Phẩm
20
THƯỜNG
BẤT KHINH BỒ-TÁT
Không phải
tất cả các đệ tử nghe giáo thuyết của đức Phật ở
phẩm 19 đều hoàn toàn hiểu ý nghĩa đích thực của lời
khuyến dụ và nhắc nhở của Ngài ở trong đó. Một số người
đã trở nên nản lòng và nghĩ: “Có lẽ ta không thể thực
hành giáo lý của kinh Pháp Hoa một cách toàn hảo”. Một
số người khác có thể đã tự mãn, nghĩ rằng: “Ta có thể
có được công đức thế này thế nọ nếu ta thực hiện
năm loại thực hành của các Pháp sư theo đúng cách thức.”
Một số người khác nữa đã nhất thời kiêu mạn tự cho
rằng: “Không như hàng đệ tử nhị thừa Thanh văn ('Sràvaka)
và Duyên giác (Pratye-kabuddha), ta là Bồ-tát có năng lực siêu
nhiên này. Ta hoàn toàn khác với họ.”
Trong mọi
cơ hội, các thuyết giảng của đức Phật đều toàn hảo,
chẳng thiếu sót gì. Hễ khi nào Ngài nhận ra có chút nghi
ngờ tinh tế nhất trong tâm của các đệ tử, Ngài khuyến
giáo họ đủ để đưa họ đến Toàn Giác. Ta cũng có thể
dễ dàng tưởng tượng rằng hẳn Ngài cũng đã làm như thế
trong thuyết giảng của Ngài ở phẩm 19.
Bấy giờ
đức Phật chuyển giọng, nói với Bồ-tát Ma-ha-tát Đắc
Đại Thế: “Nay Ông nên biết rằng nếu các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni,
Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di trì kinh Pháp Hoa, và nếu có ai nguyền
rủa, mắng chửi hay mạ lỡ họ thì người ấy sẽ nhận
đại tội báo như đã nói trước đây; nhưng những ai đạt
được các công đức như những công đức đã tuyên thuyết,
mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý của họ sẽ thanh tịnh.”
Rồi đức Phật thuật lại chuyện Bồ-tát Thường Bất Khinh
như là một minh họa cho những gì Ngài dạy.
CHUYỆN BỒ-TÁT
THƯỜNG BẤT KHINH:
“Đắc Đại
Thế ! Trong một thời quá khứ vô lượng, vô biên, không thể
nghĩ bàn, cách a-tăng-kỳ kiếp, có một đức Phật tên là
Oai Âm Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc,
Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng
Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Kiếp của Ngài tên là
Ly Suy, quốc độ của Ngài tên là Đại Thành. Đức Phật
Oai Âm Vương ấy, trong quốc độ ấy, giảng pháp cho Trời,
Người và A-tu-la (asura). Đối với những người cầu mong
được là Thanh văn, Ngài giảng về pháp Tứ đế nhằm thoát
khỏi sanh, lão, bệnh, tử để cuối cùng đưa đến Niết-bàn;
đối với những người cầu mong được là Bích-chi Phật
(Duyên giác), Ngài giảng về pháp Mười hai Nhân duyên; đối
với các Bồ-tát, Ngài dùng Đại Giác để giảng về Sáu
Ba-la-mật để khiến thành tựu Phật tuệ. Này Đắc Đại
Thế ! Thọ mạng của đức Phật Oai Âm Vương là bốn mươi
vạn ức na-do-tha kiếp, nhiều như cát sông Hằng. Số kiếp
mà Chánh pháp được duy trì ở đời nhiều như số vi trần
(bụi nhỏ) trong một cõi Diêm-phù-đề (Jambuvìpa); và số
kiếp mà Tượng pháp được duy trì ở đời bằng với số
vi trần trong Bốn cõi thiên hạ. Sau khi đã tạo rất nhiều
lợi ích cho mọi chúng sanh, đức Phật ấy nhập diệt. Sau
khi Chánh pháp và Tượng pháp đã hoàn toàn tiêu mất, tại
quốc độ này vẫn còn xuất hiện một đức Phật. Ngài cũng
có danh hiệu là Oai Âm Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến
Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng
Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
Cứ kế tiếp như thế, có hai vạn ức đức Phật cùng một
danh hiệu. Sau khi đức Oai Âm Vương Như Lai đầu tiên nhập
diệt và sau khi Chánh pháp chấm dứt, trong thời Tượng pháp,
các Tỳ-kheo tăng thượng mạn có thế lực lớn. Vào thời
ấy có một vị Bồ-tát Tỳ-kheo tên là Thường Bất Khinh.
Này Đắc Đại Thế ! Vì lý do gì vị ấy tên là Thường
Bất Khinh ? Vì Tỳ-kheo ấy hễ gặp bất cứ ai, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni,
Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, đều lễ bái, tán thán họ mà bảo
rằng: "Tôi rất kính ngưỡng quý ngài. Tôi không dám khinh
thường quý ngài. Tại sao ? Vì tất cả quý ngài đang hành
Bồ-tát đạo và sẽ thành Phật." Và Tỳ-kheo ấy không chăm
lo đọc tụng kinh điển mà chỉ lo lễ bái. Khi trông thấy
từ xa một vị trong Tứ chúng, vị ấy liền đến lễ bái,
tán thán rằng: "Tôi không dám khinh thường quý ngài, vì tất
cả quý ngài đều sẽ thành Phật." Trong Tứ chúng có những
người có tâm sân nhuế, bất tịnh mắng rủa vị ấy rằng:
"Cái ông Tỳ-kheo vô trí này từ đâu đến mà lại tự tiện
bảo: "Tôi không dám khinh thường quý ngài" rồi lại thọ
ký rằng chúng ta sẽ thành Phật ? Chúng ta không cần lời
thọ ký hư vọng như vậy." Cứ thế, vị ấy trải qua nhiều
năm, cứ vẫn bị la mắng mà không bao giờ nóng giận và cứ
luôn bảo: "Quý ngài sẽ thành Phật." Mỗi khi vị ấy bảo
như thế, người ta lấy gậy, hèo mà đánh, lấy gạch, đá
mà ném vị ấy. Nhưng trong khi tránh xa ra, vị ấy cũng vẫn
la lớn: "Tôi không dám khinh thường quý ngài. Tất cả quý
ngài đều sẽ thành Phật." Và vì vị ấy cứ mãi nói như
thế, các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di kiêu mạn
đặt hiệu cho vị ấy là Thường Bất Khinh.
“Khi
sắp mất, vị Tỳ-kheo này nghe và có thể thọ trì hai mươi
ngàn vạn ức bài kệ từ không trung, vốn là những bài kệ
mà đức Phật Oai Âm Vương ngày xưa đã tuyên thuyết. Tức
thì vị ấy đạt được thanh tịnh như đã nói trên của
nhãn căn và nhĩ, tỡ, thiệt, thân và ý căn. Sau khi đã đạt
sự thanh tịnh của sáu căn này, vị ấy gia tăng thọ mạng
thêm hai trăm vạn ức na-do-tha năm và thuyết giảng rộng rãi
kinh Pháp Hoa cho người ta. Bấy giờ bốn chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni,
Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di kiêu mạn từng khinh khi và đặt cho vị
ấy tên hiệu Thường Bất Khinh, thấy vị ấy đạt được
những năng lực siêu nhiên lớn lao, năng lực về biện thuyết,
năng lực Thiền định cao vời, rồi nghe vị ấy thuyết giảng
thì tất cả đều tin phục và tùy tùng. Vị Bồ-tát này lại
giáo hóa thêm hàng vạn ức chúng sanh, đưa họ đến Đại
Giác.
