúng dường Ngài. Vì sao ?
Vì khó gặp Phật, như hoa ưu-đàm-bát-la vậy, lại giống
như con rùa một mắt gặp được lỗ trống của miếng gỗ
đang nổi trên nước(1). Nhưng chúng con được phước đức
thâm hậu từ trước, nay sanh ra gặp Phật pháp. Do đó, thưa
cha mẹ, xin nghe chúng con mà để cho chúng con xuất gia. Tại
sao ? Vì khó gặp được chư Phật và cơ may cũng khó có vậy".
“Lúc bấy
giờ tất cả tám vạn bốn ngàn vương hậu của vua Diệu
Trang Nghiêm đều thọ trì được kinh Pháp Hoa này. Bồ-tát
Nhãn Tịnh đã thông đạt được Tam-muội Pháp Hoa từ lâu.
Bồ-tát Tịnh Tạng cũng từ trăm ngàn vạn ức kiếp đã thông
đạt Tam-muội Ly chư ác thú, muốn khiến tất cả chúng sanh
thoát khỏi mọi sanh thú xấu ác. Vị phu nhân của vua đạt
được Tam-muội Chư Phật tập và có thể biết được mật
tạng của chư Phật. Hai người con đã dùng sức phương tiện
để cải hóa thân phụ như thế, khiến tâm của thân phụ
được tín giải và an lạc trong Phật pháp.
“Bấy giờ
vua Diệu Trang Nghiêm cùng với quần thần quyến thuộc, hoàng
hậu Tịnh Đức cùng với các thể nữ của hậu cung và quyến
thuộc và hai người con của vua cùng với bốn vạn hai ngàn
người đồng thời đi đến chỗ Phật. Sau khi đến, họ cúi
đầu lễ dưới chân Phật, nhiễu quanh Phật ba vòng rồi đứng
sang một bên.
“Thế rồi
đức Phật thuyết Pháp cho vua, khiến vua được trông thấy,
được giáo hóa, được lợi lạc và được hoan hỷ, vua rất
vui mừng. Thế rồi vua Diệu Trang Nghiêm và hoàng hậu tháo
các chuỗi anh lạc đeo ở cổ trị giá hàng trăm ngàn và tung
lên phía trên đức Phật; trên không trung các chuỗi này hóa
thành một bảo đài có bốn trụ, trong đài có một giường
báu lớn được trải bằng trăm ngàn vạn tấm thiên y, trên
đó, đức Phật ngồi kiết-già, phóng sánh sáng rực rỡ.
Lúc ấy vua Đại Trang Nghiêm nghĩ rằng: "Thân của đức Phật
thật là hy hữu, đoan nghiêm, tuyệt diệu, toàn hảo với màu
sắc vi diệu nhất !"
“Lúc
ấy đức Phật Vân Lôi Âm Túc Vương Hoa Trí nói với bốn
chúng: "Các vị có thấy vua Diệu Trang Nghiêm đang chắp tay
ở trước Ta chăng ? Vị vua này đã trở thành một Tỳ-kheo
trong Pháp của Ta, và đã tinh cần tu tập các pháp trợ Phật
đạo, sẽ trở thành một vị Phật hiệu là Ta-la Thọ Vương,
có quốc độ tên là Đại Quang, kiếp tên là Đại Cao Vương.
Vị Phật Ta-la Thọ Vương này có vô số chúng Bồ-tát và
vô số Thanh văn và quốc độ của Ngài sẽ bằng phẳng ngay
thẳng. Công đức của Ngài là như thế".
“Nhà vua
liền trao quốc độ cho người em rồi cùng hoàng hậu, hai
vương tử cùng quyến thuộc xuất gia tu đạo trong Phật pháp.
Xuất gia xong, suốt tám vạn bốn ngàn năm, nhà vua luôn tinh
cần tu hành kinh Diệu Pháp Liên Hoa và sau đó đạt được
Tam-muội Nhứt thiết định công đức trang nghiêm.
