Phẩm
21
NHƯ
LAI THẦN LỰC
Phẩm này
rất quan trọng vì hai giáo lý Tích môn và Bổn môn được
đưa đến đỉnh điểm trong đó. Nó cũng dạy ta rằng hai
giáo lý này không rời nhau và dù có vẻ khác nhau, bản chất
chúng vẫn là một.
Ở Tích môn,
đức Phật Thích-ca khai thị mục đích và nội dung của các
giáo lý mà Ngài đã thuyết giảng từ khi Ngài chứng quả
Bồ-đề. Đây là một giáo pháp mang tính triết học và đạo
đức nhấn mạnh ở sự hình thành thế giới này, các chúng
sanh với nghiệp quả, cách sống đúng đắn và mối liên hệ
lý tưởng giữa con người.
Ở
Bổn môn, đức Thích-ca khai thị rằng đức Phật không chỉ
giới hạn ở chính đức Thích-ca-mâu-ni là vị đã xuất hiện
trên đời này và sống một đời sống có sinh tử, Ngài còn
là một vị Bổn Nguyên có thọ mạng lớn lao vô thỉ vô chung.
Trong Pháp này, đức Phật dạy chúng ta rằng để cuối cùng
được cứu độ và để xây dựng an bình thực sự trên cõi
đời này, chúng ta phải hợp nhất với đức Bổn Phật, tức
là phải toàn tâm nương tựa vào Ngài.
Ta có thể
phân biệt Tích môn và Bổn môn theo cách sau đây: Tích môn
là giáo pháp do đức Thích-ca-mâu-ni giảng, Ngài đã xuất
hiện trên đời này như là một con người; trong khi đó Bổn
môn là giáo pháp do đức Bổn Phật tuyên bố, Ngài hiện hữu
từ quá khứ vô cùng đến tương lai vĩnh cửu. Vì trí tuệ
thì cần thiết hơn bất cứ thứ gì khác để sống đúng
đắn nên Tích môn là giáo pháp của trí tuệ; trong khi Bổn
môn là giáo pháp của từ bi, thuyết giảng về sự cứu độ
tuyệt đối. Quả thực, chúng ta cần phân biệt hai giáo pháp
này khi đi sâu vào nghiên cứu giáo lý của kinh Pháp Hoa.
Phân tích
là quan trọng khi ta nghiên cứu điều gì một cách sâu đậm.
Phân tích nghĩa là chia một sự vật thành nhiều phần và
khảo sát cấu trúc các thành phần, ý nghĩa và chức năng
của nó. Nhưng nếu ta kết thúc nghiên cứu của ta mà chỉ
bằng cách phân tích một sự vật thì đấy là ta chỉ nghiên
cứu sự vật ấy một cách nửa vời. Sau khi hoàn tất việc
phân tích một cái gì, ta phải hoàn tất việc nghiên cứu
của ta theo một quan điểm siêu tổng thể. Bấy giờ ta mới
khẳng định được cái sự thật nằm trong cái tổng thể.
Đấy gọi là tổng hợp. Trong mọi nghiên cứu, ta chỉ có
thể đạt kết quả có giá trị nếu ta vừa phân tích vừa
tổng hợp song đôi.
Điều này
cũng áp dụng cho việc nghiên cứu kinh Pháp Hoa. Cho đến đây,
chúng ta đã nghiên cứu các giáo lý của đức Phật bằng
cách phân tích các giáo lý ấy để hiểu cho đúng. Tuy nhiên,
nếu ta chỉ phân tích mà thôi thì giáo lý vẫn còn bị chia
tách thành nhiều phần và do đó bị rối tung trong trí ta.
Như thế
là ta chưa thực sự hiểu giáo lý.
Ta không nên
nghiên cứu kinh Pháp Hoa chỉ nhằm để học hỏi mà thôi.
Hiểu kinh bằng trí thức thì chưa đủ. Ta không thể
được cứu độ theo ý nghĩa thực sự, cũng không cứu độ
toàn bộ xã hội nếu ta không chuyển sự thông hiểu sang lòng
tín thành và không đạt đến trạng thái tâm thức hoàn toàn
hợp nhất giữa hiểu biết và niềm tin.
Ở phẩm
21, đức Phật dạy rằng gom tất cả các thuyết giảng trong
hai mươi phẩm trước lại với nhau, cái chân lý thâm nhập
vào tất cả các phẩm này là một và chỉ một mà thôi(1).
Từ phẩm này, chúng ta hiểu rõ rằng giáo pháp được nêu
tỏ trong Tích môn thì hoàn toàn hợp nhất với giáo pháp được
nêu tỏ trong Bổn môn; hiểu như thế, chúng ta thâm nhập vào
hai môn này.
Đọc suốt
phẩm này; có vẻ như không có giáo lý quan trọng nào được
nêu ra trong đó ngoài sức thần thông vi diệu của đức Như
Lai. Điều ấy khiến cho phẩm này trở nên khó hiểu. Năng
lực tuyệt đối của đức Như Lai được tượng trưng bằng
những hiện tượng kỳ bí, và mỗi một hiện tượng như
thế bao gồm ý nghĩa hình thành một sự hợp nhất trọn vẹn
giữa Tích môn và Bổn môn.
Ý nghĩa của
mười sức thần thông của đức Như Lai được miêu tả trong
phẩm này sẽ được giải thích theo lối diễn dịch được
nhiều học giả Phật học từ thời xưa chấp nhận. Vì thế,
việc bàn luận sẽ trở nên khá chuyên môn và ta có thể gặp
những thuật ngữ khó của Phật học. Nhưng chúng ta không
nên vì thế mà lãng tránh. Những thuật ngữ như thế là những
phương tiện khéo léo giúp ta hiểu sự giải thích, và không
cần phải nói, mục đích thực sự của ta là hiểu rõ cái
tinh thần được thuyết giảng trong phẩm này.
Trong phần
kệ cuối phẩm 20, Thế Tôn dạy như sau:
“Do
đó các hành giả
Sau khi Phật
nhập diệt,
Nghe kinh
như kinh này
Không khởi
sinh nghi hoặc,
Mà khiến
họ một lòng
Giảng rộng
rãi kinh này,
Đời đời
gặp chư Phật
Nhanh chóng
thành Phật đạo”.
Bấy giờ chư
Bồ-tát Ma-ha-tát nhiều như số vi trần của một đại thiên
thế giới, từ dưới đất vọt lên, tất cả đều đến
trước Phật, nhất tâm chắp tay, chiêm ngưỡng tôn nhan của
Ngài và bạch rằng: “Bạch Thế Tôn ! Sau khi đức Phật nhập
diệt, tại bất cứ quốc độ nào mà phân thân của Thế
Tôn hiện hữu, tại bất cứ nơi nào Ngài nhập diệt, chúng
con sẽ rộng giảng kinh này. Vì sao ? Vì chính chúng con đây
cũng muốn đạt được Đại pháp thực hiện sự thanh tịnh
này để thọ trì, đọc tụng, diễn giảng, sao chép và cúng
dường Đại pháp ấy.”
Cúng dường
Phật hay Pháp có nghĩa là biểu lộ tình cảm biết ơn và
đáp lại sự hàm ân của mình đối với Phật hay Pháp. Khi
chư Bồ-tát rộng giảng Phật pháp, đấy là hồi đáp công
ơn của chư vị đối với giáo lý mà chư vị đã thọ nhận
từ đức Phật. Đây là lý do tại sao chư Bồ-tát vọt từ
đất lên là những vị đại Bồ-tát. Những người ở cấp
độ tâm linh thấp hẳn chỉ nghĩ đến chính họ: “Ta đây
có thể được cứu độ do thực hiện hạnh này”. Tuy nhiên,
chư Bồ-tát này vượt lên trên cái tự ngã.
