Phẩm
18
TÙY
HỶ CÔNG ĐỨC
Phẩm này
giảng kỹ hơn về những công đức của sự hoan hỷ đầu
tiên đối với giáo pháp của đức Phật. Lý do khiến các
công đức như thế được giảng đi giảng lại là sự việc
chúng ta hoan hỷ chấp nhận Phật pháp, chúng ta cảm thấy
niềm tri ân sâu đậm đối với Phật pháp là rất cần thiết
cho sự tín thành. Dù cho chúng ta đã đọc nhiều kinh và đã
ghi nhớ mọi giáo thuyết, nhưng hễ chừng nào chúng ta không
chấp nhận giáo pháp của đức Phật bằng niềm hoan hỷ tự
đáy lòng thì điều ấy chỉ có nghĩa rằng chúng ta có tri
kiến về Phật giáo chứ không phải là chúng ta tin vào đức
Phật. Có sự hoan hỷ chấp nhận Phật pháp là có niềm tin
vào Phật pháp. Do đó mà những công đức chúng ta đạt được
do hoan hỷ chấp nhận giáo pháp của Ngài được giảng đi
giảng lại trong chương này.
Sự tín thành
thường được nói là để nhân lên: đối tượng của sự
tín thành được nhân lên bởi cái tâm tín thành. Tuy
nhiên, dù cho đối tượng của sự tín thành là cái hoàn hảo
nhất trên đời thì hiệu quả của nó cũng không thể xuất
hiện ở một người có thái độ sai lầm trong sự tin tưởng
và có sự tín thành ở mức độ thấp. Ví dụ như giáo lý
của đức Phật bằng với con số một trăm. Nếu sự hoan
hỷ thọ nhận Phật pháp của một người là số không thì
một trăm được nhân cho số không sẽ bằng số không. Đồng
thời, dù cho cảm thọ tôn giáo của một người có thể là
mạnh, kết quả cũng sẽ chẳng có giá trị gì đối với
người ấy nếu như đối tượng tín thành của người ấy
là trống không, vì số không được nhân cho một trăm cũng
bằng số không. Dù cho một người có tha thiết tin vào một
đối tượng trống rỗng thế nào đi nữa, kết quả cũng
sẽ là không gì cả. Nếu anh ta tin tưởng vào một giáo lý
sai lạc thì dĩ nhiên là điều này sẽ đưa đến một kết
quả xấu hay khổ đau. Nếu giáo lý tự nó là một tôn giáo
xấu bằng với giá trị âm của trừ một (-1), ví như ý thức
tôn giáo của một người bằng một trăm thì trừ một (-1)
nhân cho một trăm sẽ bằng trừ một trăm (-100). Hiệu quả
âm như thế sẽ xuất hiện ở tín giả vì giáo lý tự nó
vốn có một giá trị âm. Từ phép nhân đơn giản này, ta
có thể dễ dàng hiểu hậu quả của niềm tin mù quáng vào
một tôn giáo tệ hại sẽ ghê gớm như thế nào.
Giáo lý của
kinh Pháp Hoa có thể được ví với một số dương vô cùng
lớn. Hãy giả dụ rằng kinh là con số một trăm. Nếu một
người tin tưởng sâu sắc ở kinh bằng một ý niệm đơn
lẻ, đồng thời cảm thọ một sự biết ơn đối với kinh,
và nếu cái ý niệm đơn lẻ ấy về kinh được xem là bằng
một thì ở người ấy sẽ có một kết quả mang số dương
lớn vì một nhân cho một trăm thì bằng một trăm.
Nếu sự
hoan hỷ đầu tiên đối với giáo lý của đức Phật là quan
trọng đối với một tín giả thì các công đức sẽ là vô
lượng khi cảm thọ tôn giáo của người ấy tăng đến giá
trị hai, năm, mười, và một trăm.
Bấy giờ
Bồ-tát Ma-ha-tát Di-lặc bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn
! Nếu có một thiện nam tử hay một thiện nữ nhân nghe rồi
hoan hỷ chấp nhận kinh Pháp Hoa này thì người ấy sẽ được
hỷ lạc như thế nào ?”
Chắc chắn
Bồ-tát Di-lặc vốn đã hiểu thế nào là hạnh phúc của
một người hoan hỷ thọ nhận kinh Pháp Hoa. Nhưng vốn
được xem là hình ảnh lý tưởng hóa của lòng từ bi của
đức Phật, ngài hỏi câu này nhằm khiến cho mọi chúng sanh
hữu tình càng tin tưởng sâu xa hơn; ngài xin đức Phật giảng
kỹ hơn về những công đức của sự hoan hỷ chấp nhận
cho những người có trình độ lĩnh hội cònthấp.
