Phẩm
23
DƯỢC
VƯƠNG BỒ-TÁT BỔN SỰ
Chúng ta đã
hoàn tất cấp độ thứ nhất của Phật pháp trong kinh Pháp
Hoa bằng phẩm 22, “Chúc Lụy” (sự giao phó, ủy thác cuối
cùng). Nói đúng hơn, với phẩm 22, chúng ta đã kết thúc việc
nghiên cứu khái quát về kinh Pháp Hoa. Chúng ta có thể lấy
làm lạ rằng thế thì tại sao đức Phật còn giảng thêm
sáu phẩm nữa.
Với phẩm
22, quả thực chúng ta đã có thể hiểu được những ý tưởng
cơ bản của các giáo lý của đức Phật để khẳng định
niềm tin của chúng ta vào các giáo lý ấy và để có quyết
định sẽ thực hành. Đối với những người bình thường,
nói về giáo lý của đức Phật thì dễ nhưng thực hành giáo
lý thì lại rất khó.
Chúng ta
đã xác lập một thái độ căn bản đối với việc thực
hành. Nhưng khi ta thực sự thực hành thì ta cần xác nhận
thái độ của ta một lần nữa. Ta nên làm điều này như
thế nào ? Ta phải tìm kiếm cái sức mạnh để được khích
lệ và được gây hứng khởi khiến ta sẽ không bao giờ ngã
lòng hay quên đi cái thái độ căn bản của ta đối với thực
hành. Tóm lại, ta cần một cái gì đó được dùng như một
sức đẩy có hiệu quả cho việc thực hành của ta.
Sức đẩy
có hiệu quả nhất là gì ? Không có gì gây cảm hứng hơn
các gương tu tập trong quá khứ của những vị đã thực hành
con đường của Phật pháp theo những cách riêng biệt và theo
đó đạt được những công đức riêng biệt. Ta có thể nói
như thế về những hành vi đạo đức trong đời sống hàng
ngày của ta. Ví dụ, khi ai đó dạy con cái mình về lý thuyết
tại sao người ta phải tử tế với người già cả, thì cũng
đáng nghi rằng chúng có sẽ chuyển lý thuyết sang thực hành
hay không. Nhưng nếu bậc cha mẹ nêu một ví dụ cụ thể
cho các con - chẳng hạn như bảo “Hôm nay trên xe buýt, ba
(hay má...) thấy một cậu bé nhường chỗ ngồi cho một bà
lão. Sự tử tế và tôn kính của cậu bé thực sự khiến
ta cảm thấy hài lòng” - bọn trẻ sẽ lưu ý và muốn theo
gương cậu bé ấy.
Người bình
thường cần có những mẫu thức thực sự để giúp họ thực
hành những gì là tốt. Họ cần lấy ai làm mẫu thức cho
họ trong việc thực hiện con đường Phật pháp? Không cần
phải nói, họ cần theo mẫu thức của chính đức Phật Thích-ca-mâu-ni.
Điều thứ nhất họ phải làm là bước đi trên con đường
mà đức Phật đã chỉ cho họ. Nhưng họ không biết làm sao
để khởi sự theo gương đức Phật vì Ngài thì toàn hảo,
toàn thiện và đã thành tựu mọi đức hạnh. Người bình
thường có thể dễ dàng hơn nhiều khi nhằm noi theo một đức
hạnh mà một vị Bồ-tát có được hay một hành tác mà một
vị Bồ-tát thực hiện.
Các phẩm
cuối kinh Pháp Hoa cung cấp cho chúng ta một loạt mẫu thức
Bồ-tát như vậy. Trong các phẩm này, mỗi đức hạnh của
vị Bồ-tát đều được miêu tả là cao nhất, là trạng thái
lý tưởng của tâm; do miêu tả những đức hạnh như thế
và do thúc đẩy ta đạt tới trạng thái lý tưởng như thế,
đức Phật cảnh giác ta rằng ta có thể trở nên kiêu mạn.
Cuộc đời tu hành của ta là một quá trình tương tục của
thử thách và sai lầm, của sự tiến lên hai bước và lùi
một bước. Mỗi khi đọc sáu phẩm cuối kinh Pháp Hoa, ta lại
được khích lệ và được gây cảm hứng mới để đừng
xao lãng hay kiêu mạn. Ở đây chứa phần quan trọng của các
phẩm này. Vì vậy, ta chớ xem thường việc nghiên cứu các
phẩm cuối, đơn giản là vì ta đã hoàn tất phần khái quát
của kinh Pháp Hoa ở phẩm 22.
Có một điểm
mà chúng ta cần phải thật thận trọng: nhiều biểu lộ thần
bí trong các phẩm này so với phần trước của kinh. Chúng
ta không nên hiểu lầm các biểu lộ này. Chúng ta cần đặc
biệt chú ý tới các điểm sau đây. Trước hết, chúng ta
phải nắm vững tinh thần của những biểu lộ thần bí này
và hiểu chúng thực sự nghĩa là gì. Ví dụ, phẩm 23 bảo
rằng Bồ-tát Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến châm lửa vào
hai cánh tay mà đốt. Ở Ấn Độ cổ, có nhiều ẩn sĩ đã
thực sự làm những việc như thế. Ở Trung Quốc và Nhật
Bản, đó là chưa kể ở Việt Nam, đã có nhiều trường hợp
các tu sĩ Phật giáo tự thiêu và chết mà vẫn ngồi an nhiên
trong lửa rực. Tuy nhiên, những thực hành như thế là trái
với giáo lý Trung Đạo mà đức Phật đã dạy và những thực
hành này tự thân không đáng được ca ngợi(1). Thế thì tại
sao ở phẩm 23 Bồ-tát Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến lại
được ca ngợi ? Đấy là vì chúng ta ngày nay phải theo mẫu
thức của cái tinh thần nhiệt tâm của ngài như được nếu
tỏ trong tu tập của ngài. Đốt đôi cánh tay mình tượng
trưng cái tinh thần bất khuất của mình trong việc thực hành
giáo lý. Đúng hơn, đấy là sự biểu hiện của tinh thần
mình trong việc thực hành Pháp dù phải hy sinh mạng sống
của mình. Ta phải hiểu ý nghĩa sâu xa của những biểu từ
như đốt đôi cánh tay mình và chớ bị lệch lạc vì những
ý nghĩa bề ngoài của từ ngữ.
Thứ hai,
chúng ta sẽ bị sai lầm nếu chúng ta hiểu hình thức của
cứu độ một cách hời hợt. Ví dụ, ở phẩm 25, “Quán
Thế Âm Bồ-tát” có nói rằng hễ ai niệm Bồ-tát Quán Thế
Âm thì sẽ được thoát khỏi những khổ đau. Nếu chúng ta
hiểu lời khẳng định này theo nghĩa đen thì có vẻ như chúng
ta khỏi phải nhọc công thực hành các giáo lý của đức
Phật; nhưng với một thái độ như thế thì chẳng có giáo
lý nào trong kinh Pháp Hoa có kết quả. Ai cũng có thể dễ
dàng hiểu rằng trong sáu phẩm cuối, không thể nào đức
Phật lại quá phi lý và mâu thuẫn mà từ chối tất cả những
giáo lý đã được tuyên thuyết suốt phẩm 22. Kể cũng đáng
ngạc nhiên khi thấy rằng suốt nhiều thế kỷ, nhiều người
đã có một diễn dịch nông cạn về những gì cần được
hiểu một cách thật dễ dàng và quay sang một niềm tin dễ
dãi, lười biếng mà họ nghĩ rằng sẽ cho phép họ được
thoát khỏi khổ đau chỉ bằng cách tưởng niệm Bồ-tát Quán
Thế Âm.