“Kế đó,
vị ấy vượt lên không trung cao bảy cây ta-la mà bạch Phật:
"Bạch Thế Tôn, hai con trai của con đây đã làm Phật sự
bằng các biến hóa thần thông, chuyển hóa tà tâm của con,
khiến con an trụ vào Phật pháp và thấy được đức Thế
Tôn. Hai người con này là thiện tri thức của con, vì muốn
phát triển thiện căn được trồng trong các đời trước
của con và gây lợi ích cho con nên đã sinh vào nhàcon".
“Bấy giờ
đức Phật Vân Lôi Am Túc Vương Hoa Trí nói với vua Diệu
Trang Nghiêm: "Đúng như thế, đúng như thế, đúng như ngài
nói. Thiện nam tử hay thiện nữ nhơn nào vun trồng thiện
căn thì mỗi đời đều có được thiện tri thức; thiện
tri thức ấy có thể làm các Phật sự, trỏ cho thấy, giáo
huấn, làm lợi ích và làm hoan hỷ người ấy và khiến người
ấy nhập vào sự Chứng ngộ Viên mãn. Thưa Đại vương !
Ngài nên biết, một thiện tri thức là một nhân duyên lớn
nhờ đó người ta được cải hóa, được thấy Phật và
phát tâm Vô thượng Bồ-đề . Thưa Đại vương, ngài có thấy
hai người con trai này chăng? Hai người này đã cúng dường
chư Phật sáu mươi lăm lần trăm ngàn vạn ức na-do-tha cát
sông Hằng, thân cận và cung kính chư Phật, và nơi chư Phật
ấy, đã thọ trì kinh Pháp Hoa, thương xót chúng sanh đầy
tà kiến mà khiến chúng sanh an trụ chánh kiến".
“Lúc ấy
vua Diệu Trang Nghiêm từ không trung bước xuống bạch Phật:
"Bạch Thế Tôn, đức Như Lai thật là hy hữu; do công đức
và trí tuệ của Ngài mà nhục kế trên đầu Ngài chiếu ánh
sáng rực rỡ; mắt Ngài dài rộng với màu xanh biếc; chòm
lông giữa đôi mày thì trắng như trăng bạch ngọc; răng trắng
và đều khít, bao giờ cũng sáng bóng; sắc môi đỏ, đẹp
như trái tần-bà (bimba)". Khi tán thán công đức nhiều đến
vô lượng trăm ngàn vạn ức của đức Phật, vua Diệu Trang
Nghiêm nhứt tâm chắp tay trước đức Như Lai rồi lại bạch
Phật: "Thế Tôn là bậc chưa từng có. Giáo pháp của
đức Như Lai thành tựu những công đức vi diệu không thể
nghĩ bàn. Giáo giới mà Ngài truyền dạy thì gây an vui, thích
thú và tốt đẹp. Từ nay trở đi, con không còn đi theo
cái tâm của riêng con nữa, không sanh tà kiến, kiêu mạn,
sân hận hay tâm xấu ác khác". Nói lời này xong, nhà vua lễ
Phật rồi ra đi”.
Kết thúc
câu chuyện, đức Phật nói với đại chúng: “Ý các người
thế nào ? Vua Diệu Trang Nghiêm nay há là ai khác chăng ? Đấy
chính là Bồ-tát Hoa Đức nay vậy. Phu nhơn Tịnh Đức ấy
nay là Bồ-tát Quang Chiếu Trang Nghiêm Tướng đang ở trước
Phật, vị này do thương xót vua Diệu Trang Nghiêm và các quyến
thuộc của vua mà sinh ra trong những người ấy. Hai vương
tử ấy nay là Bồ-tát Dược Vương và Bồ-tát Dược Thượng.
Bồ-tát Dược Vương và Bồ-tát Dược Thượng này đã thành
tựu những công đức lớn như thế, trải qua vô lượng trăm
ngàn vạn ức đức Phật, vun trồng thiện căn và thành tựu
các công đức thiện lành không thể nghĩ bàn. Nếu có ai quen
thuộc với danh hiệu của hai Bồ-tát này thì hết thảy Trời
và Người trên thế gian đều đảnh lễ người ấy”.