Thế rồi
đức Phật bảo Bồ-tát Di-lặc: “Này A-dật-đa ! Sau khi Như
Lai diệt độ, nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di
hoặc người có trí, già hay trẻ, nghe kinh này mà hoan hỷ
chấp nhận, rời khỏi hội chúng mà đến nơi khác hoặc trú
tại tinh xá hoặc tại nơi vắng vẻ, hoặc ở thành phố,
đường sá, xóm làng, rồi tùy theo khả năng của mình mà
thuyết giảng đúng như mình đã nghe cho cha mẹ - thân nhân,
bạn bè, quen biết; và tất cả những người này khi đã nghe
xong, hoan hỷ chấp nhận, rồi lại tiếp tục truyền bá giáo
pháp; rồi những người khác nữa sau khi nghe và cũng hoan hỷ
chấp nhận và truyền bá giáo lý, và cứ thế cho đến người
thứ năm mươi - Này A-dật-đa ! Bây giờ Ta nói cho Ông biết
về công đức của người thiện nam tử hay thiện nữ nhân
thứ năm mươi ấy, người đã hoan hỷ thọ nhận chân lý.
Ông nên nghe cho kỹ !”
BA ĐIỂM
QUAN TRỌNG:
Những lời
dạy trên của đức Phật bao gồm ba điểm quan trọng. Trước
hết là nhóm từ “như mình đã nghe”. Đối với một
người mới nhập môn, đã nghe giáo lý, điều quan trọng nhất
là truyền giáo lý ấy cho những người khác đúng như mình
đã nghe. Nếu người ấy bỏ qua mà không làm như thế thì
có sự nguy hại là người ấy truyền sai lạc điểm ách yếu
của giáo lý cho người khác. Truyền đúng giáo lý xem ra là
một việc đơn giản, nhưng việc này khó hơn là người ta
nghĩ, như được nêu trỏ trong thử nghiệm sau đây của các
nhà xã hội học. Một số người được xếp thành một hàng
dọc. Người đứng đầu hàng thì thầm kể một câu chuyện
ngắn vào tai của người kế tiếp, và cứ thế câu chuỡện
được truyền từ người này đến người khác cho đến người
đứng cuối hàng. Ví dụ như câu chuyện ngắn ấy như sau:
“Cô Mận tình cờ đi ngang qua đúng lúc anh Mít và anh Xoài
đang cãi nhau. Cô cho rằng Mít đang thắng Xoài, Xoài đỏ hừng
cả mặt, đang nhìn chăm vào Mít, còn mặt Mít thì tái”.
Dù một câu chuyện ngắn như thế nhưng khi được truyền
đi chỉ trong mười người, nó cũng đổi khác đi một cách
lạ lùng. Nếu câu chuyện có thay đổi đôi chút ở một số
điểm mà mỗi người truyền đi thì cũng không là vấn đề
gì quá đáng. Nhưng trong nhiều trường hợp, câu chuyện trở
nên hoàn toàn khác hẳn, như Xoài thắng Mít hay mặt của Mít
thì đỏ rực bừng không phải mặt của Xoài đỏ bừng.
Tại sao một
câu chuyện dù ngắn như thế mà cũng bị thay đổi khi được
truyền đi bằng miệng trong một nhóm nhỏ ? Đó là vì có
một người nghe lầm câu chuyện, một người khác thì nhớ
nó không đúng và bỏ sót một điểm nào đó khi kể lại,
và những người khác thì đưa vào câu chuyện những diễn
dịch của riêng họ, do đó mà câu chuyện càng lúc càng xa
khác với nguyên trạng của nó. Những ý kiến chủ quan quả
là một trở ngại thường gây ra sự nghe nhầm và những sơ
suất của trí nhớ. Chẳng hạn, nếu ta có tiên kiến rằng
một người bị thua đối thủ thì phải có một bộ mặt
tái xanh thì có thể ta sẽ nghe nhầm rằng “Mặt của Xoài
thì tái” và sẽ nhớ nhầm câu chuyện theo như thế.
Nếu giáo
lý của đức Phật bị truyền bá một cách sai lạc như thế
thì sẽ có những hậu quả nghiêm trọng cho nhiều người.
Do đó, đức Phật nhắc nhở chúng ta “như mình đã nghe”.