Khi ta đọc
phẩm 25 một cách cẩn thận và thâm trầm, ta hiểu rằng các
thần lực của Bồ-tát này về cơ bản, cũng như thần lực
của Pháp mà đức Như Lai Thích-ca-mâu-ni giảng. Ta cũng hiểu
rằng về mặt tâm linh, ta phải dựa vào Pháp của đức Thích-ca,
nhưng về mặt học và hành thì ta nên lấy gương mẫu của
Bồ-tát Quán Thế Âm làm mục đích trực tiếp của ta. Đáng
tiếc nhất là sự hiểu lầm và những diễn dịch dễ dãi
về các kinh Phật đã chìm sâu trong trí óc của quần chúng
suốt một thời kỳ nhiều thế kỷ, làm suy yếu cái tinh thần
thực sự của Phật giáo. Chúng tôi tha thiết hy vọng độc
giả của cuốn sách này sẽ không phạm sai lầm như thế.
Chúng ta hãy
đi vào nội dung của phẩm 23.
Khi tất cả
đều rất hoan hỷ nghe được thuyết giảng của đức Phật
ở phẩm 22, “Chúc Lụy”, Bồ-tát Túc Vương Hoa bạch đức
Phật rằng: “Bạch Thế Tôn ! Tại sao Bồ-tát Dược Vương
du hành ở thế giới Ta-bà ? Bạch Thế Tôn ! Bồ-tát Dược
Vương đã phải chịu đến trăm ngàn vạn ức na-do-tha khổ
nhọc !
Tốt lành
thay, bạch Thế Tôn, xin Ngài giải thích đôi chút, để cho
chư Thiên, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Câu-na-la, Khẩn-na-la,
Ma-hầu-la-già, Người, Không phải người và Bồ-tát từ các
quốc độ khác đến, cũng như chư Thanh văn này nghe và được
hoan hỷ” (Cú ngữ “du hành ở thế giới Ta-bà” nghĩa là
Bồ-tát Dược Vương xuất hiện tự tại ở bất cứ nơi
nào trong cõi Ta-bà để khai ngộ và cứu độ tất cả chúng
sanh ở đấy).
Bấy giờ
đức Phật nói với Bồ-tát Túc Vương Hoa: “Xưa kia, trong
thời quá khứ vô lượng như cát sông Hằng, có một vị Phật
hiệu là Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh
Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng
Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
Vị Phật này có tám mươi ức Đại Bồ-tát Ma-ha-tát và một
đại chúng Thanh văn nhiều như bảy mươi hai lần cát của
sông Hằng. Thọ mạng của đức Phật này là bốn vạn hai
ngàn kiếp và thọ mạng của chư Bồ-tát của Ngài cũng như
thế. Quốc độ của Ngài không có nữ giới, địa ngục,
quỷ đói, súc sanh, a-tu-la và không có các khổ nạn. Địa
hình như bàn tay, đất do lưu ly tạo thành, cây báu trang nghiêm,
trướng báu che bên trên, phan bằng hoa báu treo rũ, khắp xứ
đều có bình báu, hương thơm. Các đài bằng bảy báu, mỗi
đài có cây. Cây cách đài một khoảng bằng một tầm tên
bắn. Dưới mỗi cây báu này có chư Bồ-tát và Thanh văn ngồi.
Trên mỗi bảo đài đều có một trăm ức vị Thiên tấu nhạc
trời và hát ca ngợi đức Phật để cúng dường”.
Như đã được
giải thích ở phần bàn luận về phẩm 12, “Đề-bà-đạt-đa”,
lý do nữ giới được nêu ở đây cùng với địa ngục, quỷ
đói, súc sanh và A-tu-la phát xuất từ ý niệm được chấp
nhận khá phổ biến tại Ấn Độ cổ cho rằng nữ giới là
hiện thân của tội lỗi và là một trở ngại cho việc tu
hành của nam giới. Do đó, chúng ta không nên hiểu theo nghĩa
đen chỗ nêu dẫn về phụ nữ trong văn mạch như thế. Chúng
ta chớ quên rằng giáo lý của đức Phật phá bỏ ý niệm
được chấp nhận phổ biến vào thời Ngài.
“Thế rồi
đức Phật giảng kinh Pháp Hoa cho Bồ-tát Nhứt Thiết Chúng
Sanh Hỷ Kiến cùng tất cả chư Bồ-tát và đại chúng Thanh
văn. Bồ-tát Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến này đã hoan hỷ
tu theo khổ hạnh và trong Pháp của đức Phật Nhựt Nguyệt
Tịnh Minh Đức, đã tinh tấn tu hành, nhất tâm cầu Phật
trong suốt một vạn hai ngàn năm, sau đó, đạt Hiện Nhứt
thiết Sắc thân Tam - muội (loại Thiền định về sự thể
hiện mọi cái thân sắc tướng).
Hiện Nhứt
thiết Sắc thân Tam-muội là loại Thiền định nhờ đó một
vị Bồ-tát xuất hiện tự tại trong một cái thân thể hay
hình tướng thích hợp và có sự giáo hóa thích hợp để
đưa người ta đến giáo lý. Nếu người ta là những người
có thể được dẫn đắt một cách hiền hòa thì vị Bồ-tát
sẽ mang một biểu hiện hiền hòa và dùng những lời lẽ
dịu dàng. Nếu họ là những người cần phải được giáo
hóa nghiêm khắc thì ngài dùng một biểu hiện dữ tợn như
Bất Động Minh Vương (Fudò Myò-ò)(1) và nói ra những lời
khắc nghiệt. Vị Bồ-tát có thể thực hiện những biến
hóa như thế một cách hoàn toàn tự tại và chắc chắn. Một
người chưa đạt được cái trạng thái tâm thức của Tam-muội
(định) này có thể phán đoán sai lầm khả năng của những
người khác về sự lĩnh hội giáo lý và do đó thất bại
trong việc dẫn dắt họ đến giáo lý. Đây là sự lưu ý
rất quan trọng cho chúng ta, những tín giả của kinh Pháp Hoa,
thực hành kinh trong thời mạt pháp.