Phẩm này
được chấm dứt bằng câu: “Trong khi đức Phật thuyết
giảng phẩm "Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn Sự" này, tám vạn
bốn ngàn người ra khỏi ô nhiễm bất tịnh và đắc pháp
nhãn tịnh.
Bây giờ
chúng ta hãy xét những điểm quan trọng của câu chuyện này.
Trước hết, chúng ta phải nghĩ đến cái ý nghĩa chân thật
của sự việc hai người con trai thi triển nhiều thứ thần
thông cho người cha thấy. Điều này không có nghĩa rằng họ
có thể thi triển thần thông nhờ giáo lý của đức Phật,
cũng không có nghĩa rằng họ khơi dậy sự hiếu kỳ của
người cha bằng cách chứng tỏ cho ông thấy các thần thông
ấy. Sự việc họ thực hiện các thần thông có nghĩa rằng
họ đã thay đổi hoàn toàn tính cách và nếp sống hàng ngày
của họ bằng cách học tập và tin Phật pháp. Sự việc họ
bày tỏ cho cha thấy các thần thông như thế chỉ có nghĩa
là trước mặt cha của họ, họ chứng tỏ giá trị thực
sự của giáo lý đức Phật bằng các hành động và khiến
người cha khởi lòng mong muốn được Chứng ngộ Viên mãn.
Khi ta đưa
những người khác đến giáo lý của đức Phật, không ai
theo ta do chỉ nghe ta ca ngợi Phật pháp. Ta phải nêu tỏ cho
họ lý do khiến Phật pháp được tôn kính. Điều quan trọng
là ta giải thích nội dung của Phật pháp. Ta phải làm rõ
giáo lý cho người khác thỏa mãn tùy theo trình độ hiểu
biết của họ, có khi đơn giản, có khi lý thuyết, có khi
dùng Ẩn dụ và có khi nêu tỏ dưới ánh sáng của khoa học
hiện đại.
BẰNG CHỨNG
SINH ĐỘNG LÀ CẦN THIẾT ĐỂ DẪN DẮT NHỮNG NGƯỜI KHÁC.
Phương cách
nhanh chóng và đơn giản nhất để đưa người khác đến
với giáo lý của đức Phật là xác chứng giáo lý bằng sự
thực hành giáo lý của chính ta. Điều quan tâm đầu tiên
của ta là nêu tỏ cho những người khác bằng chứng sinh động
- “Tôi đã thay đổi như thế này từ khi tin và thực hành
giáo lý của đức Phật”. Không có cách nào có hiệu lực
và trực tiếp hơn thế để dẫn dắt người khác. Tuy nhiên,
ta không thể nêu tỏ bằng chứng sinh động như thế trong
một thời gian hạn chế cho những ai mà ta hiếm khi gặp, trừ
khi ta có bằng chứng rõ ràng như ta được khỏi bệnh hay
ta có sự thay đổi tốt đẹp về hoàn cảnh. Mặt khác, các
thành viên trong một gia đình có thể cảm thấy những thay
đổi dù nhỏ nhặt trong các hành động và thái độ hàng
ngày của một ai đó. Nếu các con trai hay con gái thay đổi
do tin Phật pháp thì cha mẹ sẽ thấy được một sự thay
đổi lớn trong lời nói, trong thái độ của chúng đối với
cha mẹ, anh chị em và thái độ của chúng đối với những
người ngoài. Bằng chứng như thế chắc chắn sẽ có ảnh
hưởng đến mọi thành viên trong gia đình.
Ngược lại,
khi dẫn dắt các thành viên trong gia đình ta đến giáo lý,
tuy ta vẫn thường giải thích nội dung giáo lý và tuy phần
lớn sự giải thích của ta thỏa mãn họ được về mặt
tri thức, sự việc vẫn không đưa đến những kết quả thực
tiễn nếu ta không thay đổi thái độ của ta trong đời sống
hàng ngày. Ta có thể thốt ra những lời hay ho với những
người ngoài nhưng ta lại phản lại chính ta trong gia đình.
Khi một thành viên của gia đình ta thấy ta hành động trái
ngược với những gì ta nói, người ấy sẽ không nghe lời
ta nữa và phê phán: “Giáo lý có thể tốt, nhưng tôi không
thể tin giáo lý một khi anh vốn là một người tin lại hành
động như thế”.