Tự nhiên
chúng ta thọ nhận công đức do ban bố công đức cho những
người khác; và từ chối những công đức như thế là chi
li một cách quá đáng. Giáo lý của đức Phật không hẹp
hòi và mù quáng. Do đó, trong các phẩm trước, đức Phật
đã nhiều lần dạy về những công đức mà ta nên trao cho
những người khác bằng việc giảng kinh Pháp Hoa và đồng
thời, về những công đức mà ta sẽ nhận được từ những
hạnh như thế. Tuy nhiên với phẩm này, chúng ta thấy rằng
chư đại Bồ-tát vốn có rất nhiều đức hạnh hơn chư Bồ-tát
khác, hoàn toàn thoát khỏi cái ý nhiệm về tự ngã. Phẩm
này dạy ta về cái tâm thái lý tưởng của một tín giả.
Ở đây,
một giáo lý quan trọng khác là ngay cả chư đại Bồ-tát
này không để ý gì tới các hạnh như thọ trì, đọc tụng,
thuyết giảng và sao chép giáo lý của đức Phật. Vì chư
vị là những đại Bồ-tát, sự thông hiểu pháp của họ
hẳn phải toàn hảo. Nhưng ngay cả đến chư đại Bồ-tát
này cũng nỗ lực thọ trì giáo lý của đức Phật, làm cho
sự hiểu biết của mình thêm sâu sắc bằng cách cứ mãi
hoài đọc tụng rồi chuyên chú thực hành việc ghi nhớ giáo
lý bằng cách thuyết giảng và sao chép giáo lý ấy. Những
thực hành như thế là cao cả nhất và rất quan trọng đối
với chúng ta vì chúng ta có thể trở thành kiêu mạn khi sự
hiểu biết của chúng ta thăng tiến, dù là ít ỏi.
CÁC THẦN
LỰC MÀ ĐỨC NHƯ LAI HIỂN BÀY:
Khi nghe hạnh
nguyện của chư Bồ-tát từ đất vọt lên, Thế Tôn gật
đầu. Ngài không nói gì với chư vị ấy. Thế rồi trước
mặt Bồ-tát Văn-thù và vô số trăm ngàn vạn ức Bồ-tát
Ma-ha-tát khác, cũng như chư Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc,
Ưu-bà-di, Trời, Rồng, Dạ-xoa, các Linh chúng, Người và Không
phải người - trước mặt tất cả các chúng sanh này, Thế
Tôn hiển bày đại thần lực của Ngài.
Trước hết,
Ngài tỏ lộ thần lực sau đây, Ngài đưa “cái lưỡi rộng
và dài của Ngài chạm đến cõi Phạm thiên”. Biểu
ngữ này có thể khiến chúng ta ngày nay lấy làm lạ, nhưng
đây là phát xuất từ một tập tục cổ của Ấn Độ. Tại
Ấn Độ cổ, đưa lưỡi ra là một động tác tỏ ra rằng
những gì người ta nói là thật. Qua thần lực đầu tiên
của Ngài, đức Phật thố lộ rằng tất cả những giáo lý
Ngài đã giảng là thực và mãi mãi là thực. Sử dụng một
biểu thức thông thường, ngài tỏ rõ rằng Ngài không bao
giờ nói hai lưỡi trong những gì Ngài thuyết giảng. Qua thần
lực của Ngài, Ngài diễn tả như sau: giáo lý mà Ngài đã
giảng đến nay, có vẻ như bị chia thành hai hình thái: giáo
pháp của đức Tích Phật và giáo pháp của đức Bổn Phật.
Nhưng cuối cùng hai giáo pháp này được hợp lại thành một.
Các học
giả Phật học thời sau này giải thích giáo lý “hai Pháp
môn vốn là một về mặt niềm tin (nhị môn tín nhất - nimon
shin'itsu) được biểu hiện trong hiện tượng đức Phật đưa
cái lưỡi rộng và dài của Ngài ra. “Hai pháp môn” là Tích
môn và Bổn môn. Trước hết, đức Phật là một cư dân trong
cõi Ta-bà dạy về cách thức hiện thực để sống một cuộc
sống thiện lành ở đấy. Tuy nhiên, sau đó Ngài tuyên bố
rằng Ngài là đức Bổn Phật, đấng vô thỉ vô chung. Ngài
cũng khiến cho chúng ta hiểu rằng sự cứu độ thực sự
phát xuất từ sự việc chúng ta nhận thức rằng được sống
là do đức Bổn Phật vô thỉ vô chung. Hình như có sự khác
biệt lớn giữa giáo pháp của đức Phật đã xuất hiện
trên thế giới này và giáo pháp của đức Bổn Phật. Chúng
ta cần xét xem sự khác biệt giữa hai giáo pháp này như thế
nào.
Đức Thích-ca-mâu-ni
cần phải được xem là đức Phật xuất hiện trong thế giới
này, phát xuất từ đức Bổn Phật Vĩnh hằng qua lòng đại
từ bi của Ngài đối với hết thảy mọi chúng sanh. Do đó
ta không thể tách rời đức Phật Thích-ca-mâu-ni và đức
Bổn Phật. Ta không thể phán quyết đức Tích Phật hay đức
Bổn Phật vị nào là cao, vị nào thấp hơn. Kết luận là
đức Bổn Phật và đức Tích Phật về mặt thâm sâu là đồng
nhất và rằng niềm tin của ta cần được thu tóm vào một
đối tượng độc nhất. Đây là giáo lý “hai Pháp môn vốn
cùng một niềm tin”. Hiện tượng kỳ bí về việc đức
Phật đưa cái lưỡi rộng và dài của Ngài chạm đến cõi
Phạm thiên như thế có một ý nghĩa sâu xa.
Kế đến
đức Phật hiển lộ thần lực sau đây: mỗi lỗ chân lông
phóng chiếu một “ánh sáng vô lượng, vô số màu sắc, tất
cả đều chiếu sáng mọi nơi suốt cả mọi phương của vũ
trụ. Dưới mọi cây báu, chư Phật mỗi vị ngồi trên một
tòa sư tử, cũng như thế, đưa lưỡi rộng, dài và phóng
chiếu ánh sáng vô lượng.
Trong khi
đức Phật Thích-ca-mâu-ni và hết thảy chư Phật dưới các
cây báu đang hiển lộ các thần thông, hàng trăm ngàn năm
trọn đã trôi qua”.
Đức Phật
Thích-ca hiển lộ thần thông của Ngài bằng cách phóng một
ánh sáng đẹp từ trên toàn bộ thân thể Ngài, chiếu sáng
mọi nơi, khắp suốt mọi phương của vũ trụ. Hiện tượng
thần bí này có nghĩa là chân lý là ánh sáng xua tan bóng tối
của ảo tưởng. Như đã nêu trước đây, bóng tối không
hiện hữu như một thực thể thực sự. Bóng tối chỉ là
một trạng thái không được chiếu sáng và sẽ biến mất
khi ánh sáng chiếu rọi. Ta cũng có thể nói như thế về ảo
tưởng. Chỉ có chân lý là một hiện hữu thực sự; ảo
tưởng là không thực. Ảo tưởng sinh ra từ trạng thái tâm
ta chưa hiểu được chân lý. Ảo tưởng sẽ biến mất khỏi
tâm ta khi ta hiểu được chân lý.
Trong học
thuyết nhân quả, đức Phật dạy rằng người ta không nên
để bị rối rắm vì một sự nhỏ nhặt như ảo tưởng.