“Đạt được
Tam-muội này, Bồ-tát Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến rất
hoan hỷ và suy nghĩ rằng: "Ta đạt được Tam-muội Hiện Nhứt
thiết Sắc thân là do năng lực phát xuất từ việc nghe kinh
Pháp Hoa. Nay ta nên cúng dường đức Phật Nhựt Nguyệt Tịnh
Minh Đức và kinh Pháp Hoa". Liền đó, Bồ-tát nhập vào định
này, từ trên hư không, rải hoa mạn-đà-la, hoa đại mạn-đà-la
và rải bụi chiên-đàn nhỏ và đen đầy cả hư không rơi
xuống như mây, ngài cũng rải hương chiên đàn hải thử ngạn(2),
cứ sáu thù(1) hương này tương ứng với một thế giới Ta-bà
để cúng dường đức Phật.
“Sau khi
đã cúng dường như thế, Bồ-tát Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ
Kiến từ Tam-muội đứng lên, nghĩ rằng: "Tuy ta đã dùng thần
lực mà cúng dường đức Phật, vẫn không bằng lấy thân
ta mà cúng dường". Bấy giờ ngài thưởng thức nhiều loại
hương chiên-đàn, huân-lục(2), đâu-lâu-bà(3), tất-lực-ca(4),
trầm thủy giao(5) - và ngài uống dầu tinh của cây chiêm-bặc
(campaka) và của các loài hoa khác. Sau trọn một ngàn hai trăm
năm, ngài dùng dầu thơm thoa thân thể, và trước đức Phật
Nhựt Nguyệt Tịnh Minh Đức, ngài lấy y báu cõi trời mà
quấn thân mình, tắm dầu thơm, rồi dùng nguyện thần thông
mà tự thiêu nhân; ánh sáng chiếu các cõi thế giới nhiều
như số cát của tám mươi ức sông Hằng”.
Thưởng thức
nhiều loại hương và uống tinh dầu của các loại hoa tượng
trưng cho sự thanh tịnh của thân thể mình. Hành động tượng
trưng này dạy ta rằng trước hết ta phải tanh tịnh hành
xử của ta trước khi ta cúng dường đức Phật. Trong cú ngữ
<133> “dùng nguyện thần thông mà tự thiêu thân”, từ
“nguyện thần thông” nghĩa là năng lực siêu nhiên (thần
lực) của ngài, cái năng lực được thể hiện không phải
nhằm vì riêng ngài mà nhằm vì sự truyền bá Phật pháp.
Đạt được sức thần thông và tự tại tuyên thuyết, quảng
bá các giáo lý của đức Phật là sự cúng dường lớn lao
nhất dành cho đức Phật.
“Chư Phật
đồng thời khen ngài rằng: "Lành thay, lành thay ! Thiện nam
tử ! Đây là sự tinh tấn thật sự. Đây gọi là sự cúng
dường đức Như Lai đúng theo chân pháp, những vật cúng dường
như hoa, hương, vòng cổ, các thứ hương đốt, hương bột
trầm, cờ, lọng bằng lụa cõi trời và hương chiên-đàn
hải thử ngạn, nhiều thứ vật cúng dường như thế vẫn
không bằng, dù có bố thí quốc độ, thành trì, thê tử cũng
không sánh được. Này Thiện nam tử ! Đây gọi là sự bố
thí đệ nhất, tối tôn, tối thượng trong các bố thí, vì
đây là sự cúng dường đức Như Lai đúng theo Chân pháp".
Sau khi nói như thế, tất cả chư vị đều giữ im lặng.
“Thân thể
của ngài vẫn tiếp tục cháy suốt một ngàn hai trăm năm.
Sau đó, thân ngài mới tiêu tận”.
SỰ BỐ THÍ
ĐỆ NHẤT:
Ở đây đức
Phật dạy rõ rằng sự cúng dường thực sự dành cho đức
Như Lai và một sự bố thí thật sự là thực hành Pháp. Tự
thiêu đốt thân mình nghĩa là tận tụy với Pháp, dù cho có
phải chịu khổ nhọc hay phải hy sinh thân mạng.
“Bồ-tát
Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến sau khi cúng dường Pháp như
thế, khi mạng chung lại sanh vào quốc độ đức Phật Nhựt
Nguyệt Tịnh Minh Đức, liền hóa thân, ngồi kiết-già trong
vương điện của vua Tịnh Đức. Bồ-tát dùng kệ nói với
vua, bấy giờ là thân phụ ngài:
"Đại
vương ! Nay nên biết
Con từng
trú nơi kia,
Ngay liền
đạt Tam-muội
Hiện Nhứt
thiết Sắc thân,
Chuyên hạnh
đại tinh tấn
Xả ái thân
của con".
“Sau khi nói
kệ này, ngài thưa với phụ thân rằng: "Nay đức Phật Nhựt
Nguyệt Tịnh Minh Đức vẫn hiện hữu như xưa. Sau khi trước
tiên cúng dường đức Phật ấy, con đạt được Đà-la-ni
(Dhàrani) hiểu được lời nói của tất cả chúng sanh; lại
được nghe kinh Pháp Hoa này trong tám trăm ngàn vạn ức na-do-tha,
nhơn-ca-la, tần-bà-la, a-súc-bà(1) kệ. Tâu Đại vương, nay
con phải trở về cúng dường đức Phật ấy". Nói thế xong,
ngài liền ngồi trên một ngôi tháp bảy báu, bay lên hư không,
cao bảy cây ta-la và khi đến chỗ đức Phật ấy, ngài cúi
mình xuống tới bàn chân Phật chắp mười ngón tay, ca ngợi
Phật bằng kệ:
"Dung nhan thật diệu kỳ
Quang
minh chiếu mười phương.
Xưa,
con từng cúng Phật
Nay
lại về gần gũi".
“Thế rồi
Bồ-tát Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến sau khi nói kệ, bạch
với đức Phật ấy rằng: "Bạch Thế Tôn ! Thế Tôn vẫn
còn hiện diện trong đời"“.
Lời tác
bạch ngắn ngủi này của Bồ-tát Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ
Kiến, tỏ rõ lòng mong mỏi khát khao của chư đệ tử của
đức Phật đối với Ngài. Đây là một sự phấn kích tôn
giáo trong đó niềm mong mỏi của chư đệ tử đối với đức
Phật và lòng từ bi của đức Phật đối với họ được
hòa lẫn một cách tuyệt hảo. Chúng ta cũng nên sẵn sàng
nói như lời của Bồ-tát Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến
hễ khi nào chúng ta nhìn thấy đức Phật.
“Bấy
giờ đức Phật Nhựt Nguyệt Tịnh Minh Đức nói với Bồ-tát
Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến: "Thiện nam tử ! Đã đến
lúc Ta nhập Niết-bàn. Đã đến lúc Ta diệt độ. Ông hãy
sắp đặt chỗ nằm cho Ta. Đêm nay Ta sẽ Bát-niết-bàn". Ngài
lại truyền lệnh cho Bồ-tát Nhứt Thích Chúng Sanh Hỷ Kiến:
"Thiện nam
tử ! Ta phó thác Phật pháp cho Ông. Và Ta giao cho Ông chư Bồ-tát
và các đại đệ tử của Ta, cùng Pháp chứng ngộ Vô thượng,
tam thiên đại thiên thế giới làm bằng bảy thứ báu cùng
với các cây báu, đài báu, chư Thiên tùy tùng. Ta cũng giao
cho Ông mọi xá-lợi còn lại sau khi ta diệt độ.
