Phẩm
26
ĐÀ-LA-NI
Phẩm này
tuyên bố về sự việc rằng với các âm tiết bí mật, các
chúng sanh không phải người (phi nhân) đại diện cho thế
giới tinh linh, xúc động thâm sâu vì các giáo lý của kinh
Pháp Hoa, nguyện hộ trì các giáo lý và những người thuyết
giảng giáolý.
Trước hết,
hai Bồ-tát là Dược Vương và Dũng Thí nguyện hộ trì người
giảng kinh Pháp Hoa. Lời nguyện của chư vị là hoàn toàn
bình thường vì cả hai vị Bồ-tát này đều là đệ tử
và sứ giả của đức Phật. Kế đến hai vị Phạm thiên
vương là Thiên vương Tỳ-sa-môn (Vai'sravana) và Thiên vương
Trì Quốc nguyện hộ trì kinh. Lời nguyện của hai vị Thiên
vương không phải Phật tử này có nghĩa rằng giáo lý của
đức Phật bao gồm mọi giáo lý khác và truyền sức sống
tôn giáo vào trong các giáo lý lấy.
Sau đó, mười
nữ La-sát (Ràkshasas) và Quỷ Tử Mẫu(1) nguyện hộ trì kinh
Pháp Hoa. Mười nữ quỷ này đồng thanh tuyên bố trước đức
Phật rằng nếu có ai quấy nhiễu các Pháp sư của kinh Pháp
Hoa thì họ sẽ bảo vệ các Pháp sư tránh khỏi sự quấy
nhiễu ấy. Lời tuyên bố của họ xác chứng sự kiện Phật
tâm cũng có ở trong các quỷ này. Ngược lại, có thể nói
giáo lý của kinh Pháp Hoa có năng lực khiến cho cả đến
các quỷ này cũng thành Phật.
NĂM LOẠI
TỪ KHÔNG THỂ CHUYỂN DỊCH:
Nhiều từ
tiếng Phạn có mật nghĩa xuất hiện trong phẩm này. Tại
sao các từ này không được chuyển dịch ? Lý do là sự thận
trọng của ngài Cưu-ma-la-thập (Kumàrajiva). Khi các kinh Đại
thừa được chuyển dịch từ Phạn ngữ ra Hán ngữ, các dịch
giả, trong đó có Cưu-ma-la-thập, đã để nguyên các “từ
không thể chuyển dịch được”. Các dịch giả này nêu định
năm loại từ sau đây là “những từ không thể chuyển dịch
được”:
1. Các từ
có ý nghĩa xa lạ đối với người Trung Quốc tức là, tên
các thú vật, cây cỏ và quỷ thần đặc biệt của Ấn Độ
nhưng xa lạ đối với Trung Quốc.
Ví dụ:
Mùi hương đa-ma-la-bạt (tamàlapattra) và mùi hương đa-già-la
(tagara) được nêu ở phẩm 19 và các chúng sanh như Ca-lâu-la
(Garuda) và Khẩn-na-la (Kimnara).
2. Các từ
có nhiều nghĩa, tức là các từ không thể dịch đủ bằng
một từ độc nhất. Ví dụ: đà-la-ni (dhàrani), đôi khi có
nghĩa là năng lực bí mật khiến người tụng giữ được
giáo lý mình đã nghe, đôi khi có nghĩa là năng lực ngăn chặn
mọi kẻ ác và khích lệ mọi người thiện, đôi khi có nghĩa
là những âm tiết bí mật nhờ đó người tụng có thể thoát
khỏi khổ nạn. Những âm tiết bí mật trong phẩm 26 thuộc
loại cuối này.
3. Các từ
bí mật. Ví dụ: các bài chú đà-la-ni ở phẩm 26. Những từ
này được để nguyên như thế vì ý nghĩa sâu xa của chúng
sẽ suy giảm đi nếu chúng được chuyển dịch.
4. Những
chuyển ngữ vốn đã được thiết lập từ trước. Ví dụ:
A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề (annuttara samyak sambodhi) có
thể được dịch là “ToànGiác” hay “Trí tuệ tối thắng
của đức Phật”.
5. Các từ
có ý nghĩa sâu xa sẽ bị mất ý nghĩa thực sự của chúng
nếu được chuyển dịch. Ví dụ: Phật (Buddha), Bồ-đề (Bodhi).