Người ta chỉ cần hiểu chân lý. Đây là cách duy nhất để
xua đuổi ảo tưởng. Đức Phật đã dạy cái nguyên lý của
học thuyết này trong Tích môn. Thế rồi trong Bổn môn,
Ngài dạy chân lý tuyệt đối là gì. Ngài dạy cái chân lý
về sự hiện hữu thực sự của đức Phật, và về sự bất
tử của Ngài, tức là cái giáo lý rằng tất cả chúng sanh
đều được sống là do bởi đức Phật.
Tích môn
và Bổn môn rốt ráo đều được đặt căn bản trên cùng
một lý thuyết ấy. Giáo lý này được gọi là “Nhị môn
lý nhất” (nimon ri'itsu) “hai Pháp môn vốn là một về mặt
lý lẽ”. Giáo lý sâu xa này được nêu trỏ bởi sự việc
ánh sáng được phóng ra từ toàn thân đức Phật khiến cho
bóng tối tan biến mọi nơi khắp vũ trụ. Cùng một cách như
đức Phật Thích-ca, chư Phật khác cũng đưa lưỡi rộng và
dài của chư vị ra phóng ánh sáng vô lượng. Hình ảnh này
tượng trưng chân lý là một và hết thảy chư Phật đều
thông hiểu cùng một chân lý, dù có thể chư vị đông đến
vô số.
Chân lý thu
hút chân lý. Chúng trộn lẫn với nhau và trở thành một.
Vào lúc đức Phật Thích-ca phóng linh quang từ thân thể Ngài,
chư Phật khác cũng theo cách như thế, phóng ánh sáng vô lượng
trộn lẫn thành một ánh sáng lớn chiếu sáng mọi nơi khắp
vũ trụ. Đây là một hình ảnh của một trạng thái
lý tưởng mà các tín giả của kinh Pháp Hoa xem là mục đích
tối hậu. Nó diễn tả các trạng thái trong đó tất cả mọi
người đều thành Phật và cõi Ta-bà về bản chất đồng
nhất với cõi Tịnh Độ của Tịnh Quang. Khi chúng ta đọc
lại mà hiểu đoạn văn ngắn này miêu tả thần thông của
đức Phật, chúng ta có thể cảm nhận thấm thía sự cao cả
của nội dung của nó.
Kế đến,
động tác sau đây của chư Phật được miêu tả: “Sau đó
chư vị rút lưỡi vào, đằng hắng cùng lúc và búng ngón
tay đồng thời”. Nhóm từ “đằng hắn cùng lúc” nghĩa
là tất cả giáo lý được hợp lại thành một, và các âm
thanh phát khởi do đằng hắng có nghĩa là sự thuyết giảng
giáo lý.
Mới đầu
đức Phật Thích-ca-mâu-ni thuyết giảng giáo lý mang tính phương
tiện thiện xảo. Tuy nhiên, vì chân lý là một cho nên giáo
lý này không phải là giáo lý thấp. Giáo lý dùng phương tiện
thiện xảo được thuyết giảng chỉ nhằm cuối cùng đưa
người ta đến chân lý tuyệt đối. Nhưng cả Tích môn lẫn
Bổn môn đều diễn tả những chân lý quan trọng và những
giáo lý cao cả. Nếu Bổn môn có thể được so sánh với
phép tính nhân thì Tích môn có thể xem như phép tính cộng.
Trẻ con không thể hiểu được tính nhân nếu như mới đầu
chúng được dạy rằng hai nhân cho ba thì bằng sáu. Chúng
phải học tính cộng trước. Khi chúng hiểu được rằng hai
cộng hai cộng hai bằng sáu thì chúng nắm rõ được cái ý
niệm rằng nhân hai cho ba thì bằng ba lần cộng hai. Dù cho
chúng học thuộc lòng bảng cửu chương và do đó “biết”
rằng hai nhân cho ba thì bằng sáu, chúng cũng không thể được
gọi là thực sự nắm được phép tính nhân nếu chúng không
hiểu phép tính cộng.
Trong niềm
tin cũng như trong toán học, cả phép tính cộng lẫn phép tính
nhân là thực; cả Tích môn lẫn Bổn môn đều là chân lý.
Dù niềm tin có thể ví với phép tính nhân, nó cũng sẽ không
trở thành chân thực, nếu nó không như phép tính cộng được
hiểu một cách thông suốt.
Trong phẩm
18, niềm tin đã được nêu trỏ như là phép tính nhân: đối
tượng của niềm tin được nhân bởi tín tâm thì bằng kết
quả của niềm tin. Nhưng nếu lúc đầu ta tuyên bố rằng,
“Đối tượng của niềm tin phải là đức Phật vô thỉ
vô chung”, thì người ta sẽ bị nhầm lẫn và không thể
tin. Huống chi một đối tượng của niềm tin mà sai lạc thì
hậu quả sẽ trầm trọng biết bao nhiêu !
Trong Tích
môn đức Phật đã dạy đầy đủ về sự hình thành của
thế giới này, con người phải thế nào, cách sống đúng
đắn và những mối liên hệ lý tưởng của con người. Qua
pháp môn này, ta có thể học được cách sống đúng đắn:
theo cái chân lý thấm nhập trong mọi sự vật, tức là, hiểu
Dấu ấn của Ba Pháp môn (Tam Pháp ấn), và luật Mười hai
Nhân duyên, Bát Chánh đạo, và Sáu Ba-la-mật. Đây là cấp
độ tâm thức của niềm tin theo cách phép tính cộng.
Đối với
những ai đã hiểu các học thuyết này, đức Phật khai thị
rằng tất cả chúng sanh đều được sống do bởi cái chân
lý phổ quát, tức là do bởi đức Phật Vĩnh hằng là đấng
vô thỉ vô chung. Khi tín giả hiểu rằng “Nếu chúng ta hợp
nhất với đức Phật, tự nhiên chúng ta sẽ sống theo chân
lý. Trạng thái ấy là sự giải thoát thực sự của chúng
ta”. Giáo lý mang tính phương tiện thiện xảo của phân nửa
đầu của kinh Pháp Hoa và giáo lý thực (theo nghĩa tuyệt đối)
được khai mở ở phân nửa thứ hai của kinh đều cùng một
chân lý và đưa đến cùng một giải thoát. Đây là giáo lý
nhị môn giáo nhất (nimon kyòitsu) “hai Pháp môn vốn là một
về mặt giáo lý”. Nhóm từ “đằng hắng cùng lúc” biểu
thị giáo lý này.
Nhóm từ
cuối “búng ngón tay đồng thời” có một ý nghĩa đặc
biệt. Động tác này cũng phát xuất từ một tập tục của
Ấn Độ. Chư Phật búng ngón tay cùng một lúc biểu hiện
sự đảm bảo, “Ta phát biểu”, hay “Ta hứa sẽ làm điều
ấy”. Sự miêu tả tất cả chư Phật đều búng ngón tay
đồng thời do đó có nghĩa là lời hứa trịnh trọng của
chư vị rằng sẽ giảng Pháp, nói một cách khác, cái nguyện
hành Bồ-tát hạnh của chư vị.
Tinh
thần cơ bản của hạnh Bồ-tát là sự hợp nhất giữa chính
mình và những người khác. Có thể nói, mong được cứu một
người do thông cảm với hoàn cảnh đáng thương của người
ấy là một sự dấn bước vào hạnh Bồ-tát. Khi chúng ta
đạt được trạng thái tâm thöữc theo đó chúng ta không
thể không đưa tay cứu giúp ai đó đang khổ đau thì chúng
ta có thể nói rằng chúng ta đã đạt đến cái chân tâm của
vị Bồ-tát.