Hãy để
cho xá-lợi ấy được phân phát và được cúng dường cùng
khắp. Hãy dựng lên vài ngàn tháp"“.
Tại sao Bồ-tát
Nhứt Thiết Chúng Sanh Kiến lại được đức Phật phó thác
như thế? Đơn giản là vì vị Bồ-tát này dốc lòng tự mình
thực hành Pháp và vì đức Phật biết rõ sự thực hành của
Bồ-tát. Ở đây chúng ta thấy rõ rằng việc thực hành Pháp
của chúng ta là điều quan trọng nhất đối với chúng ta,
những tín đồ của Phật giáo.
Ý NGHĨA CỦA
VIỆC DỰNG THÁP:
Đức Phật
Nhựt Nguyệt Tịnh Minh Đức bảo Bồ-tát Nhứt Thiết Chúng
Sanh Hỷ Kiến hãy để cho xá-lợi của Ngài được phân phát
và được cúng dường cùng khắp. Nhưng Ngài không có ý bảo
hãy để cho xá-lợi Ngài được cúng dường cùng khắp mà
thôi, Ngài còn có ý bảo rằng qua việc cúng dường này, hãy
khiến tất cả các chúng sanh khởi lòng mong mỏi, khát khao
đức Phật. Đức Phật Nhựt Nguyệt Tịnh Minh Đức cũng bảo
Bồ-tát hãy cho dựng hàng ngàn ngôi tháp. Qua đó, đức Phật
muốn khiến tất cả chúng sanh ghi nhớ giáo lý trong tâm qua
việc dựng tháp như thế. Tháp được dựng lên là nhằm
mục đích ca ngợi công hạnh của đức Phật. Nếu ta dựng
tháp mà chỉ lưu tâm đến hình thức, daùng vẻ của tháp
và quên cái tinh thần xây dựng giáo pháp trong tâm ta thì tâm
ta không thể phù hợp với tâm của đức Phật. Điều Ngài
muốn không phải là cái bên ngoài mà là cái căn bản, không
phải là lý thuyết trống rỗng mà là sự thực hành.
“Đức Phật
Nhựt Nguyệt Tịnh Minh Đức truyền dạy Bồ-tát Nhứt Thiết
Chúng Sanh Hỷ Kiến như thế xong, đến cuối đêm thì nhập
Niết-bàn.
“Bấy giờ
Bồ-tát Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến thấy đức Phật diệt
độ thì vô cùng xúc động, áo não, thâm thiết nhớ thương.
Ngài lấy chiên-đàn hải thử ngạn chất lên làm củi, cúng
dường và thiêu đốt thân Phật. Sau khi lửa tắt, Bồ-tát
thâu nhặt xá-lợi, làm tám vạn bốn ngàn bình quý để đựng
và dựng tám vạn bốn ngàntháp”.
Vì người
ta bảo rằng đức Phật Thích-ca-mâu-ni giảng tám vạn bốn
ngàn bài giảng, nên biểu ngữ “Sau khi lửa tắt, Bồ-tát
thâu nhặt xá-lợi, làm tám vạn bốn ngàn bình quý để đựng
và dựng tám vạn bốn ngàn tháp” tượng trưng ý nghĩa rằng
Bồ-tát Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến nỗ lực duy trì mãi
mãi tất cả giáo lý của đức Phật, ghi nhớ và ca ngợi
các giáo lý ấy.
“Thế rồi
Bồ-tát Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến lại tự suy niệm
rằng: "Tuy ta đã cúng dường thế này, tâm ta cũng chưa phỉ.
Nay ta nên cúng dường xá-lợi nhiều hơn nữa". Ngài bèn nói
với chư Bồ-tát, chư đại đệ tử cùng với Trời, Rồng,
Dạ-xoa và tất cả đại chúng: "Chư vị nên toàn tâm lưu
ý, nay tôi sắp cúng dường xá-lợi đức Phật Nhựt Nguyệt
Tịnh Minh Đức”. Nói thế xong, trước tám vạn bốn ngàn
tháp, ngài đốt đôi cánh tay có trang nghiêm trăm thứ phước
của ngài, suốt bảy vạn hai ngàn năm cúng dường đức Phật,
khiến vô số những người cầu tìm quả vị Thanh văn và
vô lượng a-tăng-kỳ người phát tâm Vô thượng Bồ-đề
đều được an trú trong Tam-muội Hiện Nhứt thiết Sắc thân.”
CÚNG DƯỜNG
ĐỨC PHẬT:
Sự cúng
dường lớn lao nhất của Bồ-tát Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ
Kiến dành cho đức Phật là tận lực duy trì mãi mãi giáo
lý của đức Phật và ghi nhớ, ca ngợi các giáo lý ấy. Tuy
nhiên, là một tín giả thực hành kinh Pháp Hoa, Bồ-tát không
thỏa mãn với những thực hành như thế vì ngài hiểu rằng
sự cúng dường lớn lao nhất dành cho đức Phật là tự mình
thực hành các giáo lý của Ngài. Do đó mà Bồ-tát Nhứt Thiết
Chúng Sanh Hỷ Kiến thiêu đốt đôi cánh tay mình. Nói một
cách khác, ngài tận tụy thực hành Pháp mà không kể gì tới
những rối rắm, đau đớn và khó khăn có thể xảy ra theo.
Những thực hành của ngài tự chúng trở thành một nguồn
sáng lớn khiến mọi người xua tan sự tối tăm trong tâm,
làm cho họ sẵn lòng tìm Đạo. Từ sự miêu tả này, chúng
ta có thể hiểu được việc thực hành Pháp của chúng ta
mang lại cho chúng ta công đức lớn lao thế nào.
“Bấy giờ
tất cả chư Bồ-tát, Trời, Người, A-tu-la và các chúng sanh
khác thấy ngài không còn tay thì buồn rầu khổ đau mà bảo:
"Bồ-tát Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến nay quả là thầy,
là người giáo hóa chúng ta, nhưng tay ngài đã bị đốt cháy
hết và thân thể ngài không còn đầy đủ nữa." Bấy giờ
tại đại chúng, Bồ-tát Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến phát
nguyện rằng: "Sau khi xả bỏ đôi cánh tay, tôi sẽ được
cái thân sắc vàng của một vị Phật.
Nếu đấy
là thực, không hư thì xin khiến đôi cánh tay tôi được phục
hồi như trước." Ngay khi ngài vừa phát nguyện này xong, đôi
cánh tay ngài liền được phục hồi, đấy là do phúc đức
và trí tuệ thuần hậu của vị Bồ-tát này. Vào lúc ấy,
thế giới tam thiên đại thiên rung động theo sáu cách, bầu
trời rải mưa hoa, hết thảy Trời, Người đạt được điều
mà trước đây họ chưa bao giờ kinh qua”.