Năm loại
từ không thể chuyển dịch được này (goshu-fuhon; ngũ chủng
bất phiên) bao giờ cũng được các dịch giả để nguyên,
không dịch.
Khi đức
Phật giảng xong phẩm 25, Bồ-tát Dược Vương đứng dậy
khỏi chỗ ngồi, kính cẩn vạch trần vai phải, chắp tay hướng
Phật mà tác bạch: “Bạch đức Thế tôn ! Nếu có thiện
nam tử hay thiện nữ nhân nào có thể thọ trì kinh Pháp Hoa,
hoặc đọc, tụng, hoặc nghiên cứu, sao chép kinh này thì sẽ
được phước đức như thế nào ?”
Đức Phật
đáp Dược Vương: “Giả như có thiện nam tử hay thiện nữ
nhân nào cúng dường tám trăm vạn ức na-do-tha đức Phật,
nhiều như cát sông Hằng, thì theo ý Ông, phước đức ấy
há không nhiều sao ?”
“Rất nhiều,
bạch Thế Tôn !” Bồ-tát Dược Vương đáp.
Đức Phật
dạy tiếp: “Nếu có thiện nam tử hay thiện nữ nhơn nào
đối với kinh này, có thể thọ trì chỉ một bài kệ bốn
câu, đọc tụng, hiểu ý nghĩa và tu hành như kệ dạy thì
công đức của người ấy còn nhiều hơn nữa”.
Bấy giờ
Bồ-tát Dược Vương bạch Phật: “Bạch Thế Tôn ! Nay con
xin trao bài chú Đà-la-ni(1) cho các vị thuyết pháp để thủ
hộ các vị ấy.
(1) Mẫu thức
phù chú, một trong bốn loại Đà-la-ni. Có bốn loại chú:
1. để lành bệnh, 2. để chấm dứt hậu quả của tội lỗi,
3. để hộ trì các kinh và 4. để được trí tuệ.
Ở đây, các bài chú nhằm để hộ trì kinh này.
Thế rồi
Bồ-tát đọc bài chú sau đây: “An-nhĩ man-nhĩ ma-nễ ma-ma-nễ
chỉ-lệ già-lê-đệ xa-mế xa-lý-đa vĩ-thiên-đế mục-đế
mục-đa-lý sa-lý a-vĩ-sa-lý, tang-lý-sa-lý xoa-duệ a-xoa-duệ
a-kỳ-nhị chiên-đế xa-lý đà-la-ni a-lô-già-bà-sa phá-giá-tỳ-xoa-nhị
nễ-tỳ-thế a-tiện-đa-la-nễ-tỳ-thế a-đàn-đa-la-lê-du-địa
âu-cứu-lệ mâu-cứu-lệ a-la-lệ ba-la-lệ thủ-ca-si a-tam-ma-tam-lý
phật-đà-tỳ-cát-lợi-diệt-đế đạt-ma-ba-lỡ-si-đế tăng-già-niết-cù-sa-nễ
bà-xá-bà-xá- du-địa mạn-đa-la mạn-đa-la-xoa-dạ-da bưu-lâu-đa
bưu-lâu-đa-kiêu-xá-lược ác-xoa-la ác-xoa-dã-đa-dã a-bà-lô
a-ma-nhã-na-đa-dạ”.(Anye manye mane mamane citte carite same samità
vì'sànte mukte muktame same avishame samasame jaye [kshaye] akshaye akshìne
'sànte samite dhàranì àlokabhàshe pratyavekshani nidhiru abhyantaranivishte
abhyantarapari'sudhi ukule mutkule arade parade sukànkshì asamasame buddhavilokite
dharmaparìkshite samghanirghoshani [nirghoshanì] bhayabhayavi'sodhani
mantre mantràkshayate rute tutakau'salye akshaye akshayavanatàye [vakkhule]
valoda amanyanatàye [svàhà])(1)
(1) Phần
phiên âm theo Hán Việt là dựa vào bản Hán (Đại Tạng Kinh)
và phần phiên âm trong ngoặc đơn là dựa vào bản Phạn ngữ,
do tác giả ghi lại. Các bài chú tiếp trong phẩm cũng theo
như trên (N.D.)