Một đứa
bé kêu khóc đòi vú mẹ. Người mẹ ẵm nó trên tay và chìa
vú cho nó. Khi ấy tâm của người mẹ vượt lên khỏi lòng
từ bi đối với con mình. Bà có thể nhận thức cái đói
của đứa bé bén nhạy như chính bà đang đói. Do đó, một
cách vô ý thức, bà nâng đứa bé đang kêu khóc trong đôi
tay bà và đưa nó vào vú của bà. Đứa bé ngây thơ ôm vú
mẹ và người mẹ hài lòng nhìn nó. Có một sự hợp nhất
toàn hảo giữa mẹ và con, và người mẹ không cảm thấy
mình cho đứa con thứ gì cả. Đây chính là cái trạng thái
của tâm vị Bồ-tát. Nó là trạng thái tâm thức lý tưởng
giữa người giảng Pháp và người nghe Pháp. Ta có thể tưởng
tượng rằng hẳn đã có một mối liên hệ hài hòa giữa
đức Phật Thích-ca và chư đệ tử của Ngài. Như một bộ
kinh đã viết: “Bệnh của chúng sanh là bệnh của chư Phật”,
cái trạng thái lý tưởng của tâm trong việc thực hiện Bồ-tát
hạnh là sự hợp nhất giữa chính mình và những người khác.
Khi đã nghiên cứu các giáo lý của kinh Pháp Hoa cho đến đây,
chúng ta biết được rằng tất cả chung quy chỉ là sự hợp
nhất giữa chính mình với những người khác.
Có vẻ như
chúng ta gỡ bỏ ảo tưởng khỏi tâm mình và nâng cao nhân
cách của chúng ta theo với các học thuyết Mười hai Nhân
duyên, Bốn Thánh đế và Tám Chánh đạo nhằm riêng cho chúng
ta. Tuy nhiên, sự thực là sự nâng cao của chính chúng ta lại
cũng có ảnh hưởng tốt đối với những người chung quanh.
Chúng ta thực hành giáo lý cũng chính là khiến cho những người
khác thực hành giáo lý. Thực hành giáo lý một cách trọn
vẹn thì hợp lý và có hiệu quả hơn là thuyết giảng giáo
lý một cách yếu kém. Vì học thuyết Sáu Ba-la-mật là tiêu
chuẩn của Bồ-tát hạnh, việc thực hành giáo lý của chúng
ta là việc thực hành sự hợp nhất giữa chính chúng ta với
những người khác.
Đi vào giáo
pháp Bổn môn, cuối cùng chúng ta hiểu được lý thuyết về
sự hợp nhất giữa chính chúng ta và những người khác. Chúng
ta nhận ra rằng tất cả chúng ta vốn hợp nhất với sự
sống vĩ đại của vũ trụ. Sự thể hội này có nghĩa là
chúng ta biết rằng dù cho người ta có vẻ như xa cách nhau,
người ta vốn là hợp nhất. Những tranh cãi, những rối rắm
thường sinh khởi do người ta không nhận ra điều ấy. Nếu
mọi người đều hiểu được điều ấy và đạt được
cái trạng thái tâm thức của sự hợp nhất giữa chính họ
và những người khác thì thế giới này chẳng bao lâu sẽ
biến thành cõi Tịnh Độ.
Như thế
toàn bộ giáo lý của kinh Pháp Hoa tối hậu được chuyển
thành tinh thần hợp nhất giữa chính mình và những người
khác. Sự việc này được gọi là Nhị môn nhân nhất (nimon
nin'itsu “hai Pháp môn vốn là một về mặt thể tính con người”.
Tất cả chư Phật đều cùng lúc búng ngón tay nghĩa là lời
hứa của chư vị về việc rộng giảng cái tinh thần hợp
nhất giữa chính mình và những người khác.
Sự hiển
bày kế tiếp về các thần thông được diễn tả như sau:
“Hai âm thanh này vang đến mọi phương của các cõi Phật
và tất cả các quốc độ của chư vị rung động theo sáu
cách”. Như trong các phẩm trước thường giải thích, biểu
ngữ “tất cả các quốc độ của chư vị rung động theo
sáu cách” nghĩa là tất cả các sự vật trong vũ trụ do
sự hiển bày thần thông của chư Phật mà bị rung động
mạnh. “Hai âm thanh này” nhằm trỏ những âm thanh được
tạo thành do chư Phật đằng hắng cùng lúc và búng ngón tay
đồng thời. Chư vị búng ngón tay cùng một lúc để nêu lời
tuyên bố rằng chân lý được thuyết giảng trong kinh Pháp
Hoa là một và để nêu trỏ lời hứa trịnh trọng rằng sẽ
xây dựng trên thế giới này cái tinh thần hợp nhất giữa
chính mình và những người khác theo như lý tưởng của Bồ-tát
hạnh. Âm thanh của sự búng ngón tay cùng lúc của chư vị
tỏa ra mọi phương vào tạo thành sự rung động như thế
nơi mọi sự vật trong vũ trụ mà chư vị lay chuyển.
Không ai là
không được nhắc nhở về sự thực hành giáo lý nếu như
người ấy bị giáo lý tác động mạnh đến nỗi cảm thấy
mình bị lay chuyển. Hễ chừng nào người ấy chỉ hiểu giáo
lý về mặt lý thuyết và cứ giữ giáo lý trong trí như là
một kiến thức suông thì người ấy vẫn không thể tiến
đến việc thực hành giáo lý được. Nhưng nếu người ấy
cảm thấy xúc động vì giáo lý thâm sâu đến nỗi bị rung
động cả tâm thức và cơ thể thì người ấy tự nhiên sẽ
khởi sự thực hành giáo lý.
Người ấy
cần thực hành điều gì ? Đó là hạnh Bồ-tát, vì tất cả
giáo lý của kinh Pháp Hoa đều thể hiện trong đó. Trong Tích
môn, cuối cùng đức Phật thúc giục người ta thực hiện
hạnh Bồ-tát qua Sáu Ba-la-mật. Trong Bổn môn, Ngài dạy rằng
sự thể hội của họ về sự hợp nhất giữa chính họ và
đức Phật đưa họ đến sự thể hội về sự hợp nhất
giữa chính họ và những người khác, và rằng sự thể hội
này được biểu hiện một cách tự nhiên trong hạnh Bồ-tát
cứu độ tha nhân của họ. Hơn nữa, sự thể hội của họ
phát triển thành đại hạnh của vị Bồ-tát - đạt đến
hòa bình của thế giới và chuyển hóa cõi Ta-bà thành cõi
Tịnh Độ Tịnh Quang. Đây là giáo lý nhị môn hành nhất
(nimon gyòitsu), “hai Pháp môn vốn là một về mặt thực hành”.
Giáo lý thâm sâu này được diễn tả trong nhóm từ “tất
cả các quốc độ của chư vị đều bị rung động theo sáucách”.
Năm thần
lực của đức Như Lai được nêu cho đến đây là biểu hiện
của sự thể hội, giáo lý, và hạnh nguyện của đức Thích-ca-mâu-ni
Như Lai và của tất cả chư Phật khác. Khi năm thần lực
này trải rộng đến tất cả các chúng sanh trong vũ trụ thì
kết quả là gì ? Năm thần lực kế tiếp sẽ miêu tả ảnh
hưởng của chúng đối với tất cả các chúng sanh.