Xem ra có
vẻ như ta dễ đưa các thành viên của gia đình đến Phật
pháp, nhưng thực ra đây là điều khó nhất. Ta nhận thấy
điều ấy đặc biệt khó trong trường hợp một người con
hay một người vợ dẫn dắt cha mình hay chồng mình đến
giáo lý. Cả người cha lẫn người chồng đều cầm quyền
trong gia đình. Không giống như một thiếu niên ít kinh nghiệm
việc đời và tâm trí còn non nớt, những người lớn tuổi
đã từng trải đường đời và kiên quyết giữ ý kiến của
họ. Họ tự tách mình khỏi những người trẻ bằng cách
liên hệ cái kinh nghiệm rộng rãi của họ với những ý kiến
cá nhân của họ. Do đó, dù cho họ cảm thấy các giáo lý
về căn bản là tốt, họ cũng không thể tự đưa mình vào
niềm tin giáo lý ấy huống chi là hành động phù hợp với
giáo lý. Dù tính cách của vua Diệu Trang Nghiêm không được
miêu tả, nhà vua cũng có thể được xem là một mẫu thức
của một người cha tiêu biểu.
Hai vị vương
tử tiếc cho cha mình đã tin theo ngoại đạo và chấp chặt
vào những tư tưởng lầm lạc. Nhưng người mẹ khôn ngoan
không bao giờ bảo các con công khai thúc giục người cha đến
yết kiến đức Phật Vân Lôi Âm Túc Vương Hoa Trí vì bà
đoán biết rằng những toan tính như thế sẽ tạo ra kết
quả trái ngược. Bà cũng không bảo bà sẽ làm trung gian giữa
chồng và các con. Sở dĩ như thế là vì bà không nghĩ rằng
bà được phép, bằng thái độ hời hợt, làm kẻ trung gian
trong vấn đề quan trọng là tín ngưỡng.
Vua Diệu
Trang Nghiêm là một người cha tốt. Khi ông trông thấy bằng
cớ của niềm tin được các con nêu tỏ thì ông hoan hỷ công
nhận. Ông có một cái tâm uyển chuyển. Phần lớn những
người cha khi được nêu tỏ bằng chứng gây ấn tượng như
thế, sẽ phê bình viện cớ này nọ, sẽ cố bắt bẻ người
nói bằng một số lỗi nhỏ nhặt của người ấy và sẽ
không từ bỏ những ý tưởng ngoan cố, những niềm tin sai
lạc của họ. Dù cho việc bắt gặp bằng chứng về kết
quả của niềm tin có thể gây ấn tượng trong nội tâm họ,
họ cũng ngần ngại công nhận nó vì nghĩ rằng nếu làm như
thế thì sẽ giảm uy tín của họ. Thái độ của vua Diệu
Trang Nghiêm quả là đáng phục. Đúng ra, người ta chỉ có
việc ngoan ngoãn theo cái chân lý mà người ta gặp gỡ; đấy
là phản ứng tự nhiên, nhưng một người đang ở vị trí
là cha của một gia đình hay là vua của một nước thì thường
không hành động một cách quả quyết và thẳng thắng như
vua Diệu Trang Nghiêm. Ông không chút ngại ngùng về việc giữ
thể diện của vua và không bị ràng buộc với ngai vàng mà
tôn trọng chân lý và sự người truyền bá chân lý. Điều
này được tỏ lộ bằng sự việc nhà vua gọi hai con trai
là thiện tri thức của mình.
Từ “thiện
tri thức” không chỉ có nghĩa là bằng hữu mà còn có nghĩa
là dẫn đạo. Vua Diệu Trang Nghiêm với vị trí là một ông
vua thi hành quyền lực trên đất nước và là một người
cha có quyền tuyệt đối trong gia đình đã có một cái tâm
thẳng thắn và cởi mở không có thể gọi các con mình là
thiện tri thức. Chúng ta không thể không cảm phục thái độ
chỉ tôn trọng chân lý của ông. Vấn đề niềm tin thế là
được giải quyết thỏa đáng trong gia đình của vua Diệu
Trang Nghiêm. Tất cả các thành viên của gia đình nhà vua đã
hội nhập niềm tin Phật giáo và đi vào đời sống tôn giáo
một cách hoan hỷ và phấn chấn. Gia đình của ông là một
gia đình lý tưởng.