Một người đã nắm được những ách yếu của giáo lý hẳn
sẽ được phép giảng giáo lý theo nhiều cách khác nhau; thật
vậy, đối với người ấy, thay đổi cách thuyết giảng tùy
theo khả năng của người nghe là điều tự nhiên. Nhưng một
người mới nhập môn thì đừng quên điều nhắc nhở của
đức Phật.
Ở đây tưởng
cũng cần lưu ý rằng các đệ tử của đức Phật hết sức
chú tâm đến vấn đề truyền bá giáo lý một cách trung thực.
Năm trăm đệ tử đầu đàn của Ngài đã tụ hội tại Vương
Xá ở Ma-kiệt-đà vào thời gian bốn tháng sau khi đức Phật
Thích-ca-mâu-ni nhập diệt. Tại đây, chư vị xác định giáo
lý của đức Phật mà chư vị đã nghe qua nhau, và sau khi khẳng
định những lời đúng là của đức Phật, chư vị cố nhớ
chắc lấy. Một hội nghị nhằm biên soạn kinh điển Phật
giáo như thế được gọi là Samgìti (kiết tập - ketsuju),
tức là một hội nghị Phật giáo nhằm xác định tính chính
thống.
Người ta
kể rằng chư đệ tử Phật tiến hành hội nghị theo cách
sau đây: Khi ngài A-nan, vốn được xem là người thường nghe
đức Phật thuyết pháp nhất, được chọn để đọc lại
một giáo pháp, thì ngài Ma-ha-ca-diếp chủ tọa hội nghị,
hỏi ngài lần lượt từng câu hỏi về giáo pháp ấy - đức
Phật đã giảng giáo pháp ấy vào lúc nào, ở đâu, cho ai,
vào dịp nào và nội dung của giáo pháp ấy là gì. Ngài A-nan
trả lời từng câu hỏi của ngài Ca-diếp. Chư vị đệ tử
Phật còn lại thì im lặng nghe các câu hỏi và câu trả lời
này. Nếu họ nhận thấy câu trả lời của ngài A-nan không
có gì khác với giáo pháp mà chính họ nhớ được thì họ
đồng ý với nhau về tính chính xác của khả năng nhớ lại
của họ về các giáo lý của đức Phật. Khi có một
người trong họ phản bác thì điều phản bác được bàn
thảo thật kỹ, vì họ hết sức ý thức đến Phật sự xác
quyết tính chính thống của giáo lý đức Phật để lại
cho hậu thế.
Khi họ đã
nhất trí xác nhận một giáo lý, rằng “Đây đúng là điều
chúng ta đã trực tiếp nghe từ đức Phật”, thì họ cùng
nhau tụng đọc giáo lý ấy và ghi nhớ nó. Đây là lý do tại
sao nhiều kinh Phật được mở đầu bằng các từ: “Tôi
đã nghe như vầy”.
Việc lặp
lại đúng y cùng những nội dung thường được thấy ở các
kinh Phật giáo Nguyên thủy như các bộ kinh A-hàm (Àgama - sùtra)
vì các vị đệ tử Phật đã nhớ các câu hỏi và đáp trong
các cuộc hội nghị Phật giáo. Trong các kinh Đại thừa, trong
đó có kinh Pháp Hoa, việc lặp lại như thế đã được bỏ
đi khá nhiều, nhưng việc lặp lại cũng được sử dụng
ở những đoạn cần gây ấn tượng sâu sắc cho người đọc.
Điểm quan
trọng thứ hai là nhóm từ “tùy theo khả năng của mình”.
Những từ này có hai nghĩa: một nghĩa trỏ ý “thích hợp
với năng lực của mình” và một nghĩa diễn tả lý tưởng
“khiến cho mình phát huy hết sức lực của mình”.
Đối với
một người mới lần đầu nghe pháp thì khó mà giảng pháp
được như một tu sĩ bậc cao hay học nhiều. Nếu một
kẻ sơ học phải ngượng nghịu khi bàn về một giáo lý hay
tỏ ra là một người nói năng vụng về thì đấy chỉ là
tự nhiên thôi. Nếu người ấy là một văn gia có tài thì
ông ta nên truyền giáo lý cho người khác bằng cách viết.
Trong bất cứ trường hợp nào, ta cũng nên truyền giáo lý
theo khả năng và kinh nghiệm của mình. Đây là ý nghĩa thứ
nhất của từ ngữ “tùy theo khả năng của mình”.