Thần lực
thứ sáu của đức Như Lai được nêu như sau: “Trong các
cõi ấy, tất cả các chúng sanh, Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thác-bà,
A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Người và Không
phải Người và các chúng sanh khác, do thần lực của đức
Phật, tất cả đều thấy trong thế giới Ta-bà này vô lượng,
vô biên, trăm ngàn vạn ức đức Phật ngồi trên tòa sư tử
dưới tất cả cây báu, và thấy đức Phật Thích-ca-mâu-ni
cùng với đức Như Lai Đa Bảo ngồi trên tòa sư tử ở chính
giữa tháp, và cũng thấy vô lượng, vô biên, trăm ngàn vạn
ức Bồ-tát Ma-ha-tát, và bốn chúng kính ngưỡng vây quanh
đức Phật Thích-ca-mâu-ni. Sau khi nhìn thấy như thế, họ
đều rất vui mừng được đạt điều mà từ trước họ
chưa từng được kinh qua”.
Tất cả
các chúng sanh, người và không phải người, được thấy
đại chúng hội của đức Phật Thích-ca-mâu-ni, cùng với
đức Như Lai Đa Bảo và nhiều vị Phật khác. Trong thuật
ngữ Phật học, trạng thái này được gọi là phổ kiến
đại hội (fugendaie), “tất cả các chúng sanh đều thấy
hết đại chúng của đức Phật được vây quanh bởi nhiều
đức Phật khác” biểu thức này có nghĩa là tất cả các
chúng sanh có thể đều hiểu các giáo lý của đức Phật
như nhau. Bấy giờ mọi người có khác nhau về khả năng lĩnh
hội Phật pháp. Một số người có thể hiểu dễ dàng trong
khi những người khác nhận thấy rất khó hiểu. Những phương
tiện thiện xảo để thức tỉnh người ta phải được sử
dụng theo nhiều cách khác nhau tùy theo những khả năng khác
nhau của họ. Đây là tình trạng hiện tại của con người,
nhưng trên quan điểm về tương lai vĩnh cửu, mọi người
đều sẽ có thể đạt ngộ.
Thực ra có
sự mau chậm khác nhau trong quá trình đạt ngộ. Sự khác biệt
về khả năng hiểu Phật pháp của người ta chỉ có trong
phạm vi “bờ này” (shigan - thử ngạn), tức thế giới của
sinh tử. Nhưng người ta trở thành Phật như nhau khi đến
“bờ kia” (higan - bỉ ngạn) tức cõi Niết-bàn. Do đó, không
có khác biệt cơ bản nào về khả năng hiểu biết Phật pháp
cả. Đây là giáo lý vị lai khí nhất (mirai ki'itsu) “khả
năng hiểu Phật pháp của con người vốn là một trong tương
lai”. Thuật ngữ Phật học phổ kiến đại hội, “tất
cả các chúng sanh đều thấy hết đại chúng hội của đức
Phật được nhiều đức Phật khác vây quanh”, trỏ ý rằng
đức Phật có thần lực đưa tất cả các chúng sanh cùng
đến cảnh giới Niết-bàn trong tương lai.
Kế đến,
kinh tả như sau: “Đồng thời, tất cả chư Thiên từ hư
không cất cao giọng xướng rằng: "Vượt ngoài vô lượng
vô biên trăm ngàn vạn ức a-tăng-kỳ thế giới này, có một
cõi tên là Ta-bà. Ở giữa cõi ấy có một vị Phật tên là
Thích-ca-mâu-ni. Giờ đây, Ngài vì tất cả Bồ-tát Ma-ha-tát
mà giảng kinh Đại thừa gọi là Diệu Pháp Liên Hoa, đấy
là Pháp giáo hóa cho chư Bồ-tát và được chư Phật hộ niệm.
Các vị nên đem hết thâm tâm mà hoan hỷ theo Pháp ấy và
cũng nên lễ bái, cúng dường đức Phật Thích-ca-mâu-ni"“.
Biểu
ngữ “tất cả chư Thiên từ hư không cất cao giọng xướng”
nghĩa là tất cả các chúng sanh trong cõi Ta-bà được cảm
ứng từ tất cả chư Thiên. Biểu ngữ này không chỉ giới
hạn riêng ở Phật giáo. Nhóm từ “một giọng nói được
nghe từ trên trời” xuất hiện trong các sách Thiên chúa giáo
và phần câu “Ta nghe tiếng trời” thường được sử dụng
trong các lời dạy của Khổng Tử và Mạnh Tử. Những lời
này ngầm trỏ rằng người ta nhận được sự mặc khải
từ trên trời, tức là, người ta nhận thức chân lý của
niềm tin như thể một cảm ứng lóe sáng qua tâm trí họ.
Tất cả
các chúng sanh trong cõi Ta-bà nhận được điều gì do cảm
ứng từ những âm thanh cao vời của tất cả chư Thiên trên
trời ? Họ hiểu được rằng trong cõi Ta-bà, đức Phật Thích-ca-mâu-ni
giảng giáo lý gọi là Diệu Pháp Liên Hoa là Pháp giáo hóa
chư Bồ-tát và được chư Phật hộ niệm. Đây là giáo lý
chân thật và tối thượng, khiến cho tất cả chúng sanh trong
vũ trụ được sống, tạo sự hài hòa cho họ và mang lại
bình an trong tâm. Sự thể hội này có nghĩa là dù cho giờ
đây thế giới Ta-bà là một cảnh giới của khổ đau, chắc
chắn trong tương lai nó sẽ là cõi cao cả nhất của vũ trụ
khi mà tất cả việc dạy dỗ và học tập được hợp lại
thành một trong Phật pháp. Việc dạy dỗ và việc học tập
đáng lẽ phải cải thiện nhân loại thế mà nay lại có xu
hướng đưa đến sự trái nghịch lại và đến bất hạnh.
Chúng tạo nên sự đối lập nhau giữa con người trong các
lĩnh vực tôn giáo và chính trị, chẳng hạn. Hãy nêu một
thí dụ trong khoa học, khoa vật lý hạt nhân giờ đây đang
dẫn nhân loại đến sự bất hạnh lớn nhất hơn là phát
huy hạnh phúc của con người.
Nếu dạy
dỗ và học tập theo những ý niệm tôn trọng loài Người
và sự hài hòa vũ trụ mà đức Phật Thích-ca đã dạy thì
cõi Tịnh Độ sẽ được thể hiện trong thế giới Ta-bà
và thế giới này, với nền văn minh vật chất tiến bộ đáng
kể sẽ trở thành trung tâm của vũ trụ. Đây là giáo lý
vị lai giáo nhất (mirai kyòitsu), “Trong tương lai, tất cả
các giáo lý đều được hợp lại thành một, tức Phật pháp”.
Như thường
lệ, tiếp theo là sự miêu tả về tình trạng của tất cả
các chúng sanh: “Tất cả các chúng sanh ấy, sau khi nghe tiếng
nói từ không trung, chắp tay hướng về või Ta-bà mà cất
tiếng: "Nam-mô Thích-ca-mâu-ni Phật ! Nam-mô Thích-ca-mâu-ni
Phật !"“. Sự miêu tả này trỏ một tiên đoán về
tương lai của nhân loại. Hiện nay, một số người không
biết đến Phật pháp. Một số người khác không muốn nghiên
cứu sâu các giáo lý dù họ đã có được cơ hội tiếp xúc
với các giáo lý. Người thì mê đắm vào một ý tưởng sai
lầm trong khi người khác thì chẳng nghĩ gì khác ngoài công
việc như một kẻ nô lệ. Lại nữa, một số người làm
ác, vi phạm đạo đức và luật pháp. Nhưng dù có nhiều loại,
nhiều lớp người trong xã hội, thời điểm chắc chắn sẽ
đến khi họ toàn tâm quy y đức Phật. Bấy giờ sẽ chẳng
có người ác hay kẻ ngu vì tất cả mọi người đều đã
thành tựu viên mãn phẩm tính của mình. Trạng thái tâm thức
này được gọi là vị lai nhân nhất (mirai - nin'itsu), “trong
tương lai, tất cả mọi người đều đạt được sự toàn
hảo về phẩm chất của mình”. Đây là ý nghĩa của đoạn:
“Tất cả các chúng sanh ấy... cất tiếng: "Nam-mô Thích-ca-mâu-ni
Phật ! Nam-mô Thích-ca-mâu-ni Phật !"“.
