Phẩm
25
QUÁN
THẾ ÂM BỒ-TÁT (PHỔ MÔN)
Trong hai mươi
tám phẩm của kinh Pháp Hoa, không có phẩm nào đã bị diễn
dịch sai lầm hơn phẩm này. Do bị hiểu một cách hời hợt
và theo nghĩa đen, phẩm này bị xem là phẩm dạy về một
đức tin dễ dãi: hễ ai kêu gọi Bồ-tát Quán Thế Âm thì
sẽ được cứu thoát mọi khổ đau ngay.
Quả thực
là phân nửa đầu của phẩm này phần lớn nói về năng lực
siêu nhiên của vị Bồ-tát này khi tuyên bố rằng nếu các
chúng sanh tưởng niệm và tôn kính Bồ-tát Quán Thế Âm thì
họ sẽ thoát khỏi bảy hiểm nạn về lửa, nước, gió, đao,
quỷ, tội, cướp. Nếu họ tiếp tục tôn kính Bồ-tát này,
họ sẽ được giải thoát khỏi sanh, già, bệnh và chết.
Nếu họ tôn kính Bồ-tát càng nhiều hơn, họ sẽ được
thoát khỏi ba độc là tham, sân, si và sẽ có được loại
con cái như ý họ mong muốn. Khi những người bình thường
đọc phẩm 25 với sự nhận thức nông cạn, điều chỉ có
thể xảy ra là họ sẽ rơi vào một niềm tin dễ dãi.
Sự diễn
dịch sai lầm về phẩm này phát xuất từ sự nhận thức
yếu kém về các giáo lý được giảng trong phần còn lại
của kinh Pháp Hoa. Nếu họ thực sự hiểu được ít ra là
phẩm 16, “Như Lai Thọ Mạng” thì họ sẽ không thể hiểu
lầm phẩm 25 theo cách này được.
Về cơ bản,
có hai nguyên nhân khiến họ hiểu lầm. Thứ nhất là ý niệm
hời hợt của họ về sự cứu độ mà họ tìm kiếm ở một
cái gì đó bên ngoài họ. Như đã được giải thích ở phẩm
16, sự cứu độ nằm trong ý thức của chúng ta về sự hiện
hữu của đức Phật Vĩnh Hằng ở khắp nơi cả bên trong
lẫn bên ngoài chúng ta và trong sự nhận thức nghiêm túc,
chân thành rằng chúng ta được sống do bởi đứcPhật.
Một nhận
thức xác quyết như vậy đưa chúng ta đến niềm an tịnh
thực sự của tâm. Đồng thời lời nói và hành động của
chúng ta tự nhiên sẽ hài hòa với đức Phật và sẽ tạo
ra sự hài hòa chung quanh chúng ta. Cõi Tịnh Quang Vĩnh Hằng,
tức một xã hội lý tưởng sẽ được hình thành khi một
thế giới hài hòa lan rộng dần về mọi phía.
Sự cứu
độ thực sự xảy ra theo cách như thế. Hiểu lầm sự cứu
độ là do chúng ta nhìn cứu độ một cách sai lạc theo ý
nghĩa sự giải thoát khỏi đau đớn, khổ ải nhờ sự giúp
đỡ của một tác nhân ở bên ngoài. Điều này cũng giống
như một người đang khổ vì chứng đau đầu do bị táo bón
lại dùng thuốc Aspirin để chữa trị đau đầu. Người ấy
tạm thời bớt đau đầu vì thuốc ấy, nhưng người ấy chỉ
có thể khỏi hẳn nếu như được chữa lành cái căn nguyên
là bệnh táo bón. Đằng này cũng vậy, hoàn toàn trông cậy
vào năng lực ở bên ngoài thì sẽ không khiến cho người
ta thực sự được cứu khỏi khổ đau, dù cho người ta có
thể được cứu giúp khỏi một vấn đề trực tiếp.
Thứ hai,
có một sự hiểu lầm lớn về địa vị của chư Bồ-tát.
Sự cứu độ thực sự chỉ được thực hiện do đức Phật;
điều này cần được nhận rõ từ nguyên lý về sự cứu
độ đã được bàn trên đây. Sự cứu độ phát xuất từ
nhận thức của chúng ta về sự hiện hữu của chân lý, và
chỉ có một chân lý mà thôi. Một Bồ-tát là vị đã có
mong muốn lớn lao là cứu độ những người khác và ngài
có thể chắc chắn sẽ cứu độ hết thảy chúng sanh khỏi
ảo tưởng và khỏi khổ đau trong những hoàn cảnh riêng biệt.