Tuy nhiên,
nếu một người nói năng vụng về nỗ lực đem hết khả
năng của mình để truyền giáo lý cho những người khác thì
sự hăng say của anh ta hiển nhiên sẽ gây một ấn tượng
ở người nghe. Tóm lại, sự chân thành là quan trọng. Đây
là ý nghĩa thứ hai của từ ngữ “tùy theo khả năng của
mình”.
Điểm thứ
ba là lý do ở đây giảng về công đức của người thứ
năm mươi hoan hỷ nghe pháp rồi pháp được truyền cho năm
mươi người khác nữa. Điều này biểu thị mạnh mẽ sự
vĩ đại của giáo lý kinh Pháp Hoa.
Người thứ
nhất tham dự một buổi thuyết pháp đã có thể nghe pháp
trực tiếp từ một vị đã thành tựu Pháp và có năng lực
vững vàng. Người này chưa có kiến thức rộng về Pháp hoặc
chưa có niềm tin sâu đậm về Pháp hay chưa có kinh nghiệm
lâu dài trong việc giảng Pháp. Dù người ấy có thể truyền
giáo lý cho người khác đúng như mình đã được nghe, niềm
hoan hỷ mà người nghe cảm nhận cũng sẽ yếu dần theo với
khoảng cách từ người ấy đến người thuyết giảng đầu
tiên. Do đó, khi giáo lý được truyền đến người thứ năm
mươi thì hầu hết các trường hợp, giáo lý sẽ không còn
tạo hoan hỷ cho người nghe và người nghe sẽ không nỗ lực
chuyên chú mà chỉ gạt bỏ đi và bảo “Ồ, thế ư ?”
Về mặt
này thì kinh Pháp Hoa khác với các giáo lý khác. Chừng nào
nội dung của kinh được truyền bá đúng đắn từ người
này sang người khác thì cả đến người thứ năm mươi cũng
không thể không hoan hỷ thọ nhận vì nội dung này rất là
vĩ đại. Dĩ nhiên, niềm hoan hỷ mà người thứ năm mươi
cảm nhận thế nào cũng ít hơn niềm hoan hỷ của người
thứ nhất. Nhưng mức độ hoan hỷ này cũng tạo nên một
công đức lớn. Chúng ta cần hiểu ý nghĩa sâu xa gồm trong
các từ “các công đức của người thứ năm mươi đến
phiên mình nghe kinh Pháp Hoa và hoan hỷ chấp nhận kinh”.
Thế rồi
đức Phật nói đến những công đức của người thứ năm
mươi hoan hỷ thọ nhận chân lý. Ở đây chúng ta phải cẩn
thận ghi nhận điểm sau đây: nhiều công đức khác nhau được
kinh diễn tả theo thể cách rất tượng trưng, với những
điểm trừu tượng được trình bày theo hình thức cụ thể.
Ta không nên dùng các từ ngữ ấy theo nghĩa đen mà phải nắm
cái thực nghĩa dấu sâu bên trong, nếu không, ta sẽ có nguy
cơ rơi vào sự hiểu lầm si muội giáo pháp của đức Phật.
Ta cũng cần ghi nhận như thế ở các phẩm sau này của kinh.
“Tất cả
các chúng sanh trong sáu cõi hiện hữu trong bốn trăm vạn ức
a-tăng-kỳ thế giới, sinh ra theo bốn cách, do trứng sanh, do
thai sanh, do ẩm thấp sanh hay do biến hóa sanh; hoặc hữu hình
hoặc vô hình, hoặc hữu tưởng hoặc vô tưởng, hoặc phi
hữu tưởng hoặc phi vô tưởng; không chân, hai chân, bốn
chân hay nhiều chân - tổng số tất cả chúng sanh này như
thế. Giả như có người cầu phước, cấp cho họ mọi thứ
hỷ lạc mà họ muốn, cho họ toàn bộ cõi Diêm-phù-đề(1),
vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách và mọi
thứ châu ngọc quý, cùng voi, ngựa, xe, cung điện, lâu đài
làm bằng bảy thứ báu v.v... Vị đại thí chủ này cứ ban
tặng phẩm như thế trong suốt tám mươi năm, rồi suy nghĩ
rằng:
"Ta đã cấp
tặng cho tất cả chúng sanh này những thứ hỷ lạc mà họ
mong muốn, nhưng giờ đây họ đều già yếu cả rồi, tuổi
đã hơn tám mươi, tóc bạc, da nhăn, sắp chết đến nơi -
Ta nên dùng Phật pháp mà giáo hóa, dẫn dắt họ". Thế rồi
ông tụ tập các chúng sanh ấy lại và tuyên thuyết giáo hóa
bằng Phật pháp. Nhờ được ông khai mở, giảng dạy, khiến
cho lợi lạc, làm cho hoan hỷ, tất cả họ đều cùng trở
thành Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán, thoát khỏi
mọi sự bất toàn, đạt được Thiền định thâm sâu và
thành tựu tám giải thoát".