Sự phục
hồi hai cánh tay của Bồ-tát Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến
tượng trưng cái trạng thái lý tưởng của tâm mà những
ai tu tập hạnh Bồ-tát phải duy trì. Hành động đốt đôi
cánh tay mình đối với những người khác sẽ tạo cảm giác
đau đớn không thể chịu đựng nổi. Tuy nhiên, với một
hành động như thế, một người đã đạt được trạng thái
tâm thức của một vị Đại Bồ-tát sẽ không cảm thấy
đau đớn. Huống chi vị ấy có thể hy sinh mạng sống của
mình vì Pháp, vị ấy không cảm thấy đau đớn. Kinh miêu
tả trạng thái tâm thức này như sau: “Bồ-tát luôn hoan hỷ
và tự tại nói Pháp. Như vẫn thường được nêu trong cuốn
sách này, đây là trạng thái tâm thức lý tưởng của chúng
ta.
Thế rồi
đức Phật nói với Bồ-tát Túc Vương Hoa: “Ý Ông thế nào?
Bồ-tát Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến là ai khác chăng ?
Chính là Bồ-tát Dược Vương nay đó vậy. Bồ-tát đã xả
thân, bố thí vô lượng trăm ngàn vạn ức na-do-tha số như
thế. Túc Vương Hoa ! Nếu có ai phát tâm nhằm đạt Tối thượng
Bồ-đề mà có thể đốt những ngón tay hay thậm chí một
ngón chân của mình để cúng dường một tháp Phật thì người
ấy sẽ vượt hơn người cúng dường quốc độ, thành trì,
vợ con và cả tam thiên đại thiên thế giới của mình gồm
núi, rừng, sông, hồ và tất cả các thứ trân bảo.
“Lại nữa,
nếu có ai dâng cúng một tam thiên đại thiên thế giới đầy
cả bảy báu mà cúng dường chư Phật, Đại Bồ-tát, Bích-chi
Phật, A-la-hán thì công đức mà người ấy đạt được không
bằng phước lạc thắng vượt của người thọ trì kinh Pháp
Hoa, thậm chí chỉ một bài kệ bốn câu của kinh”.
MƯỜI VÍ
DỤ CA NGỢI KINH PHÁP HOA:
Đức Phật
dạy tiếp: “Này Túc Vương Hoa ! Ví như trong tất cả suối,
lạch, sông nhỏ, sông lớn... biển là đệ nhất, kinh Pháp
Hoa này cũng như thế; trong tất cả các kinh mà chư Như Lai
thuyết giảng, kinh này là sâu nhất, lớn nhất. Lại nữa,
như trong tất cả các núi, núi đất, núi Đen, núi Tiểu Thiết
vi, núi Đại Thiết vi, núi mười báu... núi Tu-di (Sumeru) là
đệ nhất, kinh Pháp Hoa cũng vậy; trong tất cả các kinh, kinh
này là cao nhất. Lại nữa, như trong tất cả các tinh tú,
Nguyệt thiên tử là đệ nhất, kinh Pháp Hoa cũng vậy; trong
ngàn vạn ức loại kinh, kinh này sáng chói nhất. Lại nữa,
cũng như Nhựt thiên tử có thể xua tan tất cả các bóng tối,
kinh này cũng vậy, có thể phá tan mọi u ám bất thiện. Lại
nữa, cũng như trong tất cả các tiểu vương, Chuyển luân
Thánh vương là đệ nhất, kinh này cũng vậy; trong tất cả
các kinh, kinh này là tối tôn. Lại nữa, cũng như Đế Thích
trong chư Thiên của ba mươi ba cõi trời, kinh này cũng vậy,
là vua của tất cả các kinh. Lại nữa, cũng như Đại Phạm
thiên vương là cha của tất cả chúng sanh, kinh này cũng vậy,
là cha của tất cả Hiền, Thánh, Hữu học, Vô học và của
những người phát tâm Bồ-tát. Lại nữa, cũng như trong tất
cả những người phàm phu, Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm,
A-la-hán, Bích-chi Phật là đệ nhất, kinh này cũng vậy; trong
tất cả các kinh mà chư Như Lai thuyết giảng, chư Bồ-tát
thuyết giảng, chư Thanh văn thuyết giảng, kinh này là đệ
nhất. Những người thọ trì kinh này cũng vậy, trong tất
cả chúng sanh, họ là đệ nhất. Trong tất cả Thanh văn và
Bích-chi Phật, chư Bồ-tát là đệ nhất, kinh này cũng vậy;
trong tất cả các kinh, kinh này là đệ nhất. Cũng như đức
Phật là vua của các pháp, kinh này cũng vậy, là vua trong các
kinh”.
Trong mười
ví dụ ca ngợi kinh Pháp Hoa nêu trên, kinh này được khẳng
định nhiều lần là tối thượng và tối vi diệu trong tất
cả các kinh. Điều này minh họa ý định của đức Phật
muốn chúng ta ghi khắc trong tâm rằng việc thực hành Pháp
của chúng ta là thiết yếu nhất để thành tựu Phật đạo.
Đáng chú
ý nhất trong các ví dụ này là: “Cũng như Đại Phạm thiên
vương là cha của tất cả chúng sanh, kinh này cũng vậy, là
cha của tất cả Hiền, Thánh, Hữu học, Vô học và của những
người phát tâm Bồ-tát”. Ở Ấn Độ, trong một thời gian
dài trước khi đức Phật Thích-ca-mâu-ni xuất hiện trên đời
này, người ta tin rằng Đại Phạm thiên vương là cha của
tất cả chúng sanh và rằng vị vua trời này cai quản mọi
chúng sanh. Trong ví dụ nêu trên, đức Phật không đặc biệt
nói rằng đây là một ý niệm sai lầm, nhưng Ngài dạy: “Cũng
như tất cả chúng sanh xem Đại Phạm thiên vương là cha mình,
cũng thế, kinh này là cha của tất cả chúng sanh”. Đây là
một đặc điểm của Phật giáo để dẫn dắt người bình
thường đến con đường chân lý bằng thể cách nhu hòa đức
Phật nêu ra ở đây. Ngài thuyết giảng một cách nhu hòa mà
xác quyết, “Chân lý là cha của tất cả chúng sanh”.
Đức Phật
dạy tiếp: “Túc Vương Hoa ! Kinh này là kinh có thể cứu
độ tất cả chúng sanh; kinh này có thể giải thoát tất cả
chúng sanh khỏi khổ đau; kinh này có thể gây lợi lạc lớn
cho tất cả chúng sanh và làm thỏa mãn mong muốn của họ”.
Ở đây đức
Phật giảng rõ ràng hơn, rằng tự kinh Pháp Hoa khiến cho tất
cả chúng sanh được cứu độ, được giải thoát khỏi khổ
đau, được lợi lạc và được thỏa mãn mong muốn của họ.
Từ “mong muốn” không có nghĩa là mong muốn ngay liền được
thỏa mãn vật chất hay được một cuộc sống thuận lợi.