“Bạch Thế
Tôn ! Thần chú Đà-la-ni này đã được chư Phật nhiều như
cát của sáu mươi hai ức sông Hằng nói ra. Nếu có kẻ nào
xúc phạm đến các vị Pháp sư của Pháp này tức là kẻ
ấy cũng xúc phạm đến chư Phật ấy”.
Bấy giờ
đức Phật Thích-ca-mâu-ni khen Bồ-tát Dược Vương rằng:
“Hay thay, hay thay, Dược Vương ! Vì Ông có lòng từ ái và
ủng hộ các Pháp sư ấy, Ông đã đọc lên thần chú Đà-la-ni
này làm lợi ích nhiều cho chúng sanh”.
Lúc ấy Bồ-tát
Dũng Thí bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn ! Con cũng vậy,
nhằm ủng hộ những vị đọc tụng và thọ trì kinh Pháp
Hoa mà sẽ đọc các Đà-la-ni. Nếu các Pháp sư này có được
các chú Đà-la-ni này, hoặc dạ-xoa, hoặc la-sát, hoặc phú-đơn-na,
hoặc kiết-giá, hoặc cưu-bàn-trà, hoặc quỷ đói v.v... mong
tìm những sở đoản của họ thì cũng không tìm đâu được”.
Thế rồi trước đức Phật, Bồ-tát đọc chú sau đây:
“Thoa-lệ
ma-ha-thoa-lệ úc-chỉ mục-chỉ a-lệ a-la-bà-đệ niết-lệ-đệ
niết-lệ-đa-bà-đệ y-trí-ni vi-trí-ni chí-trí-ni niết-lệ-trì-ni
niết-lệ-trì-bà-đê “.
(Jvale mahàjvale
ukke [tukku] mukku ade adàvati nrtye nrtyàvati ittini vittini cittini
nrtyeni nrtyàvati [svàhà]).
“Bạch Thế
Tôn ! Thần chú Đà-la-ni này đã được chư Phật nhiều như
cát sông Hằng nói ra và tùy hỷ. Nếu có kẻ nào xúc phạm
đến các giảng sư của kinh này tức là kẻ ấy xúc phạm
đến chư Phật ấy”.
Bấy giờ
Thiên vương Tỳ-sa-môn (Vaisravana) là người hộ trì thế gian
bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn ! Con cũng vậy, vì thương
tưởng chúng sanh và để hộ trì các Pháp sư của kinh này
mà nói lên bài chú Đà-la-ni này”. Thế rồi Thiên vương
đọc chú như sau: “A-lê na-lê nâu-na-lê a-na-lô na-lýcâu-na-ly
“
(Atte [tatte]
natte vanatte anade nàdi kunadi [svàhà])
“Bạch Thế
Tôn ! Nhờ thần chú này con sẽ hộ trì các Pháp sư giảng
Pháp này. Con cũng sẽ hộ trì những ai trì kinh này, khiến
cho trong vòng một trăm do tuần sẽ không có tai nạn nguy biến”.
Bấy giờ
Thiên vương Trì Quốc, hiện diện trong hội chúng cùng với
một chúng gồm hàng ngàn vạn ức na-do-tha
Càn-thát-bà
cung kính vây quanh, đến trước đức Phật, chắp tay tác bạch:
“Bạch Thế Tôn, con cũng sẽ ủng hộ những người thủ
trì kinh Pháp Hoa bằng thần chú Đà-la-ni. Thế tồi Thiên vương
đọc bài chú sau đây: “A-già-nễ già-nễ cù-lỡ càn-đà-lỡ
chiên-đà-lỡ ma-đăng-kỳ thường-cầu-lỡ phù-lâu-sa-ni ác-đê”
(Agane gane
gauri gandhàri candàri màtangi [pukka'si] samkule vrùsali sisi [svàhà])
“Bạch Thế
Tôn ! Thần chú Đà-la-ni này được bốn mươi hai ức đức
Phật nói ra. Nếu kẻ nào xâm phạm những vị Pháp sư của
kinh này thì tức là kẻ ấy xâm phạm chư Phật ấy”.