Một hiện
tượng thần bí khác được miêu tả như sau: “Thế rồi
các chúng sanh ấy từ xa rải vào thế giới Ta-bà các thứ
hoa, hương thơm, tràng hoa, lọng cũng như các đồ trang sức,
châu ngọc và các thứ tuyệt diệu khác. Những thứ được
rải từ mọi phương như thế giống như mây tụ tập, biến
thành một cái lọng quý. che phủ mọi chỗ phía trên chư Phật”.
Hiện tượng này có nghĩa là trong tương lai, việc tu tập
của tất cả mọi người sẽ đều là những thứ cúng dường
như nhau cho đức Phật. Sự cúng dường lớn nhất cho đức
Phật là làm cho tất cả mọi tu tập hàng ngày phù hợp với
Phật tâm. Dù có rất nhiều sự tu tập hàng ngày, nhưng tất
cả đều như nhau khi chúng phù hợp với Phật tâm. Điều
này được diễn tả một cách linh động qua đoạn sau:
“Những
thứ được rải từ mọi phương như thế giống như mây tụ
tập, biến thành một cái lọng quý, che phủ mọi chỗ phía
trên đức Phật”. Đây là giáo lý vị lai hành nhất (mirai
- gyòitsu), nghĩa là dù những tu tập của người ta nay là
đúng hoặc sai theo nhiều cách khác nhau, trong tương lai, tất
cả mọi tu tập của họ cũng sẽ được hợp nhất trong sự
việc chúng phù hợp với Phật tâm.
Làm cho tất
cả những tu tập của chúng ta phù hợp với Phật tâm là
một tiêu chuẩn quan trọng cho cuộc sống hàng ngày của chúng
ta. Chúng ta phải có một số hiểu biết về pháp luật và
đạo đức. Nhưng trong xã hội có nhiều hành vi mà pháp luật
hay đạo đức không quy định là tốt hay xấu. Hơn nữa, pháp
luật hay đạo đức thay đổi theo nơi chốn và thời gian.
Chúng ta không thể cảm thấy thực sự an toàn nếu như chúng
ta không thể dựa vào những tu tập vốn không thay đổi theo
thời gian và nơi chốn. Nếu chúng ta theo cái tiêu chuẩn làm
cho những tu tập của mình phù hợp với Phật tâm thì lúc
nào chúng ta cũng có thể yên tâm hành động và sẽ không
bao giờ bị đẩy lệch về những hành vi ác tà. Vì đức
Phật là chân lý phổ quát nên việc làm cho những tu tập
của chúng ta phù hợp với tâm Ngài nghĩa là hành động phù
hợp với chân lý phổ quát. Do làm như thế, chúng ta có thể
tránh được lỗi lầm trong mọi tu tập.
Hiện tượng
thần bí kế tiếp được miêu tả như sau: “Bấy giờ, mọi
thế giới trong vũ trụ được hợp nhất không ngăn ngại
như là một quốc độ của Phật”. Thế giới Ta-bà được
gọi là cảnh giới của ảo tưởng, trong khi Tịnh Độ được
gọi là một cõi đẹp đẽ không có khổ đau và địa ngục
là một cõi đại khổ. Nhưng nếu tất cả chúng sanh sống
hoàn toàn vì chân lý nhờ vào Phật pháp thì vũ trụ này sẽ
hợp nhất thành một cõi Phật không phân biệt giữa cõi Trời,
cõi Ta-bà hay cõi địa ngục, vào một lúc nào đó trong tương
lai, mọi sự sẽ tiến đến chân lý và sẽ đóng góp vào
việc sáng tạo một thế giới hài hòa toàn hảo. Hiện tượng
thần bí này biểu hiện giáo lý vị lai lý nhất (mirai - ri'itsu)
“trong tương lai, mọi sự trong vũ trụ sẽ hợp thành một
chân lý”.
Những hiện
tượng thần bí khác nhau được gọi là mười thần lực
của đức Như Lai được miêu tả ở đây vì phẩm này gồm
cái giáo lý kết cuộc của toàn bộ kinh Pháp Hoa và vì nó
trỏ cái lý tưởng tối hậu. Các thuật ngữ Phật học cùng
với từng thần lực trong mười thần lực của đức Như
Lai đã được giải thích, nhưng quý độc giả cũng chẳng
cần phải để tâm ghi nhớ những thuật ngữ Phật học chuyên
môn như thế làm gì, chỉ cần hiểu cái tinh thần của những
gì được dạy ở đây là đủ.
Đọc đến
đây, hẳn chúng ta hiểu được rằng các giáo lý của kinh
Pháp Hoa là một sự chuẩn bị toàn hảo và thấu đáo cho
việc đưa hết thảy chúng sanh đến sự đạt Phật quả và
chúng ta sẽ cảm thấy đội ơn đức Phật vô vàn. Đồng
thời chắc chắn chúng ta cũng sẽ cảm thấy rất rõ ràng
cuộc đời là đáng sống khi biết đến cái khả năng tiến
đến dù là một bước hay hai bước về phía cái trạng thái
lý tưởng của tâm thức bằng cách thực hành Phật pháp dù
cho việc làm cho lý tưởng thành hiện thực có thể còn xa.
Không gì
tốt hơn là có được mục đích cụ thể trong đời. Khi một
người cùng một lúc có hai hay ba mục đích thì tâm người
ấy luôn luôn bị dao động, không yên tĩnh và ổn định.
Tuy nhiên, khi người ấy sống mà chỉ nhắm vào một mục
đích cao cả nhất là tiến đến cái trạng thái tâm của
đức Phật thì người ấy sẽ không bị lệch khỏi chánh
hướng vì người ấy được thâm nhập bởi cái mục đích
lớn lao ấy trong công việc, khi ở nhà, trong nhóm các bằng
hữu, trong việc đọc sách, trong việc giải trí của mình.
Dĩ nhiên,
không thể tránh khỏi việc những người bình thường đôi
khi có những ý nghĩ xấu, lười biếng cẩu thả, phạm lỗi
lầm, lo toan những chuyện vặt vảnh, ham mê những thú vui
chẳng đáng gì và cứ mãi là nạn nhân của nhiều thứ ảo
tưởng. Nhưng họ sẽ không lùi xa khỏi mục đích của họ
nếu họ ý thức vào việc từng bước tiến đến trạng thái
tâm của đức Phật, ngay cả khi họ bị tác động bởi các
ảo tưởng. Sở dĩ như thế là vì sự tỉnh giác của họ
luôn luôn hoạt động như là một sự phù trợ tâm thức.
Cái trạng
thái tâm thức lý tưởng được nêu ở đây có thể có vẻ
như quá cao đối với những người bình thường, và một
số người có thể xem nó như một giấc mộng rất khác biệt
với cuộc sống thực của họ. Họ không nên cảm thấy trạng
thái lý tưởng này là một cái gì mơ hồ và trừu tượng
mà cần có một sự nhận biết sâu sắc, thực sự về nó.
Hơn nữa, họ phải làm cho trạng thái tâm thức này trở thành
một mục đích sống động và nó phải hướng dẫn cuộc
sống của họ.