Sáu cõi (lục
đạo) nghĩa là sáu cảnh giới hay thế giới trong đó tâm
thức của các chúng sanh di trú. Sinh ra theo bốn cách nghĩa
là các loại chúng sanh sau đây: sinh ra do trứng (noãn sinh),
sinh ra do bào thai (thai sinh, như loài có vú), sinh ra do ẩm ướt
(thấp sinh, như sâu bọ và các sinh vật sống nơi đất ẩm)
và sinh ra do biến hóa (hóa sinh, như các sinh vật có nguồn
gốc không rõ, chẳng hạn, loại trời). Tóm lại, biểu từ
“sinh ra theo bốn cách” trỏ mọi loại chúng sanh.
Nhóm từ
“hoặc hữu tưởng hoặc vô tưởng”, “tưởng” nghĩa
là có ý thức phân biệt và “vô tưởng” nghĩa là không
có ý thức phân biệt. Nhóm từ “hoặc phi hữu tưởng hoặc
phi vô tưởng”, “phi hữu tưởng” trỏ người hiểu rằng
mình không thể thấy được thực tướng của mọi sự vật
bằng cái ý thức phân biệt và “phi vô tưởng” trỏ người
vượt ngoài cái ý thức (tâm) phân biệt hoặc vô phân biệt.
Nói chung, các từ này trỏ các sở hữu chủ của mọi loại
tâm thức. Chúng ta không nên bị trói chặt bởi nhiều từ
ngữ khác nhau được dùng ở đây mà nên xem rằng chúng trỏ
đến tất cả mọi loại chúng sanh. Biểu từ “được khai
mở, giảng dạy, khiến cho lợi lạc, làm cho hoan hỷ” đã
được bàn trước đây (phẩm 7, Hóa Thành Dụ, Học thuyết
thực hành về Nhất niệm Tam thiên).
Các cấp
độ khởi đầu bằng Tu-đà-hoàn là bốn tầng bậc mà một
Phật tử tu theo Tiểu thừa đạt được:
1. Tu-đà-hoàn
(Srota-àpanna), nguyên nghĩa là “nhập vào dòng” (dẫn đến
Niết-bàn - Nhập lưu) là bậc thứ nhất mà người tu Tiểu
thừa đạt được;
2.Tư-đà-hàm
(Sakrdàgàmin), nguyên nghĩa là “trở lại” hay chỉ tái sinh
một lần nữa thôi (Nhất lai), là bậc thứ hai trong đó người
ta đã tránh được các ô nhiễm (lậu hoặc) nhưng vẫn còn
tiềm năng ô nhiễm;
3. A-na-hàm
(Anàgàmin), nguyên nghĩa là “không trở lại” (Bất lai) hay
không còn tái sinh nữa, là bậc thứ ba, trong đó người ta
tránh khỏi mọi ô nghiễm, và
4. A-la-hán
(Arhat) nguyên nghĩa là “người xứng đáng” hay “người
đáng tôn kính” (Ứng cúng), là bậc cuối cùng, trong đó
người ta thoát khỏi mọi ô nhiễm, đã đạt tri thức toàn
hảo và tâm thanh tịnh.
Trong tu tập,
tín đồ Phật giáo Tiểu thừa nỗ lực vươn dần lên qua
từng cấp độ của bốn cấp độ này để đạt chứng ngộ.
Tuy nhiên, ở đây đức Phật dạy rằng người ta có thể
chứng đạt ngay bốn cấp độ ấy.
Từ “tám
giải thoát” nghĩa là tám loại Thiền định để giải thoát
người ta khỏi những trói buộc. Ở đây không cần phải
giải thích chi tiết về tám giải thoát vì những thứ này
dành cho việc nghiên cứu chuyên sâu về các học thuyết Phật
giáo.
Thế rồi
đức Thế Tôn hỏi Bồ-tát Di-lặc: “Ý Ông thế nào ? Những
công đức mà đại thí chủ này đạt được có thể xem là
nhiều hay không ?”