Nó trỏ cái lý tưởng vốn là mục tiêu thực sự của đời
người ta. Dù mỗi người đều có sự mong muốn, hay mục
tiêu riêng của mình, mong muốn hay mục tiêu ấy phải là cái
gây lợi lạc cho những người khác. Đối với các Phật tử,
đây là điều quan trọng có tính quyết định. Sự diễn dịch
sai về kinh Pháp Hoa phát sanh khi người ta hiểu lầm từ “mong
muốn” theo nghĩa mong muốn ngay liền vốn có căn bản là
lòng tham của con người. Không có gì nguy hiểm và đáng
sợ bằng sự ngộ nhận Pháp. Chúng ta phải hết sức cẩn
trọng để hiểu Pháp cho đúng.
MƯỜI HAI
VÍ DỤ VỀ ƠN ĐỨC THIÊNG LIÊNG MÀ KINH PHÁP HOA MANG LẠI:
Đức Phật
dạy tiếp: “Như một hồ nước trong mát có thể thỏa mãn
tất cả những ai đang khát, như người lạnh được gặp
lửa thì vui sướng, như người khỏa thân được quần áo,
như đoàn thương nhơn được người lãnh đạo, như con cái
tìm thấy mẹ hiền, như người qua sông gặp được thuyền,
như người bệnh gặp được thầy thuốc, như người trong
tối gặp được đèn, như kẻ nghèo gặp được vật báu,
như dân được vua, như khách buôn gặp biển, và như ngọn
đuốc xua tan bóng tối, kinh Pháp Hoa này cũng vậy, có thể
giải thoát tất cả chúng sanh khỏi mọi khổ đau, mọi bệnh
tật và có thể tháo mở mọi ràng buộc của sanh tử”.
Ở
đây, đức Phật nêu ra mười hai ví dụ về ơn đức mà kinh
Pháp Hoa mang lại. Khi cẩn thận xét từng ví dụ, ta nhận
ra rằng mỗi ví dụ không chỉ tán dương ơn đức của kinh.
Biểu ngữ cuối “có thể tháo mở mọi ràng buộc của sinh
tử” có một ý nghĩa rất quan trọng. “Những ràng buộc
của sinh tử” nghĩa là cái trạng thái tâm trong đó ta ngạc
nhiên và hoảng hốt vì những thay đổi tức khắc trong hoàn
cảnh của ta và cảm thấy bất an. Tại sao ta có thể không
cảm thấy an toàn ? Đấy là vì ta bị dao động và bị ảnh
hưởng bởi những thay đổi tức khắc trong hoàn cảnh của
ta. Khi ta hiểu được ba Pháp ấn (ba yếu tính) của Phật
giáo - tất cả mọi sự vật đều vô thường, không có gì
có một tự ngã, và Niết-bàn là tịch lặng - thì ta có thể
thoát khỏi tất cả những ràng buộc của sinh tử và có thể
đạt được sự an bình thật sự của tâm, không bị dao động
bởi bất cứ thay đổi nào có thể xảy ra chung quanh ta.
Thế rồi,
đức Phật dạy: “Nếu có ai, nghe kinh Pháp Hoa này, hoặc
tự mình chép hoặc khiến những người khác chép kinh này
thì những công đức người ấy đạt được dù có dùng Phật
tuệ mà tính cũng không tính tới giới hạn của chúng được.
Nếu có ai chép kinh này và cúng dường bằng hoa, hương, vòng
cổ, hương đốt, hương bột, hương thoa, cờ, lọng, y phục
và các thứ đèn, đèn bơ, đèn dầu, đèn dầu thơm, đèn
dầu chiêm-bặc (campaka), đèn dầu tu-man-na (sumana), đèn dầu
ba-la-la (pàtala), đèn dầu bà-lỡ-sư-ca (vàrshika) và đèn dầu
na-bà-ma-lỡ (navamàlikà), thì công đức mà người ấy đạt
được cũng vôlượng”.
Cúng dường
kinh bằng các phẩm vật vật chất là biểu lộ lòng biết
ơn của ta đối với kinh. Trong cuốn sách này thường có nêu
rằng khi người ta biểu lộ lòng biết ơn của mình đối
với Pháp thì trước hết phải thực hành tuyên thuyết và
quảng bá Pháp. Ở đây cúng dường kinh bằng hoa, hương, chất
thơm, các loại đèn là tượng trưng cho sự cúng dường Pháp
bằng cách thực hành Bồ-tát hạnh.
Phần đầu
của phẩm này đã bàn về kinh Pháp Hoa theo toàn bộ, theo đó,
nó trỏ đến những công đức được đặc biệt thảo luận
trong phẩm này, tức là những công đức do hành động của
Bồ-tát Dược Vương. Lý do khiến phẩm này trước hết nhấn
mạnh những công đức thọ trì kinh Pháp Hoa là Pháp không
thể được đưa vào đời nếu Pháp không được thực hành,
và phẩm này chủ yếu ca ngợi sự cao cả mà người ta thể
hiện khi tự cá nhân mình thực hành kinh Pháp Hoa. Do đó, chớ
vì bất kỳ lý do nào mà hiểu rằng phẩm này xúi chúng ta
chỉ thọ trì riêng nó mà thôi. Sự diễn dịch hẹp hòi như
thế tạo ra một tôn giáo cấp thấp. Ta không thể lầm lẫn
như thế nếu ta đọc kinh này một cách cẩn thận và thâm
trầm.
Ví dụ, chư
Phật nói như sau: “Hay thay, hay thay ! Thiện nam tử ! Ông đã
có thể thọ trì, đọc tụng và suy nghĩ kinh này trong Pháp
của đức Phật Thích-ca-mâu-ni và thuyết giảng kinh này cho
những người khác”.
Chư Phật
nhắc nhở chúng ta lưu ý đến sự quan trọng của việc thọ
trì, đọc tụng, suy nghĩ kinh này, kinh của Pháp của đức
Phật Thích-ca-mâu-ni và thuyết giảng cho những người khác.
Điều mà ta phải thọ trì luôn luôn là toàn bộ kinh Pháp
Hoa. Ta đặc biệt cần phải nhớ điểm này khi đọc phẩm
25, “Quán Thế Âm Bồ-tát”.
NĂM THỜI
KỲ NĂM TRĂM NĂM:
Trước hết,
cần có một sự lưu ý cơ bản về phần còn lại của phẩm
này. Như đã nêu trước đây, người đọc không nên hiểu
theo nghĩa đen của những lời nói có vẻ như coi thường phụ
nữ như sau đây: “Nữ nhân ấy, sau khi chấm dứt cái thân
nữ nhân hiện tại, về sau sẽ không mang thân nữ nữa”
và “Nếu có nữ nhân nào nghe kinh này và tu hành theo giáo
lý của kinh...”.