Bấy giờ
đức Phật nói với Bồ-tát Thượng Hạnh và đại chúng Bồ-tát:
“Thần lực của chư Phật là vô lượng vô biên bất khả
tư nghì, nếu ta dùng những thần lực này, trải suốt vô
lượng vô biên trăm ngàn vạn ức a-tăng-kỳ kiếp, nhằm giao
phó kinh này mà tuyên thuyết công đức của kinh nầy thì Ta
cũng không thể tuyên thuyết cho hết được các công đứcấy”.
Nhóm từ
“nhằm giao phó kinh này” bao gồm ý nghĩa sau đây: “Dù
cần phải có nỗ lực lớn lao để truyền bá giáo pháp này,
Ta cũng hy vọng các vị hoàn thành nhiệm vụ”. Nghe được
lời này của đức Phật, chúng ta không thể không quyết định
thực hiện ngay sứ mạng của đức Phật.
NHỮNG ĐIỂM
QUAN TRỌNG CỦA CÁC CÔNG ĐỨC CỦA KINH PHÁP HOA:
Đức Phật
dạy rằng Ngài không thể nêu hết những công đức của kinh
Pháp Hoa dù cho Ngài có dùng thần lực mà tuyên thuyết chúng
suốt vô lượng vô biên trăm ngàn vạn ức a-tăng-kỳ kiếp.
Ngài nói về những điểm quan trọng của các công đức ấy
như sau:
“Nói một
cách thiết yếu, tất cả các pháp mà Như Lai có, tất cả
các thần lực tự tại của Như Lai; tất cả các bảo tàng
bí yếu của Như Lai và những sự việc rất thâm sâu của
Như Lai, thảy thảy đều được tuyên bố, tỏ bày, khai mở
và giảng giải trong kinh này”. Lời này chứa đựng cái bản
tính sâu xa của những công đức của kinh Pháp Hoa.
Trong nhóm
từ “tất cả các pháp mà Như Lai có”, các pháp là tất
cả những chân lý mà đức Như Lai thể hiện và nêu tỏ trong
kinh Pháp Hoa. Các chân lý mà đức Như Lai thể hiện cũng đã
được thuyết giảng trong các kinh khác, dù chúng chưa được
nêu định một cách trọn vẹn nhưng cũng đã được khai thị
như là những giáo lý khéo léo phù hợp với khả năng lĩnh
hội của mỗi người. Một chân lý vĩ đại có thể áp dụng
ở mọi nơi của vũ trụ được thuyết giảng trong kinh Pháp
Hoa, bao gồm tất cả các chân lý và giáo lý khác. Đây là
lý do tại sao người ta bảo kinh này là đỉnh điểm của
tất cả các giáo lý mà đức Phật Thích-ca đã thuyết giảng
trong thời Ngài tại thế. Tất cả những chân lý mà đức
Như Lai thể hiện đều được trình bày thấu đáo trong kinh
này.
Khi chân lý
tuyệt đối mà đức Như Lai thể hiện như là sự nghiệp
cứu độ hết thảy chúng sanh thì không ai bị bỏ sót khỏi
sự cứu độ của Ngài. Đây là ý nghĩa của cú ngữ “tất
cả các thần lực tự tại của Như Lai”. Tất cả các thần
lực này của đức Như Lai đều gồm trong kinh Pháp Hoa. Khi
ta đọc kinh này, ta có thể được cứu độ, dù chỉ đọc
một bài đơn lẻ hay một từ đơn lẻ của kinh, vì chân lý
được chứa đựng trong mỗi phần của kinh. Nếu ta hiểu
thông suốt cái chân lý lớn lao có thể áp dụng cho toàn bộ
kinh Pháp Hoa và thực hành trọn vẹn chân lý ấy thì cuối
cùng ta có thể đạt được cùng một trạng thái tâm như
đức Phật. Do đó, tất cả các thần lực tự tại của đức
Như Lai vốn có thể cứu độ hết thảy chúng sanh đều được
chứa đựng trong kinh Pháp Hoa.
Trong cú ngữ
“tất cả các bảo tàng bí yếu của Như Lai trỏ sự vô
lượng của giáo pháp của đức Như Lai. Ngài thâm nhập
vào trạng thái thực sự của mọi sự vật và hiểu rõ khả
năng của các chúng sanh về sự lãnh hội giáo lý của Ngài.
Do đó, Ngài có thể thuyết giảng một giáo lý từ bảo tàng
vô lượng giáo lý trong tâm Ngài thích hợp với từng hoàn
cảnh. Bảo tàng vô lượng này được khai thị trong kinh Pháp
Hoa.
Trong cú ngữ
“những sự việc rất thâm sâu của Như Lai”, từ “sự
việc” nghĩa là “thực hành”. Nếu ta không tiến từ lý
thuyết sang thực hành trong niềm tin giáo lý thì ta không thể
thành tựu viên mãn giáo lý. Lý thuyết và thực hành phải
luôn đi đôi với nhau. Trong kinh Pháp Hoa, đức Phật không
chỉ giảng giáo lý của Ngài một cách lý thuyết mà Ngài
còn trỏ đến những thực hành mà Ngài đã thể hiện, quá
trình Ngài đã chứng ngộ và phương pháp dẫn đạo chư đệ
tử của Ngài và tất cả chúng sanh. Hơn nữa, không những
Ngài bàn đến những sự việc đã xảy ra sau khi Ngài xuất
hiện trên đời này mà cả đến những hạnh Bồ-tát mà Ngài
đã thực hiện trong vô số đời trước của Ngài. Những
tư tưởng sâu kín trong thời gian tu ẩn dật trong thế giới
này và những thực hành của Ngài trong các đời sống trước
kia thâm thúy đến nỗi những người bình thường không thể
tưởng tượng ra được. Đây là ý nghĩa của cú ngữ “những
sự việc rất thâm sâu của Như Lai”.
Trong phẩm
này, như là giáo lý kết thúc của kinh Pháp Hoa, đức Phật
nói rõ lại một cách cô đọng nhằm mục đích sau đây: “Nói
một cách thiết yếu, tất cả các chân lý mà Như Lai đã
thể hiện, tất cả sự nghiệp cứu độ hết thảy chúng
sanh của các chân lý ấy, tất cả các giáo lý đã xuất hiện
như là sự vận hành của các chân lý ấy, và tất cả các
thực hành cứu độ hết thảy chúng sanh của Như Lai vốn
đã được tỏ lộ trong quá khứ, thảy thảy đều được
tuyên bố, tỏ bày, khai mở và giảng giải trong kinh này.”(1)
Giá trị tối thượng và sự toàn hảo tuyệt đối của kinh
Pháp Hoa một lần nữa được xác định bởi lời của chính
đức Phật.
Thế rồi
đức Phật nêu ra cái trạng thái tâm thức mà người bình
thường phải duy trì sau khi đức Như Lai diệt độ: “Do đó
sau khi Như Lai diệt độ, các vị phải hết lòng thọ trì,
đọc tụng, thuyết giảng sao chép và tu hành kinh Pháp Hoa theo
như giáo lý. Trong bất cứ quốc độ nào, hễ kinh được
thọ trì, đọc tụng, thuyết giảng, sao chép, tu hành theo như
giáo lý, hoặc tại một nơi có giữ một quyển kinh này, hoặc
ở trong một ngôi chùa, hoặc ở trong một khu rừng, hoặc
ở dưới một cội cây, hoặc trong một tinh xá, hoặc ở trong
một ngôi nhà của cư sĩ, hoặc trong điện các, nơi sơn cốc,
nơi đồng bằng, nơi hoang dã, tại tất cả những nơi này,
các vị phải dựng tháp cúng dường. Tại sao ? Các vị nên
biết rằng tất cả những chỗ này đều là đạo tràng. Tại
các nơi này, chư Phật chứng đắc Toàn Giác; tại các nơi
này, chư Phật chuyển bánh xe Pháp; tại các nơi này, chư Phật
nhập Niết-bàn”.