“Sau khi
mạng chung, vị ấy gặp được hai ngàn ức đức Phật, tất
cả đều có hiệu là Nhật Nguyệt Đăng Minh. Trong Pháp
của chư Phật này, vị ấy giảng kinh Pháp Hoa này. Do bởi
nhân duyên này, vị ấy lại gặp hai ngàn ức đức Phật,
tất cả đều có hiệu là Vân Tự Tại Đăng Vương. Do vì
trong Pháp của chư Phật ấy, vị ấy thọ trì, đọc tụng
và giảng kinh này cho cả bốn chúng, vị ấy đạt được
sự thanh tịnh về mắt thường và về các quan năng mũi, lưỡi,
thân, ý và thuyết giảng Pháp trong bốn chúng mà không sợ
hãi gì.
“Này Đắc
Đại Thế ! Bồ-tát Ma-ha-tát Thường Bất Khinh này đảnh
lễ nhiều đức Phật như vậy, cung kính, tôn trọng và tán
thán chư vị; và sau khi vun trồng thiện căn, vị ấy lại
gặp hàng vạn ức đức Phật và cũng tùy vào Pháp của chư
Phật ấy mà thuyết giảng kinh này, công đức thành tựu và
trở thành một vị Phật. Đắc Đại Thế ! Ý Ông thế nào?
Bấy giờ Bồ-tát có thể là ai khác chăng ? Đấy chính là
Ta vậy. Nếu trong các đời trước Ta không thọ trì,
đọc tụng và thuyết giảng kinh này cho người khác thì Ta
đã không đắc A-nậu-đa-la tam-muội tam-bồ-đề sớm như
vậy.
“Này Đắc
Đại Thế ! Bấy giờ bốn chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc,
Ưu-bà-di do tâm sân hận mà khinh thường Ta cho nên suốt hai
trăm ức kiếp, họ không bao giờ gặp được một vị Phật,
không bao giờ được nghe Pháp, không bao giờ trông thấy Tăng,
và suốt trong một ngàn kiếp phải chịu đại khổ não trong
địa ngục A-tỳ (Avìci). Sau khi sạch hết tội lỗi, họ lại
gặp Bồ-tát Thường Bất Khinh và được Bồ-tát giáo hóa
đưa đến Giác ngộ Hoàn toàn. Đắc Đại Thế ! Ý Ông thế
nào ? Bốn chúng ấy lúc bấy giờ thường khinh miệt vị Bồ-tát
ấy, có thể là ai khác chăng ? Đấy là năm trăm Bồ-tát Bạt-đà-bà-la
(Bhadrapàla) và các vị khác, năm trăm Tỳ-kheo-ni Sư Tử Nguyệt
và các vị khác, năm trăm Ưu-bà-tắc Tư Phật và các vị
khác, tất cả đều không bao giờ thối chuyển trong Đại
Giác ngộ. Đắc Đại Thế ! Ông nên biết, kinh Pháp Hoa này
gây lợi lạc lớn cho hết thảy Bồ-tát Ma-ha-tát, khiến họ
đạt được A-nậu-đa-la tam-muội tam-bồ-đề. Do đó tất
cả Bồ-tát ma-ha-tát, sau khi Như Lai nhập diệt, cần phải
luôn thọ trì, đọc tụng, thuyết giảng và sao tả kinhnày.”
Thế rồi
đức Phật muốn trùng tuyên giáo lý này, bèn nói lại bằng
kệ, chấm dứt thuyết giảng của Ngài trong phẩm này.
Đọc đến
đây, các độc giả sẽ lưu ý rằng phẩm này rất khác với
các phẩm trước của kinh Pháp Hoa. Các phẩm trước đây trình
bày cho chúng ta cảnh tượng đẹp đẽ và mộng tưởng của
nhiều quốc độ tuyệt chẳng giống với thế giới này, cũng
như những cảnh tượng bi thảm của địa ngục. Phần lớn
các nhân vật, gồm chư Phật, đã được giới thiệu như
những siêu nhân và các chúng sanh lý tưởng. Nhưng phẩm này
được định tính rõ nét bằng thể cách con người.
Bối cảnh
của Bồ-tát Thường Bất Khinh khiến chúng ta nghĩ đến một
thành phố bình thường của ngày nay, dù rằng không có sự
miêu tả về nơi nào. Các nhân vật xuất hiện trong câu chuyện
là những người bình thường mà ta có thể gặp ở bất cứ
đâu. Các từ “Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di”
không nhất thiết có nghĩa là chư Tăng, chư Ni và các tín
đồ tại gia của Phật giáo mà bao gồm mọi người thuộc
mọi loại và mọi giai cấp: các tiểu công chức theo thời
trang, các thanh niên hào nhoáng, các thương gia trung niên tự
cho mình là những người sành sõi có phán đoán chín chắn,
các phụ nữ có bản chất hiền thiện nhưng ý chí mạnh mẽ;
hòa nhập với những người như thế, ta cũng liên tưởng
đến những tu sĩ có kiến thức khoe khoang rằng mình có một
kiến thức đầy đủ về Phật giáo, những tu sĩ trung niên
tự hào về việc giữ giới, và những tu sĩ lão niên ra phố
khất thực mà không có lời thuyết giảng nào, chỉ im lặng
đứng ở một góc đường với bộ dáng lãnh đạm và cao
cả. Bồ-tát Thường Bất Khinh gợi lên hình ảnh của một
tăng sĩ trẻ có vẻ dáng của một người nhiệt tâm và nghiêm
túc với một cái gì đó khác thường và tế nhị về mình.
Có thể nói
tất cả các phẩm của kinh Pháp Hoa đều có thể cách văn
học nhưng phẩm 20 lại gần gũi nhất với cảm nhận của
văn học hiện đại. Nó tạo cho ta một cảm giác mạnh mẽ
về nhân tính và về những sự vật gần gũi với ta. Điều
này là hoàn toàn tự nhiên vì nó khẳng định một cách sống
động về một người bình thường chỉ bằng cách tu hạnh
tôn kính người khác, thể hiện sự tín thành của mình và
cuối cùng đạt được tính chất toàn hảo.
Trong phẩm
trước, đức Phật giảng về năm loại thực hành của những
Pháp sư và nêu trỏ những công đức rộng lớn, vô biên mà
người ta có thể có được nhờ những thực hành ấy. Nhưng
một người bình thường có thể bị nản chí vì phương pháp
tu tập cá nhân phải theo mà nghĩ rằng: “Có thể ta không
thành tựu được năm loại thực hành của các Pháp sư.”