Kế đến,
về cú ngữ “sau khi đức Phật diệt độ, trong năm trăm
năm cuối”, chúng ta phải xác quyết mà hiểu cho đúng nhóm
từ “năm trăm năm”. Đức Phật Thích-ca-mâu-ni thấy trước
rằng sau khi Ngài nhập diệt, Phật giáo sẽ trải qua năm thời
kỳ, mỗi thời kỳ là năm trăm năm. Theo kinh Đại Tập (Mahàsamnipàta),
sau khi đức Phật nhập Niết-bàn, sẽ có năm thời kỳ, mỗi
thời kỳ là năm trăm năm. Trong thời kỳ thứ nhất, tâm người
ta gắn vào và tận tụy với sự giải thoát, trong khi trong
thời kỳ thứ hai, họ chuyên chú vào Thiền định. Hai thời
kỳ này là hai thời kỳ mà Chánh pháp (Shòbò) được duy trì
tinh thuần. Thời kỳ thứ ba có đặc điểm là người ta chuyên
chú vào việc đọc, tụng và chép Pháp, và thời kỳ thứ
tư là thời kỳ người ta dựng tháp, xây điện thờ, tức
là tưởng niệm các Đạo sư và tiên tri. Hai thời kỳ này
là hai thời kỳ Tượng pháp (Zòbò). Thời kỳ thứ năm là
thời kỳ không còn Bạch pháp hay Chân pháp, người ta chuyên
xung đột, chia rẽ, đây là năm trăm năm cuối, cũng là khởi
đầu thời kỳ Mạt pháp (Mappò).
Thời kỳ
năm trăm năm đầu được gọi là thời kỳ mà người ta sẽ
thực hành giáo lý của đức Phật một cách chắc chắn và
sẽ thoát khỏi mọi trói buộc của ảo tưởng và khổ đau.
Trong thời gian này, phẩm tính vĩ đại của đức Phật vẫn
còn tồn tại sâu đậm trong tâm người ta, khiến cho họ trở
nên tốt hơn, và họ sẽ sống cuộc sống tâm linh thiện lành,
an lạc nếu họ chỉ thực hành giáo lý. Đây là một thời
kỳ dễ dàng, trong đó người ta không cần phải tự mình
đạt ngộ mà chỉ cần thực hành giáo lý đúng như mình đã
thọ nhận. Người ta mang ơn những đức hạnh của chính đức
Phật vì họ đã thực hành dễ dàng trong thời kỳ này. Đây
là thời kỳ sẽ chấm dứt sau năm trăm năm, dù giáo lý của
đức Phật vẫn tồn tại mãi mãi.
Thời kỳ
năm trăm năm thứ hai sẽ là thời kỳ mà những người thọ
trì giáo lý của đức Phật sẽ tận tụy với Thiền định
và sẽ suy nghĩ cách áp dụng giáo lý trong một thời đại
mới. Xã hội sẽ thay đổi lớn khi năm trăm năm đầu chấm
dứt kể từ khi đức Phật nhập diệt. Người ta sẽ phải
suy nghĩ xem phải hiểu giáo lý như thế nào, áp dụng giáo
lý vào xã hội như thế nào để sử dụng giáo lý cho đúng.
Thời kỳ này là thời kỳ người ta gặp nhiều khó khăn khi
thực hành giáo lý hơn thời kỳ trước, dù giáo lý vẫn không
bị xuyên tạc. Do đó, trong thời kỳ thứ hai, Thiền định
sẽ nẩy nở.
Thời kỳ
năm trăm năm thứ ba sẽ là thời kỳ mà việc nghiên cứu
Pháp sẽ tiếp tục nẩy nở. Trong thời kỳ này, khi mà hơn
một ngàn năm kể từ khi đức Phật nhập diệt đã trôi qua,
người ta sẽ xem đức Phật như là một vĩ nhân lịch sử
hơn là một vị Đạo sư trong đời sống thực sự của con
người. Ngài sẽ bị tách xa cuộc sống hàng ngày của người
ta, và do đó người ta sẽ tôn thờ Ngài nhưng sẽ ít mong
mỏi khát khao Ngài hơn. Vào lúc ấy, vì văn minh vật
chất tiến bộ và xã hội trở nên phức tạp hơn, Phật giáo
cho đến lúc ấy, vốn là một giáo lý sinh động trong đời
sống hàng ngày của người ta, sẽ trở thành một đối tượng
nghiên cứu nào đấy, theo quan điểm kinh viện.
Thời kỳ
năm trăm năm thứ tư sẽ là thời kỳ mà việc dựng đền
thờ và tháp tiếp tục phát triển. Trong thời kỳ này, người
ta sẽ xem thường việc nghiên cứu Pháp và sẽ mong được
thọ nhận ơn đức thiêng liêng của đức Phật bằng cách
chỉ xây dựng tháp và đền thờ. Trong thời kỳ này, Phật
giáo sẽ tiếp tục phát triển về hình thức mà tinh thần
Phật giáo sẽ hoàn toàn mất đi. Những người quyền quý
và có uy tín sẽ tin rằng nếu họ xây dựng những đền thờ
tráng lệ thì tài sản gia đình họ sẽ được bảo đảm.
Tu sĩ Phật giáo sẽ sống xa hoa dưới sự che chở của những
người quyền quý và có uy tín và khối quần chúng sẽ nghĩ
rằng họ sẽ được cứu độ chỉ bằng cách viếng các đền
thờ và chắp tay trước các tượng Phật.
Thời kỳ
năm trăm năm thứ năm sẽ là thời kỳ mà giáo hội Phật
giáo bị phân rả do xung đột và dị giáo sẽ phát triển.
Trong thời kỳ này, ngay cả tôn giáo thuần túy nghi thức cũng
không được để ý tới một cách rộng rãi. Người ta sẽ
trở nên ích kỷ và sẽ chạy theo lợi nhuận cho riêng mình
và gia đình mình, đoàn thể, xứ sở và giai cấp xã hội
mình. Kết quả là, họ sẽ ganh đua vì lợi nhuận và luôn
luôn tranh cãi nhau. Họ sẽ đối nghịch nhau trong việc tự
khẳng định lẫn nhau, điều này cuối cùng sẽ đưa đến
xung đột lớn và đổ máu. Dù có ở trong những hoàn cảnh
bình thường, vẫn liên tục xảy ra những mâu thuẫn lớn
hay nhỏ trong xã hội, và người ta sẽ không thể sống an
bình được. Thời hiện nay tương ứng với thời kỳ này.
Trong năm
thời kỳ năm trăm năm, một ngàn năm đầu được gọi là
xây dựng thời kỳ Chánh pháp vì giáo lý của đức Phật
được duy trì và thực hành một cách đúng đắn trong thời
gian này. Một ngàn năm kế tiếp được gọi là thời kỳ
Tượng pháp vì giáo lý vẫn còn tồn tại nhưng chỉ ở hình
thức mà thôi. Thời kỳ cuối cùng được gọi là thời kỳ
Mạt pháp vì giáo lý sẽ biến mất. Trong thời kỳ này, người
ta sẽ mất giáo lý vốn bất diệt và vĩnh cửu. Đây chính
là thời kỳ mà giáo lý của đức Phật là cần thiết nhất.
Đấy là lý do tại sao đức Phật cứ giảng đi giảng lại
sự cao cả của những người thọ trì, thực hành, thuyết
giảng, quảng bá kinh Pháp Hoa trong thời Mạt pháp.
Kế đến,
đức Phật dạy: “Nếu sau khi Như Lai diệt độ, trong năm
trăm năm cuối cùng, có nữ nhân nào nghe kinh này và làm theo
giáo lý của kinh, thì đến khi mạng chung, nữ nhân ấy sẽ
đến cõi An Lạc, trú xứ của đức Phật A-di-đà, có hội
chúng Đại Bồ-tát của Ngài vây quanh, sẽ được sanh trong
hoa sen, trên một bảo tòa”.