Ngài Di-lặc
bạch Phật: “Bạch Thế Tôn ! Công đức của người này
là rất nhiều, vô lượng, vô biên. Dù cho vị thí chủ này
chỉ cấp tặng mọi thứ hỷ lạc cho các chuùng sanh kia thì
công đức của ông cũng đã là vô lượng; huống chi ông còn
làm cho họ đạt quả A-la-hán !”
Bấy giờ
đức Phật khẳng giọng nói với ngài Di-lặc: “Bây giờ
Ta sẽ nói rõ cho Ông. Những công đức mà người này đạt
được khi cấp tặng các thứ hỷ lạc kia cho tất cả chúng
sanh trong sáu cõi hiện hữu của bốn trăm vạn ức a-tăng-kỳ
thế giới và khiến họ đạt quả A-la-hán không sánh được
với những công đức của người thứ năm mươi nghe chỉ
một
bài kệ của kinh Pháp Hoa mà hoan hỷ thọ nhận bài kệ ấy.
Những công đức kia không bằng một phần trăm, một phần
ngàn hay một phần trăm ngàn vạn ức, toán số và tỷ dụ
không thể diễn tả được”.
Có hai lý
do khiến các toán số và tỷ dụ không thể diễn tả được
các công đức của người thứ năm mươi kia. Lý do thứ
nhất là các bố thí vật chất về cơ bản khác với các
bố thí Pháp. Bố thí các thứ vật chất cho người khác chắc
chắn là một hành vi tốt. Nhưng lợi ích của những hành
động như thế là có giới hạn và tương đối. Thí dụ như
ta cho người nghèo tiền. Một số tiền tương đối nhỏ có
thể khiến cho một người đứng vững trở lại. Nhưng một
người khác có thể sống một cuộc sống dễ chịu hơn nếu
người này có được số tiền kia, và khi anh ta tiêu hết
tiền thì anh cũng chẳng hơn gì trước kia. Trái lại, tiền
cũng có thể có hiệu quả tai hại đối với một người,
khiến anh ta quen thói lười biếng, hay ưa xa xỉ. Do đó, bố
thí vật chất quả là thiện nhưng vẫn là một điều thiện
có giới hạn và tương đối.
Khi ta cho
các người khác tiền của, nếu ta có thể chỉ bảo cho họ
làm sao để họ khởi sự một cuộc sống mới bằng cách
sử dụng tiền của ấy cho có hiệu quả thì loại bố thí
này sẽ giúp ích cho họ. Loại chỉ giáo này cần được gồm
trong sự bố thí Pháp; những bố thí vật chất sẽ trở nên
có hiệu quả hơn khi bố thí Pháp được gia cộng vào đó.
Lý tưởng là nhằm an sinh xã hội trở nên có hiệu lực vậy.
Nhưng ngay cả loại bố thí này cũng vẫn còn bị giới hạn
và tương đối vì những lợi lạc của nó sẽ chấm dứt
khi người ta chết đi. Sự bố thí thực sự cao quý và có
hiệu quả vĩnh cửu là sự bố thí Pháp, nghĩa là ta trao tặng
giáo lý của đức Phật cho người khác. Loại bố thí này
không bị giới hạn trong đời người ta mà còn mở rộng
đến đời sau. Do đó không có gì quan trọng bằng các công
đức đạt được do loại bố thí này.
Trong lời
dạy cho Bồ-tát Di-lặc, đức Phật nêu rõ rằng một người
bố thí vật chất cho hết thảy chúng sanh trong vũ trụ và
cũng bố thí Pháp cho họ bằng cách thuyết giảng Phật pháp
khiến họ đắc quả A-la-hán. Nhưng những công đức mà người
này đạt được không thể so sánh với những công đức của
người thứ năm mươi nghe chỉ một bài kệ của kinh Pháp
Hoa mà hoan hỷ thọ nhận. Điều này mới nghe thì có vẻ lạ
kỳ nhưng nó có ý nghĩa như sau đây.
Đắc quả
A-la-hán tức là đạt đến cấp độ tâm thức sạch hết
mọi lậu hoặc là đỉnh điểm của giáo lý Tiểu thừa.