Tuy nhiên, sự cứu độ căn bản chỉ xảy ra nếu chúng ta
hiểu được sự hiện hữu của đức Phật. Một Bồ-tát
thể hiện sự cứu độ chúng sanh như thế nào ? Dĩ nhiên
đây là một sự cứu độ do ngài phát hiện để cứu chúng
sanh khỏi các ảo tưởng của họ và khỏi những hoàn cảnh
riêng biệt. Tuy nhiên, sự cứu độ của ngài có một vận
hành quan trọng hơn nhiều là truyền bá giáo lý của đức
Phật với tư cách là sứ giả của Ngài và ban cho chúng ta
một gương tốt về cuộc sống tôn giáo. Sự cứu độ thực
sự của vị Bồ-tát gồm trong việc dẫn dắt chúng ta đến
giải thoát nhờ gương tốt của ngài.
Chư Đại
Bồ-tát đã thành tựu đức hạnh của chư vị và mỗi vị
đều có những đức hạnh riêng của mình. Ví dụ, Bồ-tát
Thường Bất Khinh có điểm đặc biệt là thực hành sự tôn
kính những người khác và khai mở Phật tính của họ. Bồ-tát
Dược Vương có đặc điểm là thể hiện sự đền đáp ân
đức của đức Phật bằng việc thực hành giáo lý. Bồ-tát
Diệu Âm đặc sắc ở chỗ ngài tu tập để có cái nhìn rộng
lớn nhằm thực hiện một lý tưởng. Chúng ta có thể noi
theo những đức hạnh của một trong nhiều vị Bồ-tát.
Bồ-tát Quán
Thế Âm không phải là một vị Phật mà là một vị Bồ-tát.
Ngài là vị mà chúng ta xem là một gương mẫu, nhưng ta chớ
nên xem ngài là đối tượng để cầu xin giải thoát. Trong
phẩm này, đức Phật dạy rằng thần thông của Bồ-tát Quán
Thế Âm là một mẫu thức để khiến chúng ta mong được
thắng diệu như vị Bồ-tát này và nỗ lực thật nhiều để
thực hành giáo lý của kinh Pháp Hoa.
Nhớ đến
và tôn kính Bồ-tát Quán Thế Âm là nghĩ đến vị Bồ-tát
này và cảm thấy một sự mong mỏi ngài như là một mẫu
thức lý tưởng. Niệm Bồ-tát này, với niềm thâm thiết
mong mỏi ngài sẽ giúp cho tâm tính của ta được cải tiến.
Tuy nhiên, từ xưa, đa số người ta chưa hiểu ý nghĩa của
việc niệm Bồ-tát Quán Thế Âm theo cách như thế mà lại
tôn thờ ngài để được thoát khỏi khổ đau hiện tại nhờ
vào năng lực siêu nhiên của ngài. Như thế thì không thể
được gọi là niềm tin thực sự, niềm tin thực sự thì
thâm sâu hơn nhiều.
Ta hãy nghiên
cứu phẩm 25 với những điểm căn bản này trong trí óc. Phẩm
này gồm chứa một ít thuật ngữ khó hiểu hoặc rối rắm.
Nhưng nếu ta hiểu được cái giáo lý tổng quát của phẩm
và ý nghĩa của những điểm quan trọng thì cũng đủ chota.
QUÁN THẾ
ÂM (AVALOKITESVARA) LÀ GÌ?
Phẩm này
khởi đầu bằng câu của Bồ-tát Vô Tận Ý hỏi đức Phật
như sau: “Bạch Thế Tôn, tại sao Bồ-tát Quán Thế Âm lại
được gọi là Quán Thế Âm ?” Đức Phật đáp rằng, nếu
có vô số chúng sanh đang khổ vì đau đớn, ưu phiền mà gọi
tên Bồ-tát Quán Thế Âm thì Bồ-tát lập tức quán được
âm thanh của họ và tất cả họ sẽ được giải thoát, vì
lý do này nên Bồ-tát được gọi là Quán Thế Âm.