Có lẽ người ấy sẽ suy nghĩ theo kiểu cơ hội rằng: “Được
rồi, ta sẽ cố thực hiện năm loại thực hành này nhằm
theo hình thức.” Rủi thay, tâm của người bình thường vận
hành ở trình độ này.
Đức Phật
Thích-ca đã nhận biết được tâm của những người nghe
giáo lý của Ngài. Do đó, ta có thể đoán được tại sao
Ngài thay đổi hoàn toàn phương pháp thuyết giảng của Ngài
ở phẩm 20. Trong khi kể về đời sống quá khứ của chính
Ngài, Ngài muốn cho người ta hiểu một lần nữa ba giáo lý
quan trọng. Thứ nhất, thực hiện trọn vẹn dù chỉ một
thiện hạnh quả thực là tối trọng và làm như thế là bước
đầu tiên đưa đến giải thoát. Thứ hai, tuy có thể rằng
ta học và hành nhiều thứ, vẫn không có giá trị chủ yếu
nào trong việc học và hành ấy; sự tạo lập một đời người
có giá trị chính là sự việc chúng ta thực hành dù chỉ
một thiện hạnh đơn lẻ bằng sự tận tụy và kiên trì
nỗ lực. Thứ ba, Bồ-tát hạnh khởi từ sự tôn kính những
người khác, tức là từ sự công nhận của ta rằng mọi
người đều có Phật tính. Nếu ta cố gắng cứu độ những
người khác mà không công nhận Phật tính của họ thì đấy
chỉ là sự thực hiện những công hạnh rỗng tuyếch và chỉ
có tính hình thức. Sự cứu độ thực sự chính là chúng
ta khai mở và tôn trọng Phật tính vốn có ở những người
khác.
Đức Phật
đã minh họa ba giáo lý quan trọng này trong câu chuyện vị
Tỳ-kheo nhân bản Thường Bất Khinh. Hơn nữa, Ngài tuyên bố
rằng Thường Bất Khinh chính là đức Phật trong một tiền
thân. Tuyên bố của Ngài khiến chúng ta cảm nhận rằng đức
Phật vốn có vẻ như rất xa cách chúng ta bỗng đến gần
với chúng ta. Đồng thời ta có thể cảm giác rằng nếu ta
theo con đường của Bồ-tát Thường Bất Khinh thì ta có thể
chắc chắn đạt được sự toàn hảo của tính cách của
chúng ta. Đức Phật hình như đã hiện hữu ở đâu đó bên
trên các từng mây, rất xa chúng ta. Tuy nhiên, Ngài chỉ cho
chúng ta vị Bồ-tát Thường Bất Khinh là chính Ngài trong một
tiền thân, một người thân hữu và nhân bản, chúng ta cảm
thấy như tìm được một cái thang nhờ đó chúng ta trèo lên
tới chỗ ở của đức Phật bên trên các từng mây. Đức
Phật đã ban cho chúng ta sự khích lệ lớn lao. Chúng ta có
nhiệt tâm và tự bảo:
“Không có
cái gì là không thể khi tu hạnh Bồ-tát.” Trong ý nghĩa này,
phẩm 20 có một vị trí đặc biệt trong phần kết thúc Bổn
Pháp vốn quả là toàn bộ trong kinh Pháp Hoa. Nhiều giáo lý
quan trọng bao gồm trong chuyện Bồ-tát Thường Bất Khinh.
Ta hãy xét các giáo lý ấy theo từng giáo lý riêng lẻ.
KHAI PHÁT
VÀ TÔN TRỌNG PHẬT TÍNH CỦA NGƯỜI KHÁC:
Thời Tượng
Pháp và thời Tỳ-kheo Thường Bất Khinh xuất hiện ở thế
giới này. Thời Tượng pháp là thời mà chân lý do đức Phật
thuyết giảng vẫn còn hiện hữu nhưng người ta học và thực
hành chân lý ấy theo kiểu một nghi thức và không còn sự
chứng ngộ nữa. Trong thời này, các tu sĩ Phật giáo nỗ lực
đạt cho được một kiến thức trọn vẹn về các học thuyết
và nghi thức Phật giáo rồi tự hào mình là người trí thức.
Một số họ chỉ giữ giới và thực hành giới mà thờ ơ
đối với người khác, và sống đời sống tôn giáo biệt
lập với cuộc đời thường. Phần còn lại là những tín
đồ yếu kém. Trong thời kỳ như thế, tu sĩ Phật giáo mất
đi sự tiếp cận với đời sống và linh hồn thực sự của
Phật giáo.
Đời sống
và linh hồn thực sự của Phật giáo là gì ? Đấy không gì
khác hơn là sự việc chúng ta hết lòng thể nghiệm ý nghĩa
của câu nói “Tất cả chúng sanh đều vốn có Phật tính”.
Toàn bộ đời sống tôn giáo của chúng ta khởi sự bằng
sự thể nghiệm này. Chú ý đến Phật tính của chính ta mà
đưa nó ra ánh sáng từ chiều sâu thẳm của tâm thức, nuôi
dưỡng nó và phát triển nó một cách mạnh mẽ là bước
đầu tiên của đời sống tôn giáo của chúng ta; đây là
trạng thái tâm thức của hàng Thanh văn và Duyên giác.
Nếu một
người có Phật tính của tự mình thì những người khác
cũng có như thế. Nếu một người có thể toàn tâm hiểu
rằng mình có Phật tính, thì người ấy tự nhiên hiểu được
rằng những người khác cũng đều có Phật tính. Người nào
không thể công nhận điều này thì người ấy đã không thực
sự thể nghiệm Phật tính của chính mình.
Có nhiều
người xấu chung quanh ta. Ta không thể không nghĩ đến một
số người trong họ là những kẻ ác độc ngay cả khi ta cố
gắng nhìn thấy họ theo thể cách ưu ái nhất có thể có
được. Ta không thể có cảm tình với những kẻ giết người
để cướp của hay lừa đảo người khác vì tài sản. Tuy
nhiên, ta đánh giá những người ấy là xấu chỉ do vì những
hành động gây tội ác được đăng trên báo chí hay được
công bố khác đi. Nếu ta có thể biết được tất cả mọi
hoàn cảnh sống của họ thì ta sẽ nhận thấy rằng không
có ai quá tệ hại đến nổi không còn một số cảm tính
của con người.
Một kẻ
sát nhân có thể chơi đùa với đứa bé con của anh ta, tung
nhẹ nó trong đôi cánh tay của anh ta khi anh ta ở nhà. Một
kẻ tống tiền có thể cư xử với con chó của anh ta như
với đứa con của chính anh ta. Một kẻ găng tơ moi tiền từ
những công dân thật thà có thể có một bộ hạ cừ khôi
mà anh ta thương yêu như một người em ruột thịt. Do như
thế, chúng ta không xét tội trạng của họ một cách hời
hợt hay lý tưởng hóa họ như là những anh hùng trong phim
ảnh. Nhưng khi chúng ta nhìn những người xấu bằng đôi mắt
trầm tĩnh và không thiên kiến chứ không phải bằng tình
cảm nhạy bén, chúng ta không thể không nhận ra ở họ một
chút nhân tính mà họ để lộ ra khi họ hồn nhiên vui đùa
với con cái hay đối xử với con chó tử tế như với chính
con của họ, hoặc thương yêu đám bộ hạ xuất sắc của
họ.