Nhưng nếu một người như thế sống biệt lập trong núi thì
các công đức mà người ấy đạt được sẽ dừng lại ở
tầng bậc ấy. Giáo lý của đức Phật rất có giá trị,
nhưng giáo lý ấy không thể được hiển lộ đầy đủ nếu
không có người giảng giáo lý ấy để giáo dục người nghe,
tạo cho họ năng lực và quả cảm và do đó cải thiện cả
thế giới. Chừng nào các tu sĩ Phật giáo còn giam mình trong
các chùa chiền sau khi có sự chứng đắc riêng và cứ lo thực
hiện các dịch vụ tang ma lễ lạc thì họ vẫn chưa đưa
tinh thần chân chính của đức Phật vào thực tiễn.
Giáo lý kinh
Pháp Hoa không giới hạn trong việc cứu mình khỏi khổ đau;
mục đích của nó là thực hành hạnh Bồ-tát cứu nhiều
người khác khỏi khổ đau. Khi một người nghe chỉ một câu
kệ của kinh Pháp Hoa và hoan hỷ thọ nhận nó thì cảm giác
của người ấy về sự hoan hỷ thọ nhận chắc chắn sẽ
phát triển thành năng lực cứu độ tha nhân.
Giả như
quả vị A-la-hán bằng số một trăm vì cấp độ tâm thức
này trỏ sự chứng đắc riêng của một người. Mặt
khác niềm hoan hỷ mà một người cảm thọ khi mới nghe chỉ
một bài kệ của kinh Pháp Hoa chỉ đáng một điểm về mặt
chứng đắc riêng của người ấy. Tuy nhiên, có một
sự khác biệt lớn về giá trị giữa số một trăm trỏ sự
chứng đắc Tiểu thừa và số một trỏ giáo lý Đại thừa.
Đấy là vì số một trong giáo lý Đại thừa phát triển không
giới hạn và có khả năng cuối cùng tăng đến một ngàn
hay mười ngàn.
Ví dụ, sự
chứng đắc riêng của một người có thể ví với một trăm
koku (1) lúa trong một nhà kho. Người ấy có thể sống suốt
đời với số lượng lúa như thế, nhưng đấy là tất cả
những gì người ấy có thể làm. Lúa có thể bị mọt ăn
hay chuột gặm hoặc bị mục mà người ấy không biết. Mặt
khác, cảm giác hoan hỷ mà người ta cảm nhận đầu tiên
khi thọ nhận kinh Pháp Hoa giống như một sho (2) lúa được
gieo trên một cánh đồng. Những hạt giống này có khả năng
lớn lên và tăng thành hàng trăm hay hàng ngàn koku lúa. Đây
là lý do tại sao những công đức của người nghe chỉ một
câu kệ của kinh Pháp Hoa mà hoan hỷ thọ nhận nó thì hơn
rất nhiều những công đức có được nhờ thực hành những
bố thí vật chất lớn lao nhất hoặc thực hành bố thí Pháp
khiến người khác đạt quả vị A-la-hán. Do đó ta hiểu rằng
trong khi những công đức có được nhờ bố thí thứ gì đó
cho ai thì lớn, những công đức của những người nhận thứ
ấy cũng lớn.
Chúng ta vừa
bàn về công đức của người thứ năm mươi nghe kinh Pháp
Hoa và hoan hỷ thọ nhận kinh này. Còn về công đức
của những người trong chúng hội đầu tiên nghe được kinh
thì sao ? Đức Phật giảng về công đức của họ như sau:
“Này A-dật-đa ! Nếu công đức của người thứ năm
mươi đến lượt mình nghe kinh Pháp Hoa và hoan hỷ thọ nhận
kinh là vô lượng, vô biên và vô số như thế thì hạnh phúc
của người trong chúng hội đầu tiên nghe và hoan hỷ thọ
nhận kinh Pháp Hoa còn lớn hơn biết bao nhiêu ! Hạnh phúc
còn vô lượng vô biên vượt ngoài mọi đo đếm, so sánh”.
Như đã giải
thích trước đây, do vì giá trị của tự thân giáo lý là
vô lượng nên người nghe có thể hoan hỷ chấp nhận đến
cả giáo lý được truyền đến người thứ năm mươi vốn
là kẻ sơ học. Niềm hoan hỷ của người đã nghe giáo lý
trực tiếp từ một giảng sư đã chứng đắc thì lớn hơn
biết bao nhiêu ! Sự hoan hỷ thọ nhận ấy sẽ tạo ra sự
thay đổi lớn trong đời người ấy và có một ảnh hưởng
vô hạn đến xa ưhội.
CƠ HỘI GẶP
GỠ GIÁO LÝ:
Phẩm này
cũng xác định rằng ngay cả một người rất kém trí mà
khi tiếp xúc với giáo lý và không xúc động sâu sắc vì
giáo lý, người ấy cũng sẽ được công đức rất lớn.