TRẠNG THÁI
LÝ TƯỞNG CỦA NIỀM TIN VÀO NHỮNG NGƯỜI LÃNH ĐẠO.
Một điểm
quan trọng nữa là niềm tin của vua Diệu Trang Nghiêm có ảnh
hưởng đến quần thần, tùy tùng và nhân dân trong nước
ông. Chúng ta phải xét kỹ lưỡng xem niềm tin của người
lãnh đạo ảnh hưởng đến những người phục vụ dưới
trướng ông lớn tới mức nào. Niềm tin vốn là một vấn
đề cá nhân và có thể trở thành ô uế khi nó can thiệp
vào thế quyền như chính trị. Niềm tin cần được duy trì
bằng thái độ tâm thức của người ta vốn phát xuất từ
chiều sâu của tâm thức và rồi thì quyền lực cần được
thi hành trên nền tảng ấy. Đây là mối liên hệ lý tưởng
của niềm tin và quyền lực thế tục.
Chúng ta không
nên vội kết luận rằng ảnh hưởng lớn lao của niềm tin
của người lãnh đạo đối với những người dưới quyền
chắc chắn được thể hiện bằng một số loại quyền lực.
Một số người có thể nghĩ rằng những người ở vị trí
phụ thuộc như thế sẽ theo niềm tin của người lãnh đạo
để nịnh bợ hay do kính nể. Nhưng đây là một cách suy nghĩ
không trung thực. Điều hoàn toàn tự nhiên là nếu một người
là một vị lãnh đạo được những người khác thực sự
kính trọng và tin tưởng thì những hành động của ông ta
sẽ gây ảnh hưởng lớn đối với nhiều người.
Mọi người
đều bình đẳng trước giáo lý của đức Phật. Là đệ
tử của đức Phật, một người dân thường bình đẳng với
một ông vua lớn. Tuy vậy, đứng về mặt ảnh hưởng tiềm
tàng thì quyết tâm của một người dân thường để chứng
đắc Tam-muội Bồ-đề không thể so sánh với quyết tâm của
một ông vua. Do đó đức Phật Lôi Âm Túc Vương Hoa Trí rất
hoan hỷ về quyết tâm cầu tìm Chánh giác của vua Diệu Trang
Nghiêm và thọ ký ngay chovua.
Mội vị
lãnh đạo số đông người cần có niềm tin chân chánh. Nhưng
người ấy không nên áp đặt niềm tin ấy vào các thuộc
hạ. Nếu người ấy có thể lãnh đạo họ bằng đức hạnh
và chức trách dựa trên niềm tin của mình thì nhân cách cao
đẹp của người ấy chắc chắn sẽ có ảnh hưởng tốt
đến họ giống như hương thơm tỏa khắp mọi người chungquanh.
Như thế,
phẩm này đề cập đến những vẫn đề quan trọng của cuộc
sống hiện nay. Chúng ta cần xem những nhân vật khác nhau trong
câu chuyện là những mẫu thức mà ghi nhận thái độ của
họ theo từng vị trí của họ. Thái độ của vua Diệu Trang
Nghiêm là một tấm gương mà một người dấn thân vào chính
trị hay guồng máy lãnh đạo quốc gia cần noi theo để đi
đến chân lý; hành tác của hai vị vương tử Tịnh Tạng
và Tịnh Nhãn nêu trỏ con cái có thể khai mở tín nhãn của
cha mẹ như thế nào (điều này cũng áp dụng cho việc người
vợ khiến chồng mở to mắt để thấy niềm tin); hoàng hậu
Tịnh Đức là một mẫu thức của thái độ mà một người
mẹ cần có khi đứng giữa những người con tiến bộ và
một người cha bảo thủ để xiển dương chân lý.