Một chút
nhân tính - đây chính là hạt giống của Phật tính vậy.
Một đốm Phật tính lóe lên từ tâm thức của ngay cả một
người có tâm thức bị che mờ và dơ bẩn vì cái ác của
những tội lỗi. Nó giống như một khe hở nhỏ trên tường
của ngục tù đen tối. Mọi người, không trừ một ai, đều
có một khe hở như thế trong tâm thức, tức là một đốm
Phật tính.
Chúng ta cố
tìm cái khe hở trong tâm thức của người khác; chúng ta coi
trọng nó càng nhiều càng tốt; và do làm như thế, chúng ta
khiến cho người khác tự nhận biết nó. Một người hiểu
được sự hiện hữu của khe hở trong chính tâm mình sẽ
mở rộng nó ra rộng hơn cho mình vì người ấy muốn để
ánh sáng vào chỗ thâm sâu của tâm mình nhiều hơn. Đây là
ý nghĩa của sự khai phát và tôn trọng Phật tính của nhöưng
người khác và đồng thời khám phá Phật tâm của chính mình.
Khai phát và tôn trọng Phật tâm của người khác chính là
mục đích chủ yếu của hạnh Bồ-tát và Phật giáo sinh động
bao gồm điều ấy.
Trong văn
mạch này, chúng ta đừng quên biểu ngữ “và vị Tỳ-kheo
ấy không chăm lo đọc tụng kinh điển mà chỉ lo lễ bái.”
Đây không có nghĩa là vị ấy không cần phải đọc tụng
kinh điển mà muốn trỏ rằng đọc tụng kinh điển chỉ là
nghi thức, không có giá trị trong thời Tượng pháp. Do đó,
đức Phật nhấn mạnh rằng đối với một Tỳ-kheo, khai mở
và tôn trọng Phật tính của những người khác thì quan trọng
hơn đọc và tụng kinh điển là những thứ đã thoái hóa
thành chủ nghĩa hình thức. Điểm này là đời sống và linh
hồn của Phật giáo.
Bồ-tát Thường
Bất Khinh lễ bái và tán thán mọi người mà ngài gặp rằng
“Tôi rất kính ngưỡng quý ngài, vì tất cả quý ngài đều
sẽ thành Phật.” Hạnh này của Bồ-tát là khai phát và tôn
kính Phật tính của những người khác. Lời Ngài bảo “Tất
cả quý ngài đều sẽ thành Phật” trỏ rằng Ngài đã khai
phát Phật tính của người khác, đã kính trọng và tán thán
Phật tính ấy.
Có hai cách
để khiến người ta khám phá Phật tính của chính họ. Một
cách là “sự soi sáng theo hướng trực tiếp”; đây là cách
trỏ “những sự việc của chính mình” (kỷ sự - ko-ji)
đã được giải thích ở phẩm 16. Cách kia là “sự soi sáng
theo hướng trái nghịch”, tức là cách trỏ “những sự
việc của những người khác” (tha sự - ta-ji) cũng đã được
giải thích ở phẩm ấy. Sự soi sáng theo hướng trực tiếp
là làm cho những người khác thể nghiệm Phật tính của chính
họ bằng sự khám phá và tán thán của chúng ta về Phật
tính ấy. Đây là cách mà Bồ-tát Thường Bất Khinh đã sử
dụng. Sự soi sáng theo hướng trái nghịch nghĩa là thức tỉnh
những người khác ra khỏi sự si muội bằng cách phê phán
họ. Đây là cách phải theo khi kêu gọi ai đó làm phận sự
hay khi khiến người ấy giật mình bằng những lời lẽ nghiêm
khắc: “Anh muốn cái gì với lối sống tệ hại và ích kỷ
ấy ? Nếu anh cứ tiếp tục sống theo cách ấy, anh có
thể tưởng tượng rằng anh cảm thấy ra sao khi anh sắp chết
không ?” Cách này rất có hiệu quả đối với một số người.
Sự soi sáng
theo hướng trực tiếp có thể được so sánh với cách thức
mà theo đó, nhờ vào một liều thuốc hợp khẩu vị, người
ta dễ dàng làm tan lớp vỏ bao bọc Phật tính của mình. Mặt
khác, sự soi sáng theo hướng trái nghịch giống như cuộc
giải phẫu nghiêm trọng. Nếu một người có thể chịu đựng
phương pháp nghiêm trọng này, người ấy sẽ hoàn toàn thay
đổi nhân sinh của mình nhờ phương pháp ấy. Tuy nhiên, soi
sáng theo hướng trực tiếp có hiệu quả hơn trong phần lớn
các trường hợp vì như từ “trực tiếp” nêu tỏ, cách
thức này theo cái dòng tự nhiên của sự tỏ ngộ của con
người và thích hợp với sự vận hành bình thường của
tâm lý con người. Sự khen ngợi không phải là không thích
hợp với mọi người. Một cảm giác hạnh phúc khiến một
người mở cửa sổ tâm hồn mình để cho ánh sáng ấm áp
ùa vào. Thế rồi Phật tính trong tâm người ấy bắt đầu
hoạt động.
Ở Nhật,
trong thời tiền chiến, trẻ con được giáo dục bằng sự
quở mắng, bằng giáo dục soi sáng theo hướng trái nghịch.
Nhưng sau Thế chiến thứ II, giáo dục chuyển sang sự dạy
dỗ bằng ngợi khen, tức là giáo dục soi sáng theo hướng
trực tiếp. Sở dĩ như thế là vì người ta đã hiểu được
rằng khen ngợi thì có hiệu quả hơn là trừng phạt trong
việc phát triển thể cách của trẻ em và rút ra những khả
năng đặc biệt của chúng. Mặt khác, một khuynh hướng nuôi
dạy trẻ một cách nuông chiều đã phát triển khiến cho sự
giáo dục soi sáng theo hướng trực tiếp trở nên quá đáng.
Đôi khi cũng cần phải huấn luyện tâm thức trẻ em bằng
cách giáo dục soi sáng theo hướng trái nghịch.
Mọi người
đều cảm thấy hài lòng khi được khen ngợi, nhưng những
người trưởng thành vốn đã mất đi sự trong sáng của tâm
thức thì trước tiên họ cảm thấy khó chịu khi được khen,
như thể là họ bị tâng bốc. Sự hiểu nhầm này có thể
được xua tan nếu sự khen ngợi thực sự đến từ trong lòng
người khen ngợi. Sự khen ngợi chân thật như thế sẽ dần
mở cánh cửa sổ tâm hồn của người ta dù có thể nó đã
bị đóng chặt.
Cũng có thể
nói như thế về những người được Bồ-tát Thường Bất
Khinh kính lễ và tán thán. Trong số ấy có những người nổi
giận vì lời nói của Bồ-tát, nhục mạ, chưởi mắng hoặc
đánh đập, ném đá ngài. Nhưng ngài không hề tức giận vì
sự thô bạo của họ mà vẫn nhiều năm kiên trì, cứ mãi
lặp lại những sự việc như thế. Thái độ thiết tha của
ngài dần dần làm mềm lòng những người đã khinh miệt ngài.