Kanzeon hay
Kannon là tên gọi theo tiếng Nhật của Avalokitesvara, vị Bồ-tát
có lòng đại từ đại bi và tình thương. Kan (quán) nghĩa
là nhìn xét một cái gì, và zeon (thế âm) trỏ ý về những
tiếng kêu (âm thanh) của người ta. Những tiếng kêu này không
chỉ giới hạn vào tiếng người ta phát ra mà còn gồm cả
những mong muốn và ước ao tha thiết của họ. Bồ-tát Quán
Thế Âm có thể được xem là vị Bồ-tát do tính chất thần
thông của ngài, có thể nhìn đến và lưu tâm những tiếng
kêu của người ta mỗi khi những tiếng kêu này biểu hiện
đau khổ hay mong cầu mà khiến cho họ thoát khỏi khổ đau
bằng cách thuyết giảng giáo lý thích hợp với từng người,
dẫn dắt họ đến mong cầu của họ và xuất hiện trong hình
tướng thích hợp với những người được dẫn dắt.
Đây là những
điều kiện tuyệt đối cần thiết cho những ai đang lãnh
đạo những người khác. Các bậc cha mẹ trong gia đình phải
luôn luôn chăm sóc sức khỏe của con cái và trạng thái tâm
của chúng để nuôi chúng lớn một cách đúng đắn. Khi các
bậc cha mẹ lưu ý đến tiếng kêu của mỗi đứa con, đứa
này cần thức ăn nào đó, hay đứa kia mong có thứ gì - thì
họ chuẩn bị các bữa ăn thích hợp, đào tạo vững vàng
cho chúng, và cố vấn cho chúng về các vấn đề của chúng.
Cha mẹ hướng dẫn con cái một cách có ích cho sức khỏe
chúng và thích hợp với ước muốn của chúng. Tất cả các
bậc cha mẹ xứng đáng với tên gọi thì hy sinh cho hạnh phúc
của con cái mình. Những người như thế là những bậc cha
mẹ lý tưởng và cũng là một sự thể hiện của tinh thần
Bồ-tát Quán Thế Âm.
Trong công
việc, những người quản lý và giám sát phải biết rõ đặc
tính của từng người làm việc dưới quyền mình là gì,
người ấy đang lo toan gì, khả năng của người ấy là bao
nhiêu, người ấy đang ấp ủ hy vọng mong muốn nào, và họ
phải hướng dẫn, điều hành từng nhân viên của mình theo
cách thích hợp nhất đối với người ấy. Nhờ sự hiểu
rõ hướng dẫn và điều hành như thế, họ có thể giám sát
một số đông người và có thể cân nhắc khả năng của
từng người. Các nhà quản lý do đó có thể hoàn thành một
cách có hiệu quả công việc mà họ đảm nhiệm. Một tinh
thần và một khả năng như thế thì cần thiết hơn rất nhiều
trong trường hợp của các nhà điều hành cấp cao và các
chủ tịch các công ty, các giáo sư có trách nhiệm giáo dục
nhiều sinh viên, các chính khách và các bộ trưởng. Tất cả
những nhà lãnh đạo cần phải có sự thông suốt đúng đắn
về bản tính con người và có tinh thần của lòng đại tự
bi khiến người ta sẵn sàng chịu hy sinh mình vì những người
khác như trường hợp Bồ-tát Quán Thế Âm.
Một người
tin vào kinh Pháp Hoa và thiết tha mong muốn quảng bá giáo lý
của đức Phật, dẫn dắt mọi người đến con đường toàn
thiện phẩm cách của họ và xây dựng một xã hội lý tưởng
trong đời này dựa trên tinh thần đại từ bi mà Bồ-tát
Quán Thế Âm đã nêu tỏ thì phải hiểu rõ những ưu tư,
khổ đau và ước muốn của những người chung quanh mình.
Người ấy cũng phải có khả năng dẫn dắt những người
khác một cách tự tại bằng những phương tiện thiện xảo
phù hợp nhất đối với từng người. Thế rồi người ấy
phải thực hiện các Bồ-tát hạnh một cách có hiệu quả.
Do có sức
thần thông, Bồ-tát Quán Thế Âm có thể cứu tất cả chúng
sanh thoát khỏi bảy khổ nạn và ba thứ độc, cho họ những
gì họ muốn và giảng Pháp một cách tự tại bằng cách hiện
ra hóa thân nào thích hợp với tín đồ nhất trong ba mươi
hai hóa thân của ngài. Thần thông mà vị Bồ-tát này thể
hiện là mục tiêu mà một người tin kinh Pháp Hoa phải nỗ
lực đạt tới bằng cách noi gương Bồ-tát, và đấy cũng
là cái lý tưởng cần phải có ở một người lãnh đạo
là người phải nêu gương tốt cho người khác qua địa vị
của mình.