Khoảng năm
trăm năm sau khi đức Phật nhập diệt, một tín ngưỡng tập
trung vào đức A-di-đà (Amitàbha hay Amitàyus) bắt đầu lan
rộng từ Tây Ấn Độ. Các tín đồ mong được tái sanh trong
cõi Tịnh Độ, thiên đàng của đức A-di-đà, bằng cách hoàn
toàn tin vào năng lực của đức Phật này. Dù đức Phật
này được xem là có lòng đại từ bi và có năng lực đưa
tất cả chúng sanh đến cõi Tịnh Độ, niềm tin này cũng
không được toàn hảo khi mà nó còn gợi lên cái ý niệm
về giải thoát nhờ tin tưởng tuyệt đối vào năng lực của
Ngài. Không thể nào các chúng sanh tái sinh được ở quốc
độ của đức Phật A-di-đà nếu như họ không hiểu cái
chân lý phổ quát và nỗ lực thực sự để sống theo chân
lý ấy. Sự cứu độ của đức Phật này sẽ được hiểu
ra khi người ta theo đuổi trí tuệ và thực hiện con đường
dẫn đến sự toàn hảo về tính cách của mình. Để cho tất
cả chúng sanh khỏi phải ngộ nhận điều này, đức Phật
Thích-ca-mâu-ni đã thêm mệnh đề điều kiện cách “Nếu
có nữ nhân nào nghe kinh này và làm theo giáo lý của kinh”.
Niềm tin đức Phật A-di-đà sẽ hiển bày năng lực thực
sự của nó nhờ đức tính của cái chân lý mà kinh Pháp Hoa
dạy.
BA ĐỘC:
Đức Phật
dạy tiếp: “Người ấy (vốn là người phụ nữ được
hóa thân) sẽ mãi mãi không còn bị phiền não vì tham dục,
không còn bị phiền não vì sân hận, không còn bị phiền
não vì si muội...” Ba sự ô nhiễm tham, sân và si được
xem là ba thứ độc căn bản đưa con người đến thoái hóa.
Nếu họ gỡ bỏ được ba độc này khỏi tâm mình thì họ
sẽ thọ nhận những công đức lớn lao. Do ba độc trong tâm,
họ bị phiền não vì kiêu mạn, đố kỡ và ô uế. Khuyết
điểm ô uế là chung cả nam giới lẫn nữ giới nhưng lại
đặc biệt cần được phụ nữ xét đến. Điều này được
biểu lộ trong cú ngữ “Nếu có nữ nhân nào...”.
Kế đến
đức Phật dạy: “Nếu có người nào nghe được phẩm này
về hành trạng xưa kia của Bồ-tát Dược Vương thì người
ấy có thể hoan hỷ thọ nhận và tán thán phẩm này, người
ấy trong đời hiện tại bao giờ cũng thở ra hương thơm của
hoa sen xanh và từ các lỗ chân lông trên thân thể người
ấy bao giờ cũng tỏa ra hương thơm của gỗ chiên-đàn đầu
bò”. Lời dạy này có nghĩa là một người nghe được phẩm
Dược Vương Bồ-tát Bổn sự này, hoan hỷ thọ nhận và tán
thán phẩm này thì sẽ tạo ra một ảnh hưởng tốt đến
những người chung quanh người ấy. Hương thơm của người
ấy không những chỉ được giữ trên y phục của người
ấy mà sẽ còn truyền đến những ai chạm vào quần áo người
ấy. Cú ngữ “thở ra hương thơm của hoa sen xanh” nghĩa
là những lời được nói ra bởi người hoan hỷ thọ nhận
và tán thán kinh Pháp Hoa tự nhiên sẽ làm cho tâm những người
chung quanh trở thành tốt đẹp. Cú ngữ “từ các lỗ chân
lông trên thân thể người ấy tỏa ra hương thơm của gỗ
chiên-đàn đầu bò” trỏ ý rằng những người chung quanh
tự nhiên sẽ được ảnh hưởng bởi các thiện hạnh của
người ấy. Đây là một trạng thái lý tưởng của tâm mà
những ai thực hành Phật pháp phải đạt được cho mình.
Đức Phật
dạy tiếp: “Túc Vương Hoa ! Ông hãy dùng sức Thần thông
mà giữ gìn, bảo hộ kinh này. Tại sao ? Vì kinh này là lương
dược đối với các bệnh tật của con người trong cõi Diêm-phù-đề”.
Từ “bệnh tật” chỉ sự lệch loạn tâm thức của tất
cả chúng sanh. Như đã được giải thích trước đây, tự
nhiên là một người được hồi phục khỏi những rối loạn
tinh thần thì người ấy cũng được chữa lành những căn
bệnh thể chất. Hiểu “bệnh tật” theo nghĩa đơn giản
là các bệnh tật thể chất thì sẽ gây hiểu lầm. Chúng
ta phải hết sức cẩn trọng về điềunày.
Trong lời
kế tiếp của đức Phật “người ấy sẽ cứu tất cả
chúng sanh thoát khỏi già, bệnh và chết”, các từ “già,
bệnh và chế t” nghĩa là đời sống sinh tử của con người.
Các từ này có nghĩa là những biến đổi lớn của đời
người. Nếu con người có thể tháo gỡ mọi trói buộc của
cuộc đời sinh tử thì con người sẽ không ngạc nhiên trước
những biến đổi của đời người, cũng sẽ không rối rắm
vì chúng.
Như được
biểu lộ qua danh hiệu của ngài, Bồ-tát Dược Vương ban
lương dược cho tất cả chúng sanh khiến họ lành các bệnh
tinh thần. Khi các bệnh tinh thần của họ được vị Bồ-tát
này chữa lành, thì các bệnh thể chất của họ cũng sẽ
được cải thiện. Vị Bồ-tát này có sức thần thông chữa
bệnh nhờ ngài đốt đôi cánh tay mình để cúng dường khi
trong một tiền thân, ngài là Bồ-tát Nhứt Thiết Chúng Sanh
Hỷ Kiến. Nói một cách khác, đây là do sự thực hành cá
nhân của ngài về kinh Pháp Hoa. Vì Bồ-tát Nhứt Thiết Chúng
Sanh Hỷ Kiến tự mình thực hành kinh Pháp Hoa, ngài tái sanh
làm Bồ-tát Dược Vương có sức thần thông chữa lành các
bệnh tinh thần của mọi chúng sanh. Việc ngài chữa lành các
bệnh tinh thần cải thiện rất nhiều các bệnh thể chất.
Do đó, chúng
ta đi đến kết luận: sự dốc lòng thọ trì và thực hành
kinh Pháp Hoa của chúng ta trở thành một động lực trong việc
chúng ta chữa lành nhiều loại rối loạn tâm thức của những
người khác. Phẩm 23 dạy ta cái nguyên lý này và khích lệ
chúng ta quảng bá nó.