Bằng chứng
của điều này là sự việc những người đối nghịch ngài
đã tặng ho ngài biệt danh Thường Bất Khinh. Nếu họ đã
không có cảm giác thân thiện nào đối với ngài, họ cũng
đã cho ngài một biệt danh. Trước hết, những người kiêu
mạn giận dữ đối với ngài, bảo rằng “Hắn sỉ nhục
chúng ta” hoặc “Hắn xen vào việc của chúng ta”. Nhưng
dần dần họ thay đổi thái độ đối với Thường Bất Khinh
và xem ngài chỉ như một kẻ kỳ dị và nghĩ: “Anh ta không
hề nóng giận dù cả khi bị ném đá hay bị đánh đập. Anh
ta cứ mãi kính lễ và tán thán chúng ta rằng "Tôi không dám
khinh thường quý ngài". Quả thực anh ta là một anh bạn đặc
biệt.” Họ đã trở thành quen với ngài, và đồng thời
họ bắt đầu mơ hồ chú ý đến sự cao cả của Thường
Bất Khinh mà miễn cưỡng chấp nhận “Có cái gì đó cao
vời nơi vị Tỳ-kheo này.” Sự kiên nhẫn của Thường Bất
Khinh cuối cùng đã khiến họ bắt đầu cảm thấy kính nể.
Một giáo
lý rất quan trọng được nêu trỏ qua hạnh của vị Bồ-tát
này. Khi một người lặp lại một hành động kỳ lạ là
kính lễ mọi người mà mình gặp, giống như một kẻ ngu
phán đoán mọi sự theo điều độc nhất mà mình biết, và
nếu người ấy thực hiện một hành động như thế một
cách tận tình và cứ kiên trì lặp lại nó mà không ngại
bất cứ sự ngược đãi nào mà mình có thể phải chịu nhận,
thì cuối cùng hành động của người ấy không thể không
khiến những người khác xúc động và khởi lòng kính nể.
Vì những người kiêu mạn bắt đầu cảm thấy kính nể Thường
Bất Khinh nên khi ngài thực hiện giáo lý kinh Pháp Hoa cho chính
ngài và giảng kinh này cho họ thì tất cả họ đều tin và
theo ngài.
Một tu sĩ
Phật giáo Nhật Bản, Zenkai, vào khoảng năm 1750 đã hoàn tất
công việc một mình đào một đường hầm dài khoảng 185
mét xuyên qua một đồi đá tại đèo Yabakei, Kyùshù sau ba
mươi năm nỗ lực. Ông đã khởi sự kế hoạch nhằm làm
cho dân làng qua đèo được an toàn. Đầu tiên ông bị đối
xử như một người mất trí và bị ngược đãi đủ cách.
Tuy vậy, ông chẳng để ý gì mà vẫn kiên trì tiếp tục
đào hầm xuyên qua ngọn đồi đá. Thái độ hăng say và bền
bỉ làm việc của ông cuối cùng đã gây một ấn tượng
sâu xa đối với dân làng đến nỗi họ tình nguyện giúp
đỡ ông.
Đã có nhiều
trường hợp làm đường, khai khẩn đất hoang, đào mương
tưới nước nhằm làm lợi cho những người khác đã được
thực hiện bằng cùng một loại kinh nghiệm như nhau. Những
thí dụ này dạy cho ta một bài học giá trị về những thành
quả lớn lao đạt được từ việc làm một điều tốt một
cách hết lòng với một sự kiên trì bất khuất khi đối
mặt với mọi trở ngại.
HAI BÀI HỌC
QUAN TRỌNG:
Giáo lý quan
trọng kế tiếp trong chuyện Bồ-tát Thường Bất Khinh được
diễn tả trong hai câu sau đây: “Mỗi khi vị ấy bảo như
thế, người ta lấy gậy, hèo mà đánh, lấy gạch đá mà
ném vị ấy. Nhưng trong khi tránh xa ra, vị ấy cũng vẫn la
lớn: "Tôi không dám khinh thường quý ngài. Tất cả quý ngài
đều sẽ thành Phật."“ Chúng ta có thể học được hai bài
học từ đoạn văn ngắn này. Bài học thứ nhất là Thường
Bất Khinh chạy tránh xa khỏi những người tấn công ngài
khi họ dùng bạo lực chống lại ngài. “Thường Bất Khinh
không bao giờ mất bình tĩnh ngay cả khi ngài bị gậy đánh
gắt đến gãy tay hay bị đá ném đến vỡ trán.” Thái độ
như thế có thể gợi được lòng khoan dung nhiều hơn ở một
số người. Nếu thế thì có thể gây lý do cho họ hiểu nhầm
ý nghĩa của thuật ngữ Phật giáo bất tích thân mạng (fushaku
shimmyò), nghĩa là “không tiếc mạng sống của mình vì Pháp”
hay “giảng Phật pháp dù có phải hy sinh mạng sống của
mình.”
Nếu ta hiểu
được ý nghĩa thực sự của bất tích thân mạng thì ta biết
rằng đấy là ta phải tận tụy với Pháp hơn tất cả mọi
thứ khác. Khi chúng ta tận tụy với Pháp thì trước tiên
chúng ta phải lưu tâm đến sự thọ trì Pháp, triển khai và
quảng bá Pháp bằng bất cứ phương tiện nào có thể có
được. Do đó chúng ta loại trừ cái ý tưởng nhỏ nhen rằng
chúng ta phải hổ thẹn vì bỏ chạy. Nếu chúng ta quyết định
“Tôi sẽ sống càng lâu càng tốt và tôi sẽ kiên trì giảng
Pháp mãi mãi”, thì chúng ta sẽ tìm cách thoát chạy ngay khi
chúng ta đối mặt với hiểm nguy.
Đây là một
bài học đặc biệt quan trọng cho nhân dân Nhật Bản. Họ
hình như thiếu tôn trọng mạng sống của con người. Họ
có xu hướng xem nhẹ mạng sống của mình. Trong Thế chiến
thứ II, mạng sống của nhiều quân nhân đã mất đi một
cách vô ích do bởi những ý tưởng “không đầu hàng” hay
“chết vì danh dự” như trong các cuộc tấn công tự sát
của các không quân Kamikaze. Sự phung phí đáng tiếc này phát
sinh từ thành kiến của quân đội Nhật xem trốn chạy là
hèn hạ và đầu hàng là sự nhục nhã lớn lao nhất. Những
nhà lãnh đạo chiến tranh của Nhật đã không linh động mà
hiểu rằng người thắng cuộc trong trường kỳ là người
chiến thắng thực sự dù người ấy đã phải một lần tháo
chạy. Thay vì như thế, họ lại buộc các binh sĩ xông vào
kẻ thù một cách táo bạo. Các nhà lãnh đạo chiến tranh
phải xấu hổ về điều này.