Ở đây đức
Phật nhấn mạnh Thánh tính của chính giáo lý của Ngài và
dạy rõ rằng phương cách đúng đắn để duy trì niềm tin
là thọ trì và tu tập các giáo lý. Theo đó, “một nơi có
giữ một quyển kinh này” cần được hiểu rằng đấy không
phải là nơi kinh được giữ như một đồ vật mà là nơi
giáo lý được lưu tồn hay được thực hành đúng đắn và
được duy trì. Hiểu kinh theo ý nghĩa một đồ vật vật chất
- một tập sách hay một cuộn giấy - là sai, như chúng ta có
thể thấy cái tinh thần thấm đượm trong đoạn văn đã được
trích dẫn trên đây.
Tại sao ta
phải đòi hỏi quá nhiều ở việc hiểu ý nghĩa của một
từ đơn lẻ ? Đấy là vì có thể rằng ta xem cái gì đó
tượng trưng cho giáo lý là tối cao tối trọng hơn chính giáo
lý và do cứ miệt mài theo cái tượng trưng, ta bị đưa đến
sự ham mê một niềm tin lầm lạc. Cái gì tượng trưng cho
giáo lý quả thực là thiêng liêng. Nhưng nếu ta chỉ miệt
mài vào nó mà thôi, xem nó là tối thượng hoặc nếu ta tôn
kính nó để được cứu độ thì đấy là ta hạ thấp giáo
lý cao cả của đức Phật xuống tới cấp độ của tôn giáo
dân dã. Làm như thế là một sự phỉ báng lớn lao đối với
Phật pháp. Thánh tính chính là các giáo lý của đức Phật,
như Ngài đã khai thị ở đây. Một niềm tin chân chính hiện
hữu tại bất cứ chỗ nào ta thọ trì, tu tập giáo lý thiêng
liêng. Ta phải ghi nhớ điều này vì nó quan trọng đến nỗi
nó tạo nền tảng cho cuộc sống hàng ngày của ta.
Kế đến,
đức Phật trùng tuyên giáo lý của Ngài bằng kệ. Dù các
câu kệ vốn có cùng ý nghĩa với đoạn văn xuôi ở trước,
những giải thích ngắn cũng được nêu ra bằng những câu
kệ trong đó đức Phật dùng những từ ngữ có ý nghĩa khác
với những từ ngữ trong các đoạn văn xuôi tương ứng.
Về các công
đức của những người thọ trì và tu hành kinh này, đức
Phật dạy:
“Người
giữ được kinh này
Là kẻ thấy
được Ta
Cũng thấy
Phật Đa Bảo
Và Phân
thân của Ta
Lại thấy
ngày nay Ta
Giáo huấn
các Bồ-tát”.
Như đức Phật
dạy ở đây, một người dốc lòng thọ trì và tu tập kinh
này có thể nhìn thấy đức Phật. Như trước đây đã giải
thích, nhìn thấy đức Phật nghĩa là thể hội sự hiện hữu
thực sự của đức Phật. Nhờ sự thể hội này, chúng ta
đạt được sự bình an của tâm. Tiếp đến, đức Phật
dạy:
“Người
giữ được kinh này,
Khiến Ta
và Phân thân
Cùng với
Phật Đa Bảo
Đang tại
cõi Tịch diệt
Tất cả
đều hoan hỷ
Cũng thấy
và cúng dường
Phật mười
phương, hiện tại,
Quá khứ
và vị lai
Khiến chư
Phật hoan hỷ”.
Tóm lại, đoạn
này nghĩa là một người thọ trì và tu hành kinh này chắc
chắn sẽ khiến cho hết thảy chư Phật hoan hỷ. Đấy là
vì các hành vi của người ấy phù hợp với tâm của tất
cả chư Phật và tương đương với sự đại cúng dường
đối với chư Phật. Thế rồi đức Phật dạy:
“Người
giữ được kinh này,
Không lâu
sẽ chứng đắc
Thảy các
pháp bí yếu
Mà chư Phật
chứng đắc
Khi ngồi
tại Đạo trường”.
Đoạn này có
nghĩa là một người thọ trì và tu hành kinh này thì chẳng
bao lâu chắc chắn thế nào cũng đạt tuệ thâm sâu mà chư
Phật đã chứng đạt trên tòa tại Đạo trường. Tuy nhiên,
không nên hiểu từ “không lâu” theo ý nghĩa thời gian trong
thế giới này. Những người bình thường phải tu tập giáo
lý của đức Phật suốt một thời gian rất dài của bốn
hoặc tám lần tái sinh. Nhưng dù cái thời gian dài như thế
cũng rất ngắn theo quan điểm sự sống vĩnh cửu.
Đức Phật
dạy tiếp:
“Người
giữ được kinh này
Sẽ vui giảng
không cùng
Ý nghĩa
của các Pháp
Cùng từ
ngữ, biểu cú
Như gió
thổi trên không
Thảy thảy
không chướng ngại”.
Đoạn này nghĩa
là một người dốc lòng thọ trì và tu hành kinh này sẽ đạt
được cái năng lực thuyết giảng mọi pháp cho người khác
một cách tựtại. Đức Phật kết thúc bằng đoạn kệ sau
đây:
“Như
Lai nhập diệt rồi,
Biết kinh
Phật đã dạy,
Nhân duyên
và trình tự
Người ấy
giảng nghĩa thật.
Như ánh
sáng nhật nguyệt
Có thể
xua bóng tối,
Người ấy
tại thế gian
Xua ám cho
chúng sanh,
Khiến vô
lượng Bồ-tát
Sau cùng
trú Nhất thừa.
Do đó người
có trí,
Sau khi Ta
diệt độ
Nghe được
những lợi lạc
Của công
đức này đây,
Cần thọ
trì kinh này,
Người ấy
trong Phật đạo
Quyết định,
chẳng nghi ngờ”.
Đoạn này nghĩa
là sau khi đức Như Lai diệt độ, một người biết được
đức Phật đã thuyết giảng các giáo lý của Ngài vì lý
do gì, cho ai và tại đâu, cùng với cách lập luận và trình
tự của các giáo lý ấy, và người ấy có thể giảng giải
đúng đắn các giáo lý ấy theo thực nghĩa của chúng, thì
người ấy có thể xua tan sự u ám của những người khác
giống như mặt trời và mặt trăng loại trừ bóng tối. Và
người này cũng có thể khiến cho vô số tín giả nhập đạo
Nhất thừa. Do đó, khi một người suy nghĩ sâu xa về cuộc
đời của mình - một người có trí tuệ - nghe được những
lợi lạc của công đức này, sau khi đức Phật nhập diệt,
người ấy nên thọ trì kinh này. Người nào suy nghĩ sâu xa
về cuộc đời thì sẽ đạt được kinh này. Chẳng nghi ngờ
gì, thế nào người ấy cũng đạt được Phật đạo.
Bài kệ kết
thúc này, như là giáo lý kết thúc của kinh Pháp Hoa, thâm
sâu và thiêng liêng nhất. Nó được xem là một trong những
bài kệ quan trọng nhất của toàn bộ kinh Pháp Hoa. Chúng ta
cần phải nắm chắc ý nghĩa của bài kệ này và phải tụng
thuộc lòng nó cho được.