LÒNG TỪ
BI CỦA ĐỨC QUÁN THẾ ÂM:
Từ xưa,
các tượng điêu khắc và tượng vẽ Bồ-tát Quán Thế Âm
đã nêu bậc vẻ mặt rất từ bi và an tịnh của ngài. Các
điêu khắc gia và họa gia có truyền thống miêu tả vị Bồ-tát
này như là một Đạo sư lý tưởng có đặc điểm là sự
nhu hòa, bao dung và từ bi. Tâm ta tự nhiên được hỷ lạc
do tôn thờ một pho tượng hay một hình vẽ vị Bồ-tát này.
Tiến sĩ
Hideki Yukawa - một nhà vật lý học lý thuyết được giải
Nobel năm 1951 đã cho đăng một bức ảnh chụp tượng Quán
Âm Mười một Mặt (Thập nhứt diện Quán Âm) với một ngàn
cánh tay (thiên thủ) ở trong bìa trước của cuốn sách của
ông Con Người Và Khoa Học. Ông chua thêm lời bàn sau đây:
“Dù tượng Quán Âm này có mười một mặt và một ngàn
cánh tay, hình như tượng chẳng mất đi chút hài hòa nào của
toàn bộ thân thể và tỏa ra sự bình an tâm thức. Nó có
thể không hợp với thị hiếu của con người hiện đại,
tuy vậy những đặc trưng hoàn hảo của nó cũng thỏa mãn
họ phần nào.
Con người
hôm nay có nhiều mặt nhiều tay như là kết quả của sự
tiến bộ quan trọng của khoa học và kỹ thuật. Giờ đây
họ có những con mắt mới cho công việc của họ như kính
hiển vi và kính tiềm vọng. Họ đã tạo ra những bàn tay
kỳ diệu để tránh sự nguy hiểm của năng lực phóng xạ.
Máy tính điện tử đã thay thế trí óc con người. Tất cả
những thứ này giúp cho sự tiến bộ của con người nhờ
khoa học. Tuy nhiên, con người ngày nay sống trong một thế
giới bị máy móc vây quanh và đã dần dần trở nên trơ cứng,
căng thẳng. Hình như họ đang khám phá một vẻ đẹp tươi
tắn hơn, tinh tế hơn và hiệu lực hơn. Một biểu hiện của
an tịnh và từ bi như biểu hiện của Bồ-tát Quán Âm không
được người ngày nay nhìn thấy. Có sự nguy hiểm nào đó
trong các khuynh hướng tin rằng một người không có phần
nào bất ổn thần kinh là bất bình thường. Nhưng khuynh hướng
này càng trở nên đáng chú ý thì người ta càng tìm kiếm
sự an tịnh tâm thức và hòa bình thế giới thâm thiết hơn,
há chẳng phải quả là như thế sao ?”
Chúng ta làm
sao để có thể đạt được tinh thần tự hy sinh, năng lực
tối cao về sự nhận biết và sự dẫn đạo tối thượng
của Bồ-tát Quán Thế Âm ? Chúng ta chỉ có thể làm được
như thế bằng cách thọ trì, học tập và thực hành giáo
lý mà đức Phật Thích-ca-mâu-ni thuyết giảng. Bồ-tát
này cũng đã đạt được thần thông nhờ vào chân lý mà
đức Phật thuyết giảng. Điều này được diễn tả rõ ràng
trong kinh như sau: “Bồ-tát Vô Tận Ý bạch Phật: "Bạch Thế
Tôn, nay con xin cúng dường Bồ-tát Quán ThếÂm".
“Thế rồi
ngài tháo ở cổ ra một chuỗi anh lạc trị giá một trăm
ngàn lượng vàng và trình với Bồ-tát Quán Thế Âm mà bảo:
"Thưa Nhân
giả, xin hãy thọ nhận món cúng dường là chuỗi anh lạc
này". Nhưng Bồ-tát Quán Thế Âm không nhận.
“Bồ-tát
Vô Tận Ý lại nói vói Bồ-tát Quán Thế Âm: "Thưa Nhân giả,
xin mở lòng thương chúng tôi mà nhận chuỗi anh lạc này".
Bấy giờ đức Phật nói với Bồ-tát Quán Thế Âm: "Vì từ
mẫn đối với Bồ-tát Vô Tận Ý này và đối với bốn chúng,
Trời, Rồng, Dạ Xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la,
Ma-hầu-la-già, Người và Không phải người..., hãy nhận lấy
chuỗi anh lạc này". Bồ-tát Quán Thế Âm vì lòng từ mẫn
đối với tất cả bốn chúng và Trời, Rồng, các chúng sanh
Người và Không phải người... mà nhận chuỗi anh lạc chia
chuỗi làm hai phần, một phần dâng cúng đức Phật Thích-ca-mâu-ni
và phần kia dâng lên tháp đức Phật Đa Bảo”.