Trái lại,
tướng Douglas Mac Arthur, tư lệnh tối cao của quân đội Mỹ
tại Philippine khi Thế chiến thứ II bùng nổ, đã rút các
lực lượng của mình ra khỏi Manila để đến Bán đảo Bataan
khi ông bị quân đội Nhật đánh bại. Khi Corregidor thất thủ,
ông chạy thoát bằng một chiếc ngư lôi hạm lên vùng Bắc
đảo Mindanao, rồi từ đó ông bay sang Darwin, Úc. Rõ ràng là
ông chạy thoát khỏi Philippine mà về sau ông tấn công vào
quân Nhật và cuối cùng đích thân chiếm Nhật Bản.
Tuy nhiên,
ngày xưa, dân Nhật hình như không có thành kiến về tính
không đầu hàng. Chẳng hạn, khi Kusunoki Masashige, một tướng
quân của thế kỷ mười bốn, cùng với binh đội cố thủ
thành Akasaka, rồi bị lực lượng lớn của tướng đối nghịch
là Ashikaga Takauji vây hãm, Kusunoki vội thoát chạy khỏi thành
với mưu định sẽ thực hiện một trận chiến khác. Có thể
rằng ông đã nắm được ý niệm về tầm quan trọng của
tính uyển chuyển của Phật giáo vì ông ta là một tín đồ
Phật giáo. Do ông chạy thoát khỏi thành Akasaka nên ông đã
có thể quấy phá được lực lượng đối nghịch trong những
trận chiến khác.
Lãnh chúa
Shimazu Yoshihiro nhận ra sự thất bại tất yếu trong trận
chiến Sekigahara giữa hai bộ tộc đối nghịch nhau là Toyotomi
và Tokugawa năm 1600, đã chọc thủng phòng tuyến của địch
mà thoát về lãnh địa của mình, tỉnh Satsuma ở Kyùshù.
Do ông đào thoát được mà bộ tộc của ông trở nên mạnh
mẽ đến nỗi về sau phe tướng quân Tokugawa phải công nhận
sự vượt trội của nó và nó còn tạo ra động lực đưa
đến thành công trong công cuộc duy tân của Meiji (Minh Trị)
vào năm 1868, lật đổ chế độ Tokugawa. Shimazu Yoshihiro cũng
là một tín đồ Phật giáo thuần thành.
Kể cũng
khá lạ, không có người Nhật nào khinh rẽ Kusumoki Masashighe
hay Shimazu Yoshihiro mà xem họ như kẻ hèn nhát. Ai cũng xem việc
thoát chạy của họ thay vì chết vô ích là tốt. Khi nào và
tại sao người Nhật đánh mất tính uyển chuyển của họ
trong lối suy nghĩ và hành động ? Có phải sự cứng nhắc
này là do ảnh hưởng của Khổng giáo vốn từ Trung Quốc
du nhập vào Nhật Bản chậm hơn Phật giáo ? Thế nhưng Khổng
giáo dạy ta tôn trọng sự sống của con người như được
tỏ lộ trong câu nói: “Người quân tử không bao giờ chuốc
lấy hiểm nguy”. Nếu không thì có phải ý tưởng xem nhẹ
nhân mạng là đặc biệt của người Nhật ? Bằng chứng lịch
sử không cho phép ta vội kết luận như thế. Chúng ta phải
kết luận rằng một tính cách như thế vào một lúc nào đó
được ghi khắc bởi một triết lý cai trị dù không chắc
chắn là khi nào. Sự nghiên cứu có tính cách kinh viện về
vấn đề này hẳn sẽ rất có ích cho việc giải thích đặc
tính này của người Nhật Bản. Đây là một vấn đề rất
quan trọng. Một xu hướng rõ ràng nhằm đẩy mạnh các cuộc
đấu tranh chính trị và kinh tế bằng sự trông cậy vào bạo
động đã xuất hiện trong những năm gần đây, và những
cuộc biểu tình, đình công của các liên đoàn lao động có
chiều hướng xấu đi. Phân tích cho cùng, một khuynh hướng
như thế phát sinh từ sự thiếu uyển chuyển về tâm thức.
Cây liễu
uốn cong khi có gió và không bị gãy dù cây trông có vẻ mảnh
mai. Một cành sồi, trái lại, có thể bị gãy trong một trận
bão dù cây có vẻ cứng cáp. Đối với người Nhật - và
đối với mọi người ở mọi nơi - việc bồi dưỡng tính
uyển chuyển của tâm thức để xây dựng một quốc gia vững
mạnh hơn há không phải là có tầm quan trọng hàng đầu hay
sao ? Tôi tin rằng một sự lĩnh hội thực sự về Phật giáo
là con đường ngắn nhất và tốt nhất để thành tựu điều
này. Sở dĩ như thế là vì Phật giáo dạy ta một cách rõ
ràng cái nguyên lý về tính uyển chuyển của tâm, theo đó,
bất cứ tín đồ nào của Phật giáo đều phát triển cái
tâm uyển chuyển. Cuộc đời của Bồ-tát Thường Bất Khinh
minh họa con người lý tưởng sống theo cách này.
Một quan
điểm quan trọng khác trong chuyện Thường Bất Khinh là dù
Bồ-tát có chạy tránh sự ngược đãi về thân thể, ngài
vẫn giữ chặt niềm tin và không bao giờ chối bỏ chân lý.
Ở đây có sự khác biệt giữa sự yếu kém tinh thần với
tính uyển chuyển. Một người yếu tinh thần sẽ dễ dàng
từ bỏ niềm tin của mình khi bị một áp lực nhỏ từ bên
ngoài. Nhưng một tín đồ thực sự vẫn giữ niềm tin của
mình và tiếp tục tôn trọng chân lý dù cho có xảy ra điều
gì đi nữa. Mục đích của sự việc có một cái tâm uyển
chuyển chính là trung thành với chân lý cho đến cuối cùng.
Bồ-tát Thường Bất Khinh không bao giờ ngưng hạnh Bồ-tát
là làm hiển lộ Phật tánh của những người khác bằng cách
kính lễ Phật tính ấy dù cho có phải thoát chạy khi thân
thể bị ngược đãi. Cuối cùng, ngài đã khiến những người
ngược đãi ngài phát hiện Phật tính của chính họ. Một
người như thế có thể được gọi là can đảm thực sự.
Bồ-tát Thường
Bất Khinh đạt được một trạng thái tâm thức rất cao dù
chỉ bằng một hạnh đơn lẻ là khai mở Phật tính của những
người khác bằng cách lễ kính Phật tính ấy. Do đó, khi
ngài sắp tịch, từ hư không, ngài nghe kinh Pháp Hoa mà đức
Phật Oai Âm Vương ngày xưa đã giảng. Biểu ngữ “từ hư
không ngài nghe” nghĩa là ngài nghe tiếng của đức Phật
vang trong tâm ngài; nói một cách khác, ngài thể nghiệm chân
lý cho chính ngài. Bảo rằng ngài thể nghiệm chân lý cho chính
ngài nghe ra có vẻ thần bí, chứ thực ra, chân lý có thể
được khám phá bởi bất cứ ai.