Có các nữ
La-sát, nữ La-sát thứ nhất tên là Lam-bà, thứ hai tên là
Tỳ-lam-bà, thứ ba tên là Khúc Xỉ, thứ tư tên là Hoa Xỉ,
thứ năm tên là Hắc Xỉ, thứ sáu tên là Đa Phát, thứ bảy
tên là Vô Yếm Túc, thứ tám tên là Trì Anh Lạc, thứ chín
tên là Cao-đế và thứ mười tên là Đoạt Tinh Khí. Mười
nữ La-sát này cùng với Quỷ Tử Mẫu và các con, quyến thuộc
của bà đều đến chỗ đức Phật, đồng thanh bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn ! Chúng con cũng muốn ủng hộ những
người đọc tụng, thọ trì kinh Pháp Hoa và loại trừ các
tai hoạn cho họ. Nếu có kẻ nào dò tìm chỗ thiếu sót của
các Pháp sư này thì chúng con sẽ khiến cho kẻ ấy không có
cơ hội thuận tiện”. Thế rồi trước đức, các quỷ này
nói bài chú sau đây: “Y-đề lý, y-đề dẫn, a-đề lý, y-đề
lý; nê lý, nê lý, nê lý, nê lý, nê lý; lâu-hê, lâu-hê, lâu-hê,
lâu-hê, lâu-hê; đa-hê, đa-hê, đa-hê; đâu-hê, đâu-hê”.
(Iti me, iti
me, iti me, iti me; ni me, ni me, ni me, ni me, ni me; ruhe ruhe, ruhe,
ruhe [ruhe]; stuhe, stuhe, stuhe, stuhe, stuhe [svàhà}(1)
“Hãy trút
các phiền não lên đầu chúng con hơn là gây khổ não cho vị
Pháp sư; dược-xoa (yaksha), hay la-sát (raksha), hay quỷ đói,
hay phú-đơn-na (pùtana), hay kiết-giá (kritya), hay tỳ-đà-la
(vetada), hay kiện-đà (kashàya), hay ô-ma-lặc-già (umàraka),
hay a-bạt-ma-la (apasmàraka), hay dạ-xoa-kiết-giá (yaksha kritiya),
hay nhơn kiết-giá (2), hay nhiệt bệnh, hoặc một ngày, hoặc
hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày hoặc đến bảy ngày,
hoặc các nhiệt bệnh liên miên, hay quỷ mang hình nam hay mang
hình nữ,hay mang hình đồng nam, hay mang hình đồng nữ; các
loại quỷ này dù cho cả trong mộng cũng không gây phiền khổ
cho các Pháp sư ấy”. Thế rồi, trước đức Phật, các quỹ
này nói kệ:
“Ai
chống chú chúng con
Và làm phiền
Pháp sư
Đầu sẽ
vở bảy mảnh
Như búp
hoa a-lê
Như kẻ
giết cha mẹ
Phận như
loại ép dầu
Lừa người
khi cân đo
Tội Điều-đạt
phá Tăng;
Kẻ xúc
phạm Pháp sư
Sẽ bị
tai ương ấy.
(1) Phần
phiên âm chữ Phạn và phần phiên âm chữ Hán trong các bài
chú ở phẩm này có chỗ không tương ứng (N.D.)
(2) Tỳ-đà-la
là quỷ đỏ, kiện-đà là quỷ vàng, ô-ma-lặc-già là quỷ
đen, và a-bạt-ma-la là quỷ xanh; dạ-xoa-kiết-giá là kiết-giá
mang hình dạ-xoa, và nhơn kiết-giá là kiết-giá mang hình người.
Người dịch chú thêm: dược-xoa là quỷ ăn thịt người,
la-sát là quỷ rất hung ác, phú-đơn-na là quỷ xú uế, kiết-giá
là quỷ thây ma.
Đây là một
bài kệ nổi tiếng. Người ta bảo rằng nếu có ai chạm vào
một búp hoa a-lê (arjaka) thì các cánh hoa sẽ mở ra và rơi
ra thành bảy mảnh. Các dòng “Đầu sẽ vỡ bảy mảnh / Như
búp hoa a-lê” nghĩa là “Mong số phận của người ấy là
số phận của một kẻ giết cha mẹ”. Biểu từ “Phận
như loại ép dầu” nhằm trỏ một tập tục của Ấn Độ.
Khi một người xay mè, anh ta đặt một trọng lượng trên
cối xay để ép mè. Nếu trọng lượng này chỉ ép nhẹ
trên mè, các sâu mè sẽ không bị nghiền. Nếu người ấy
đặt một trọng lượng quá nặng trên cối xay để ép cho
nhanh thì sâu mè bị nghiền nát và mè sẽ mất mùi vị. Do
đó, ở Ấn Độ cổ, sự việc này được xem là tượng trưng
cho tội giết hại sinh mạng của kẻ khác nhằm có lợi cho
mình.