Sự việc
Bồ-tát Quán Thế Âm chia chuỗi anh lạc ra làm hai phần trỏ
ý nghĩa sau đây: “Ta mang ơn đức Như Lai Thích-ca-mâu-ni đã
dạy ta chân lý, khiến ta được thần thông và mang ơn đức
Như Lai Đa Bảo đã chứng kiến chân lý”. Ở đây Bồ-tát
cho thấy rằng ngài đã đạt thần thông như là kết quả
của việc thể nghiệm và thực hành chân lý mà đức Như
Lai Thích-ca-mâu-ni đã dạy. Vì nhiều người không thấy được
điểm quan trọng này nên họ ấp ủ cái niềm tin hời hợt
và dễ dãi rằng họ sẽ được cứu khổ nhờ chỉ cần nhớ
niệm và tôn kính Bồ-tát Quán Thế Âm mà thôi. Con người
hiện đại phải hoàn toàn từ bỏ niềm tin lầm lạc như
thế.
HẠNH NGUYỆN
CỦA QUÁN THẾ ÂM:
Chúng ta có
thể hiểu rõ điều này qua phần kệ sau đây do đức Phật
đáp lời hỏi của Bồ-tát Vô Tận Ý rằng tại sao vị Bồ-tát
này được gọi là Quán Thế Âm.
“Hãy
nghe hạnh Quán Âm
Khéo ứng
khắp mọi phương;
Nguyện lớn
sâu như biển
Kiếp kiếp
không nghĩ bàn
Hầu nhiều
ngàn ức Phật,
Phát nguyện
đại thanh tịnh”
Nghĩa là: Trước
hết hãy nghe tất cả các hạnh mà Bồ-tát Quán Thế Âm đã
tích tập. Vị Bồ-tát này đã có lời nguyện giúp mọi người
thoát khỏi những khó khăn theo cách thích hợp với từng người.
Lời nguyện rộng lớn của ngài sâu như biển và kiếp kiếp
người bình thường không thể hiểu được lời nguyện ấy.
Với đại nguyện ấy, ngài đã phụng sự vô lượng đức
Phật và đã nguyện một nguyện đại thanh tịnh.
Từ phần
kệ trên, ta thấy rằng các năng lực siêu nhiên của Bồ-tát
Quán Thế Âm được đặt căn bản trên lời nguyện của ngài
là cứu độ hết thảy chúng sanh bằng các năng lực của
ngài và rằng ngài đạt được những thần thông như thế
là kết quả của việc ngài đã phát nguyện này và đã thực
hành giáo lý của đức Phật suốt một thời gian rất lâu
dài. Phần văn xuôi của phẩm này nêu trỏ hiệu quả của
sức thần thông của Bồ-tát và phần kệ thì nêu trỏ nguyên
nhân của hiệu quả ấy - tức là cái đại nguyện. Qua cả
hai phần của phẩm này, đức Phật dạy ta rằng nếu ta phát
nguyện gây lợi lạc cho những người khác, nguyện từ bi,
và nguyện quyết tâm thực hành thì chắc chắn ta sẽ đạt
đến cấp độ như của Bồ-tát Quán Thế Âm.
Phần kệ
của phẩm này là một trong những phần kệ nổi bật trong
kinh Pháp Hoa. Trong phần đầu, đức Phật nêu lên những khó
khăn và những tai họa vây hãm các chúng sanh. Thế rồi để
tổng kết, Ngài thuyết giảng như sau:
“Chúng
sanh bị thúc bách
Bởi vô
lượng khổ đau:
Quán Âm,
diệu trí lực
Cứu khổ
được thế gian,
Đầy đủ
sức thần thông
Rộng tu
trí phương tiện
Trong khắp
mọi quốc độ,
Không đâu
không hiện thân
Hết thảy
mọi đường ác
Địa ngục,
quỷ, súc sanh
Khổ sinh,
già, bệnh, chết
Ngài dần
khiến diệt mất”.