Chân lý hẳn
đã từng hiện hữu từ quá khứ vĩnh hằng nếu nó thực
sự là chân lý. Phẩm 20 của kinh khẳng định rằng đức
Oai Âm Vương Như Lai ngày xưa đã thể nghiệm và thuyết giảng
chân lý, nhưng chân lý đã không hiện hữu như là một giáo
lý trên cõi đời này vào thời mà Bồ-tát Thường Bất Khinh
sống. Tuy nhiên, vì chân lý là vĩnh cửu và bất diệt nên
khi một người xuất chúng xuất hiện trên đời này, người
ấy có thể tái phát hiện chân lý. Bồ-tát Thường Bất Khinh
là một người như thế.
Một số
người có thể nghĩ rằng câu chuyện này chẳng có ý nghĩa
gì đối với thời đại của chúng ta, khi các phương tiện
truyền thông thật là tinh vi. Nhưng một ý niệm như thế chỉ
đặt căn bản trên một quan điểm thiển cận. Suốt lịch
sử vũ trụ từ thời xa xăm, một cái gì đó giống như nền
văn hóa hiện nay của con người hẳn đã xuất hiện và biến
mất thường xuyên hơn là chúng ta có thể tưởng tượng.
Nếu một cuộc chiến tranh hạt nhân xảy ra, nền văn hóa
hiện nay của chúng ta sẽ bị hủy diệt cùng với mọi thứ
khác. Một đời sống mới và khốc liệt sẽ thực sự phát
sinh, có lẽ sau hàng trăm ngàn hay hàng trăm triệu năm, sớm
hay muộn gì cũng sẽ phát triển nền văn hóa riêng của nó.
Nhìn sự
sống của vũ trụ từ thời xa xăm như thế, chúng ta không
lấy làm lạ rằng nhiều đức Oai Âm Vương Như Lai đã từng
thuyết giảng chân lý và rằng Bồ-tát Thường Bất Khinh đã
thể nghiệm chân lý ấy cho chính ngài khi ngài sắp tịch.
KIÊN TRÌ
LẶP ĐI LẶP LẠI VIỆC HỌC TẬP VÀ THUYẾT GIẢNG:
Bồ-tát Thường
Bất Khinh được khuyến khích kéo dài thọ mạng dù ngài sắp
tịch như thế nào ? Đây là một bài học lớn cho chúng ta.
Bồ-tát Thường Bất Khinh đã thể nghiệm cho chính mình giáo
lý kinh Pháp Hoa. Do vì hết lòng tin giáo lý ấy, ngài kéo dài
thọ mạng thêm hai trăm vạn ức na-do-tha năm nữa. Suốt thời
gian dài này, ngài rộng giảng kinh Phaùp Hoa. Không những ngài
đã thực hành hạnh Bồ-tát căn bản là lễ bái những người
khác mà ngài còn thuyết giảng Phật pháp một cách kỹ càng.
Theo cách này, ngài đã thăng tiến lên nhiều cấp độ trong
Bồ-tát hạnh. Thế rồi ngài soi tỏ cho những kẻ kiêu mạn
ngày xưa đã đả kích ngài. Sau khi thọ mạng tự nhiên của
ngài chấm dứt, ngài đã gặp hai ngàn ức đức Phật. Ngài
lễ bái, cung kính và tán thán chư Phật này và thuyết giảng
kinh Pháp Hoa dưới Pháp trướng của chư vị. Do như thế,
ngài lại gặp hai ngàn ức đức Phật và dưới Pháp trướng
của chư vị, ngài cũng giảng kinh này. Do như thế, ngài đạt
được sự thanh tịnh về mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý,
và thuyết Pháp mà không sợ hãi trong tứ chúng - tức là,
trong mọi loại người.
Sau khi đã
vun trồng các thiện căn như thế, ngài lại gặp một số
lớn chư Phật và cũng dưới trướng của chư vị mà ngài
giảng kinh Pháp Hoa; do bởi các công đức này, ngài lại gặp
một số lớn chư Phật và cũng được chư vị giáo hóa. Theo
cách này, ngài cứ lặp đi lặp lại vô số lần việc tu tập
của chính mình về Phật pháp và khiến những người khác
cũng tu tập như thế. Khi các công đức của ngài đã toàn
hảo, ngài trở thành một vị Phật.
Sự lớn
lao của cuộc đời tu hành của Bồ-tát Thường Bất Khinh
chính là cái tinh thần quả cảm mà nhờ đó ngài không bao
giờ lùi bước cứ kiên trì cho đến khi ngài hoàn toàn thành
tựu bổn nguyện của mình. Tinh thần của ngài không phải
là táo bạo, thô tháp mà là cẩn trọng, bền bỉ. Ngài bước
chân trên con đường đưa đến sự chứng đắc Phật quả
bằng cách học và hành, hành và học, nhằm để kiên trì
tinh tấn, tức là, nhờ cứ lặp đi lặp lại việc chính mình
tu tập Phật pháp và khiến những người khác tu tập Phật
pháp.
Chúng ta cần
theo con đường của ngài từng bước một. Chúng ta hoàn toàn
có thể đi vào con đường đưa đến Phật quả bằng cách
thực hiện chỉ một hạnh Bồ-tát. Nếu chúng ta toàn tâm
thực hiện một hạnh, chúng ta có thể lĩnh hội nhiều chân
lý phát xuất từ một chân lý này. Và chúng ta không giới
hạn sự lĩnh hội của chúng ta vào chúng ta mà phải giảng
ra cho tất cả mọi người. Do giảng chân lý ấy như thế,
chúng ta có được những công đức của nó đồng thời làm
cho sự hiểu biết của chúng ta ngày càng thâm sâu hơn. Nói
một cách khác, chúng ta liên tục gặp vô số vị Phật. Hễ
khi nào gặp những đức Phật (chân lý) mới, chúng ta đảnh
lễ giáo lý của chư vị, tôn kính và tán thán, đồng thời
thuyết giảng giáo lý ấy cho mọi người. Do như thế, chúng
ta gặp lại thêm nhiều vị Phật (chân lý) nữa. Qua loại
lặp đi lặp lại này, chúng ta có thể dần dần đạt đến
cấp độ tâm thức của một vị Phật. Chính đức Phật Thích-ca-mâu-ni
đã xác chứng điều này bằng cách nêu lên một gương tốt.
Ngài đã khai thị điều này khi Ngài bảo: “Bồ-tát Thường
Bất Khinh bấy giờ có thể là ai khác ? Vị ấy chính là Ta
đây vậy.” Bằng cách khai thị điều này, Ngài nêu tỏ rằng
sống theo cách của Bồ-tát Thường Bất Khinh là cách đúng
đắn để trở thành một vị Phật.
Như đã nêu
ở phần đầu phẩm, sự khai thị này hẳn phải khích lệ
lớn lao cho những ai đã thối chí trong đời sống tu hành
của họ. Một số người có thể cảm thấy rằng: “Ta không
thể giảng Pháp cho những người khác vì chính ta chưa hoàn
toàn hiểu Pháp.” Nhưng nếu chỉ cần họ hiểu cái nguyên
lý của đời sống tu hành - chúng ta chỉ cần giảng Pháp
theo như chúng ta đã học với mức tối đa của khả năng
chúng ta; thì chúng ta càng thường hay giảng Pháp, chúng ta
càng làm sâu sắc sự hiểu Pháp của chúng ta; chúng ta có
thể từng bước tiến đến sự toàn hảo về tính cách của
chúng ta nhờ cứ kiên trì lặp đi lặp lại việc học tập
và thuyết giảng - rồi thì chúng ta sẽ được khích lệ lón
lao.