Điều này
cũng dùng để trỏ đến tội trạng của một người gian
dối trong việc cân đo. Mặc dù tội trạng này không thể
so sánh với tội giết người trong hệ thống luật pháp ngày
nay, nó cũng là một hành vi xấu ác theo quan điểm tâm linh.
Do đó hành vi như thế đã bị người Ấn Độ thời xưa xem
là một trọng tội.
TỘI PHÁ
TĂNG-GIÀ:
Câu kế là
“Tội Điều-đạt phá Tăng”. Điều-đạt (Đề-bà-đạt-đa,
Devadatta) phạm ác tội phá vỡ sự gắn bó, hòa hợp trong
cộng động tín chúng của đức Thích-ca-mâu-ni. Dĩ nhiên rằng
một người sẽ phạm trọng tội khi phá hoại cộng đồng
do các tín chúng thành lập. Một người phá rối các Pháp
sư của kinh Pháp Hoa cũng là một kẻ tội phạm và số phận
của người ấy sẽ là đầu bị chẻ làm bảy như búp hoa
a-lê.
Mới đọc
qua đoạn này, người ta thấy các nữ quỷ La-sát (Rakshasas)
có vẻ như muốn báo oán những kẻ thù của kinh Pháp Hoa.
Tuy vậy, hiểu như thế là không đúng. Chúng ta nên xét kỹ
hơn rằng sức mạnh và lòng nhiệt tình đã khiến họ thốt
lên những lời sôi nổi vì họ đã không tích tập những
đức hạnh lớn như các đệ tử của đức Phật và vì họ
vốn mang bản tính của quỷ. Mặt khác, đức Phật Thích-ca
đã giảng về sự bao dung đối với chúng sanh thì không thể
nào Ngài lại tán thán các nữ La-sát rằng “Hay, hay lắm
!”.
Ở đây áp
dụng trọn vẹn sự giải thích về sự trừng phạt trong Phật
giáo (đã được bàn đến ở cuối phẩm Thí Dụ và phẩm
Bồ-tát Thường Bất Khinh). Câu kệ là “Đầu sẽ vỡ bảy
mảnh” (đầu kẻ ấy sẽ bị vỡ làm bảy) chứ không phải
là “Phật bửa đầu làm bảy” (đức Phật làm cho đầu
kẻ ấy bị vỡ thành bảy mảnh). Lại nữa, ta đọc thấy
“Sẽ bị tai ương ấy” theo như liệt kê về những số
phận dành cho kẻ xúc phạm các Pháp sư. Cách biểu thị này
phù hợp với nguyên lý của quan điểm Phật giáo về sự
trừng phạt là nguyên lý dạy rằng người ta sẽ bị trừng
phạt do chính những tội lỗi của mình chứ không phải dotác
nhân nào bên ngoài hay do thế lực tùy tiện nào,
Sau khi đọc
bài kệ này, các nữ La-sát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn,
chúng con sẽ đích thân ủng hộ những ai thọ trì, đọc tụng
và tu hành kinh này, khiến họ được an ổn, tách xa mọi suy
hoạn, và mọi thứ độc dược”.
Đức Phật
bảo các nữ La-sát: “Hay, hay lắm ! Nếu các người chịu
ủng hộ những ai thọ trì danh tự Pháp Hoa thì công đức
của các người thật vô lượng; huống chi thọ trì những
ai trọn vẹn thọ trì và cúng dường kinh bằng hoa, hương,
anh lạc, mạt hương (bột trầm), đồ hương (để xoa), thiêu
hương (để đốt), phướn, lọng, kỹ nhạc, đốt các thứ
đèn như đèn bơ, đèn dầu, đèn dầu thơm, đèn dầu của
hoa chiêm-bặc (campaka), đèn dầu của hoa bà-si-ca (vàrshika),đèn
dầu của hoa ưu-bát-la (udumbara) và hàng trăm ngàn loại cúng
dường như thế. Này Cao-đế, bà cùng các quyến thuộc nên
ủng hộ các Pháp sư như thế”.
Phẩm này
có phần kết: “Trong khi phẩm Đà-la-ni này được giảng,
sáu vạn tám ngàn người chứng được Vô sanh Pháp nhẫn”.