Diệu trí của
đức Quán Thế Âm là trí tuệ mà nhờ năng lực của nó,
ngài có thể nhận rõ tâm người ta và có thể ban bố cho
họ giáo lý giải thoát thích hợp với họ. Đức Quán Thế
Âm muốn được toàn hảo về các thần thông nhằm có thể
cứu độ một thế giới khổ đau. Ngài mong được thực hành
trí tuệ và phương tiện thiện xảo một cách mạnh mẽ và
được hiện thân mà cứu vớt người ta trong khắp vũ trụ.
Ngài mong cứu những ai bị rơi vào những cảnh giới tệ hại
của sự sống, gồm cõi địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.
Ngài cũng lo toan gỡ boû những khổ đau vì sinh, già, bệnh,
chết khỏi tâm người ta, và cuối cùng đưa họ đến đoạn
diệt mọi khổ đau. Đây là đại nguyện mà đức Quán Thế
Âm phát khởi.
Theo bản
kinh bằng Phạn ngữ hiện có, phần kệ trên còn có thêm mấy
câu tiếp là: “Nghe Phật dạy như thế / Vô Tận Ý hoan hỷ
/ Nói như thế bằng kệ”. Khi phần kệ này từ bản Phạn
ngữ được đưa vào, tính liên tục trở nên rõ hơn và hài
hòa với toàn bộ kinh Pháp Hoa. Phần tiếp đó cần được
xem là những câu kệ mà Bồ-tát Vô Tận Ý do xúc động về
những câu kệ do đức Phật nói về nhiều hạnh nguyện về
từ bi của đức Quán Thế Âm, đáp lại và ca ngợi Bồ-tát
Quán Thế Âm.
“Quán
thực, quán thanh tịnh,
Quán trí
tuệ rộng lớn,
Quán bi và
quán từ,
Mãi mong,
mãi trông ngóng !
Sáng tinh
ròng thanh tịnh
Mặt trời
trí phá ám
Điều phục
nạn gió, lửa
Chiếu sáng
khắp thế gian !
Pháp bi mẫn,
sấm động
Lòng từ
đẹp như mây
Rải mưa
pháp cam lộ
Dập tắt
lửa phiền não !
Tranh tụng
trước cửa quan
Sợ hãi
trong chiến trận
Nếu niệm
sức Quán Âm
Mọi kẻ
thù tháo chạy
Diệu âm,
Quán thế âm,
Phạm âm,
Hải triều âm,
Thắng bỉ
thế gian âm,
Do đó nên
luôn niệm,
Mọi niệm,
chớ sinh nghi
Quán Thế
Âm tịnh diệu,
Trong khổ,
não, tử, ách
Là chỗ
nương tựa được.
Ngài đủ
mọi công đức
Mắt từ
nhìn chúng sanh
Phước như
biển vô lượng !
Hãy kính
đảnh lễ ngài”.
Quán thực nghĩa
là khả năng thâm nhập vào chân lý của Bồ-tát, quán thanh
tịnh nghĩa là sự tự tại đối với các ảo tưởng, quán
trí tuệ rộng lớn nghĩa là cái trí tuệ toàn hảo cứu độ
mọi chúng sanh của ngài, quán bi là lòng lân mẫn của ngài
đối với mọi chúng sanh đang khổ đau và là quyết định
của ngài nhằm cứu họ khỏi trạng thái khổ đau ấy, và
quán từ là lòng từ mà theo đó ngài dẫn dắt họ đến hạnh
phúc. Những phép quán này nhằm trỏ sự tán thán những con
mắt mà Bồ-tát Quán Thế Âm vốn có. Tán thán những con mắt
của Bồ-tát dĩ nhiên là trỏ đến sự tán thán tâm ngài.
Cú ngữ “mãi
mong, mãi trông ngóng” có nghĩa là chúng ta muốn có những
con mắt (cái tâm) như Bồ-tát Quán Thế Âm và xem Bồ-tát
là mẫu thức của chúng ta.
Do tâm từ
bi của ngài, Bồ-tát phát tỏa ra một ánh sáng thuần khiết
và thanh tịnh chiếu sáng mọi vật chung quanh ngài. Đây
là ánh sáng do tính chất nồng ấm của ngài phát ra và dĩ
nhiên nó soi sáng tâm của những người chung quanh ngài. Cú
ngữ “sáng tinh ròng thanh tịnh” bao gồm ý nghĩa rất Thánh
thiện này. Mặt trời trí tuệ của ngài tiêu hủy bóng tối.