Chúng ta chớ
quên những lời quan trọng ở đầu phẩm này: “Khi trông
thấy từ xa một vị trong tứ chúng, vị ấy liền đến lễ
bái, tán thán...” Đây là cái tinh thần ta cần có khi ta giảng
Pháp cho những người khác. Ta chớ mang thái độ thụ động
rằng ta sẽ dạy Pháp cho những người khác khi họ đến ta
để nghe Pháp hay khi ta gặp dịp. Trái lại, ta phải có một
thái độ tích cực chủ động đón nhận người khác và giảng
Pháp cho họ. Đây là thái độ của một vị Bồ-tát thực
sự muốn cứu độ người ta khỏi khổ đau. Bồ-tát Thường
Bất Khinh đã dám thực hiện Bồ-tát hạnh như thế. Trước
tiên, ngài là mối phiền toái cho tất cả những người kiêu
mạn vì hạnh kiên nhẫn của ngài và vì ngài khiến họ nổi
giận, nhưng cuối cùng họ ghi nhận sự chân thành của ngài.
Chúng ta có thể học tập nhiều ở thái độ tích cực của
vị Bồ-tát trong sự nghiệp truyền giáo của ngài.
Chúng ta cũng
cần phải lưu ý cẩn thận câu sau đây: “Bấy giờ bốn
chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di do tâm sân
hận mà khinh thường Ta cho nên suốt hai trăm ức kiếp, họ
không bao giờ gặp được một vị Phật, không bao giờ được
nghe Pháp, không bao giờ được trông thấy Tăng, và suốt trong
một ngàn kiếp phải chịu đại khổ não trong địa ngục
A-tỳ.” Từ đây chúng ta hiểu thế nào là hình phạt do từ
chối Phật pháp. Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý rằng đoạn
văn này không bảo rằng một vị thần hay một vị Phật sẽ
giáng hình phạt nào lên con người. Đoạn văn nói lên như
sau: khi những người kiêu mạn với tâm sân hận khinh thường
một người theo đuổi Bồ-tát hạnh cao cả nhằm khai phát
Phật tính của những người khác, thì trong hai trăm ức kiếp
không bao giờ họ có thể gặp một vị Phật, không bao giờ
có thể nghe Pháp và không bao giờ có thể trông thấy một
tín giả của Phật pháp. Hình phạt như thế không do ai giáng
đặt nên cả; những người này không bao giờ gặp một vị
Phật vì những con mắt của tâm họ bị khép lại, và không
bao giờ nghe Pháp vì tai họ bị che phủ. Do như thế, họ không
thể dập tắt ngọn lửa ảo tưởng đang cháy trong tâm họ
và suốt một ngàn kiếp họ chịu đựng những khổ đau trong
địa ngục A-tỳ. Đức Phật không bao giờ đặt để hình
phạt nào lên con người mà luôn luôn cứu độ họ với lòng
đại từ bi. Nếu họ không muốn thấy đức Phật hay một
người truyền bá Phật pháp thì Ngài không bao giờ ép buộc
họ phải được cứu độ, Ngài vẫn im lặng chờ đợi cho
đến khi đúng lúc, khi thời gian tiêu diệt nghiệp của họ
sẽ đến.
Dù ác nghiệp
của một người có thể thế nào đi nữa, nếu người ấy
trải qua những đại khổ não trong một thời gian lâu dài
do bởi ác báo của ác nghiệp ấy, thì ác nghiệp ấy cũng
sẽ tiêu biến đi, đền bù cho những đại khổ não của người
ấy. Mắt tâm của người ấy chắc chắn sẽ mở ra vào lúc
ác nghiệp tiêu biến đi. Sở dĩ như thế là vì người ấy
bị phiền não quấy động đã lâu, và vì người ấy ấp
ủ ước mong đáp ứng một cái gì đó tuyệt đối và phát
sinh lòng khát khao hy vọng vào đấy. Tóm lại, người ấy
nhận thức được Phật tính của chính mình. Điều này được
nêu tỏ trong câu sau đây: “Sau khi sạch hết tội lỗi, họ
lại gặp Bồ-tát Thường Bất Khinh và được Bồ-tát giáo
hóa đưa họ đến Giác ngộ Toàn mãn.” Theo như thế, một
khi một người tiếp cận được với Phật pháp thì cuối
cùng thế nào người ấy cũng được cứu độ thoát khỏi
khổ đau.
Trong một
đời sống trước kia, những người kiêu mạn được Bồ-tát
Thường Bất Khinh dạy về sự hiện hữu của Phật tính của
họ. Nhưng vì họ không chịu nghe nên không chấp nhận lời
dạy của ngài, họ đã trải qua một thời gian khổ đau lâu
dài. Sau đó, họ nhận thức được sự hiện hữu của Phật
tính trong tâm họ. Kết quả là, họ đã có thể bước vào
con đường cứu độ. Nếu xưa kia họ đã không được Bồ-tát
Thường Bất Khinh dạy rằng họ vốn có Phật tính thì họ
phải ra sao ? Hẳn họ phải mãi mãi không thể thoát khỏi
khổ đau.
Chúng ta chớ
quên rằng dù cho một người thuộc loại gì đi nữa thì kính
trọng Phật tính của người ấy, dạy cho người ấy biết
Phật tính ấy là hiện hữu sẽ tạo cho người ấy một công
đức lớn và sẽ đưa người ấy đến giải thoát trong tương
lai. Đây là giáo lý quan trọng nhất của phẩm này.
Trong phần
cuối phẩm, đức Phật trùng tuyên giáo lý của Ngài bằng
kệ. Đoạn kệ kết thúc này quan trọng đến nỗi chúng ta
cần tụng thuộc lòng nếu như có thể được. Người đọc
sẽ hiểu được ý nghĩa của phần kệ nếu nắm chắc được
nội dung của phần văn xuôi. Ở đây chỉ giải thích những
phần câu có ý nghĩa đặc biệt. “Lãnh đạo mọi chúng sanh”
(Tương đạo nhứt thiết) nghĩa là một vị Phật danh hiệu
là Oai Âm Vương sẽ lãnh đạo tất cả chúng sanh.
“Lúc bấy
giờ bốn chúng / Chuyên chăm vào sự vật” (Thời ư tứ chúng
/ Kế trước ư pháp), nghĩa là bốn chúng chỉ chuyên nghiên
cứu phần tích Pháp (luật), tức là họ không để ý học
cái tinh thần của Pháp (luật) mà chỉ chuyên chú vào nghi
thức. Chỗ này có cùng nghĩa với “Các chúng chấp sự vật”
(Chư trước pháp chúng). “Nam nữ tín thanh tịnh” (Thanh tín
sĩ, nữ) trỏ đến các nam và nữ cư sĩ.