Như vẫn thường được nêu trong cuốn sách này, u ám tan biến
ngay khi mặt trời của trí tuệ thực sự chiếu rọi vào đấy,
vì u ám phát xuất từ trạng thái trong đó sự hiện hữu
thực sự của mọi vật bị ảo tưởng bao phủ. Khi ảo
tưởng biến mất, những khổ nạn khác nhau sẽ tan biến đi
và toàn bộ xã hội sẽ trở nên sáng sủa. Trạng thái này
được diễn tả trong các dòng. “Điều phục nạn gió, lửa
/ Chiếu sáng khắp thế gian !”.
Các từ “Pháp
bi mẫn, sấm động” ca ngợi cái năng lực lớn của các
giới hạnh mà Bồ-tát thủ trì. Giá trị của giới hạnh
tùy thuộc vào cái tinh thần căn bản của người thiết lập
và thủ trì chúng. Giá trị của các quy tắc, luật lệ, quy
định tùy thuộc vào tinh thần của những người thiết lập
và ban hành chúng. Tinh thần của họ chứa đựng càng nhiều
ích kỷ thì giá trị của các quy tắc, luật lệ quy định
ấy càng trở nên thấp kém hơn. Quả là không hay ho khi không
biết đến quần chúng, buộc họ phải tuân thủ những luật
lệ hay quy tắc khó khăn, đơn giản là vì người làm luật
ấy tự thân đã đạt đến trình độ cao về tâm thức; luật
lệ hay nguyên tắc được đặt căn bản trên cái tiền đề
quy ngã và tự mãn thì thấp kém.
Mặt khác,
giới hạnh của Bồ-tát Quán Thế Âm khởi lên từ cái tâm
từ bi của ngài, qua đó ngài cảm thấy thương xót hết thảy
chúng sanh và muốn gỡ bỏ những khổ đau của họ. Giới
hạnh của ngài được đặt căn bản trên cái tâm từ bi,
có một năng lực lớn như tiếng sấm vang rền.
Đây là
mẫu thức cho những
người đang
ở trong địa vị lãnh đạo.
Một ý nghĩa
sâu xa bao hàm trong các dòng sau đây: “Lòng từ đẹp như
mây / Rải mưa pháp cam lộ / Dập tắt lửa phiền não
!”
Lòng từ
trỏ cái tinh thần của Bồ-tát Quán Thế Âm muốn làm cho
tất cả chúng sanh hạnh phúc. Tâm từ của ngài vô hạn như
đám mây lớn che phủ bầu trời. Với tinh thần này, ngài
tưới mưa Pháp lên các chúng sanh và dập tắt lửa phiền
não của họ như mưa móc làm hồi sinh các cây cỏ héo khô.
Thần thông của Bồ-tát được miêu tả ở những dòng sau
đây: “Tranh tụng trước cửa quan / Sợ hãi trong chiến trận,
/ Nếu niệm sức Quán Âm, / Mọi kẻ thù tháo chạy”. Ở
đây chúng ta phải tìm ẩn ý của các dòng trên. Mọi tranh
tụng dù lớn hay nhỏ, đều bắt nguồn từ sự mâu thuẫn
của những cái tôi (ngã). Chúng phát sinh từ cái tâm tàn ác,
không kể tới những gì xảy ra cho những người khác, và
từ cái tâm không độ lượng, không tha thứ những người
khác. Vào những lúc như thế, chúng ta phải niệm danh hiệu
của Bồ-tát Quán Thế Âm và phải nghĩ đến năng lực của
ngài. Bồ-tát đã lập đại nguyện chiếu cố những tiếng
kêu của tâm người ta và gỡ bỏ khổ đau của họ. Chúng
ta phải nhớ cái tâm từ hòa, tinh thần hy sinh và gương mặt
từ bi, tràn trề sự nồng ấm của ngài. Thế là sẽ có sự
cảm thông giữa tâm ngài và tâm chúng ta.
SỰ THÔNG
CẢM:
Nếu ta nghĩ
đến Bồ-tát Quán Thế Âm thì tâm ta tự nhiên được dẫn
đến cái trạng thái tâm thức như ngài. Kết quả là ta sẽ
phát sinh những cảm giác nồng ấm và vị tha. Ta có thể tách
ra khỏi cái tính ưa tranh cãi do sự vị kỷ gây nên và đạt
được một trạng thái an bình của tâm. Ta sẽ cảm thấy
thoải mái ngay cả khi gặp phải những mâu thuẫn hay tranh
cãi và do đó, những thứ này sẽ được hướng đến một
sự thỏa thuận an hòa. Đây là ý nghĩa thực sự của sự
cảm thông giữa Bồ-tát và những người bình thường.
Những dòng
sau đây cũng chứa đựng những lời gây phấn khởi: “Diệu
âm, Quán Thế Âm, / Phạm âm, Hải triều âm / Thẳng bỉ thế
gian âm / Do đó nên luôn niệm”.
Như đã nêu
trước đây, Diệu âm nghĩa là ngôn ngữ của chân lý. Từ
“Quán Thế Âm” đã được giải thích. Từ “Phạm âm”
trỏ ý về giáo lý được thuyết giảng với cái tâm thanh
tịnh. Từ “Hải triều âm” trỏ rằng giáo lý tác động
thâm sâu vào tâm người nghe, giống như tiếng sóng triều
vang vọng đến dù người ta ở xa. Từ “Thắng bỉ thế gian
âm” nghĩa là giáo lý có sức thần thông khiến nó thắng
vượt mọi ảo tưởng và khổ đau trên đời. Do đó, tất
cả mọi chúng sanh nên niệm Bồ-tát Quán Thế Âm, vị giảng
giáo lý tối thượng về mọi mặt và nên mong muốn được
như Bồ-tát.
Phần kệ
chấm dứt bằng các dòng sau đây:
“Mọi
niệm, chớ sinh nghi
Quán Thế
Âm tịnh diệu,
Trong khổ,
não, tử, ách
Là chỗ
nương tựa được.
Ngài đủ
mọi công đức
Mắt từ
nhìn chúng sanh
Phước như
biển vô lượng !
Hãy kính
đảnh lễ ngài”.
Chúng ta không
nên niệm Bồ-tát Quán Thế Âm mà nghi ngờ rằng ước muốn
của chúng ta có được thành tựu hay không. Chúng ta có
thể luôn luôn tin tưởng vị Bồ-tát này khi chúng ta gặp
đau đớn, phiền não, chết chóc và hoạn nạn. Ngài toàn hảo
về mọi công đức và nhìn hết thảy chúng sanh bằng những
con mắt từ bi của ngài. Mọi phước lạc đều có thể được
ban cho chúng ta nhờ công hạnh của sức từ bi của ngài. Vì
thế, chúng ta phải đảnh lễ ngài, tôn kính ngài và noi theo
những thực hành của ngài.
Phẩm 25 chấm
dứt bằng các câu sau: “Bấy giờ Bồ-tát Trì Địa đứng
lên khỏi chỗ ngồi, tiến lên phía trước và bạch Phật:
"Bạch Thế
Tôn ! Nếu có chúng sanh nào nghe đến sự nghiệp tối cao và
các sức thần thông thị hiện rộng khắp (phổ môn) được
miêu tả trong phẩm Quán Thế Âm Bồ-tát này thì nên biết
công đức của người ngày không phải la ửít".
“Trong khi
đức Phật thuyết giảng phẩm Phổ Môn này, tám vạn bốn
ngàn chúng sanh trong hội chúng đều phát tâm vô thượng Bồ-đề”.
Tổng kết
các giáo lý của phẩm này, có thể nêu ba điểm sau đây:
Giáo lý thứ
nhất là: Nếu một người đang ở trong một vị trí lãnh
đạo, người ấy phải nhìn đến những mong ước của mọi
người và với một cái tâm từ bi toàn hảo, hy sinh vì những
người khốn khổ, và người ấy phải giúp đỡ họ khi họ
bị khổ đau, sầu não. Giáo lý thứ hai là: Khi một người
phải đối mặt với một vấn đề bức bách và rối rắm
hoặc những mâu thuẫn, hoặc người ấy cảm thấy bị thúc
bách vào mê đắm điều xấu ác, thì người ấy cần niệm
Bồ-tát Quán Thế Âm ái hòa, an tịnh và độ lượng. Thế
là người ấy sẽ có thể mở rộng tâm mình mà lặng lẽ
đối mặt với bất cứ vấn đề gì dù bức bách hay rối
rắm.Người ấy cũng sẽ trở nên tự tại khỏi sự tranh
chấp và mọi xu hướng xấu ác. Giáo lý thứ ba là: Một người
cần phải nhắm đạt đến cấp độ tâm thức của Bồ-tát
Quán Thế Âm là vị có đức hạnh tuyệt hảo và năng lực
siêu nhiên. Để đạt mục đích này, người ấy phải noi
theo giáo lý của chân lý mà đức Như Lai Thích-ca-mâu-ni dạy
và thực hành giới luật mà không thối thất.
Từ ba giáo
lý này, chúng ta có thể hiểu rõ ý định thực sự của đức
Phật trong phẩm này.