Điều này chỉ rõ cho ta biết rằng có cơ hội gặp gỡ giáo
lý thì thật là quan trọng. Chắc chắn mọi người chúng ta
đều có Phật tính, nhưng chúng ta không thể được cứu độ
nếu chúng ta không khơi dậy sự hiện hữu của Phật tính
của chúng ta nhờ một cơ hội như thế. Tiếp xúc với giáo
lý là điều kiện tiên quyết để được cứu độ và cơ
hội gặp gỡ giáo lý phải thật sự được xem là rất thiêng
liêng.
Sau đó đức
Phật giảng về các công đức của một người nghe và thọ
nhận kinh Pháp Hoa dù chỉ một lát, rồi thuyết phục và khiến
người khác làm theo:
“Lại nữa,
này A-dật-đa ! Nếu có người nào vì kinh này mà đến tinh
xá và hoặc ngồi hoặc đứng, nghe và thọ nhận kinh này dù
chỉ trong một lát, thì do công đức ấy, khi tái sanh trong
đời sau, sẽ có được các loại voi, ngựa, xe, cáng, kiệu
bằng trân bảo và được ngồi xe trời. Lại nữa, nếu có
người nào ngồi tại nơi giảng Pháp, rồi những người khác
đến, người ấy thuyết phục họ ngồi xuống nghe Pháp hay
chia xẻ chỗ ngồi cho họ, thì khi tái sinh, người ấy sẽ
được tòa vị của Đế Thích hay của Phạm thiên, hay tòa
vị của Chuyển Luân Thánh Vương. Này Di-lặc ! Lại có người
nói với người khác: "Có một kinh tên gọi là Pháp Hoa; ta
hãy cùng đi nghe kinh ấy", và nếu người nào được thuyết
phục nghe kinh này dù chỉ trong một lát, thì do bởi công đức
của mình, người ấy khi tái sanh, sẽ được sinh ra cùng nơi
với chư Bồ-tát đã đạt Đà-la-ni.”
Đế Thích
và Phạm thiên là những vị thiên hộ pháp tối cao của đức
Phật. Một vị Chuyển Luân Thánh Vương, hay Cakravartin, là
một vị đại vương cai quản thế giới này một cách đúng
đắn, hòa bình trên căn bản giáo lý của đức Phật. Chư
vị Bồ-tát đã đạt Đà-la-ni là những vị giáo hóa con người
khiến họ tránh mọi điều ác và thuyết phục họ làm mọi
điều thiện. Những người tạo cho người khác cơ hội gặp
gỡ kinh Pháp Hoa phải được xem là thánh thiện như chư thiên
thiện lành, như một vị Chuyển Luân Thánh Vương hay như chư
Bồ-tát. Sự tái sinh kế tiếp của những người này vào
trú xứ của chư Bồ-tát nghĩa là về mặt tâm thức họ sẽ
được tái sinh trong thế giới này, tức là, cuộc đời của
họ sẽ hoàn toàn đổi mới.
Phẩm này
cũng xác định rằng những người này sẽ tái sinh trong thế
giới này, không những về mặt tâm thức mà cả về mặt
vật lý nữa, và nhân tướng của họ sẽ hoàn hảo. Ở đây,
chúng ta không cần phải cố gắng tìm hiểu từng hoàn cảnh
tái sinh của họ. Chúng ta chỉ cần hiểu rằng sự tái sinh
về mặt tâm thức của một người thể hiện trong các tính
cách của người ấy, chứng tỏ một sự thật là tâm thức
của người ấy ảnh hưởng đến cơ thể của người ấy.
Tuy nhiên, sự thay đổi về cơ thể như thế xuất hiện rất
chậm và sắc tướng của người ấy không thay đổi gì nhiều
trong cái thế giới hiện tại. Trong trường hợp này, sự
thay đổi của con người không có nghĩa là sự đẹp hay xấu
về thân thể mà là sự cao quý rạng rỡ của tinh thần của
con người. Người ta càng ra sức tu tập bao nhiêu thì tinh
thần người ta càng rực sáng bấy nhiêu.
Khi chúng
ta nhìn các ảnh tượng của các tu sĩ có trí đức, các Hiền
giả, Thánh nhân từ thời xưa để lại, chúng ta thấy ít
người trong các vị ấy có được vẻ đẹp về hình sắc
theo nghĩa thông thường. Trong các miêu tả về mười đại
đệ tử của đức Phật, không có miêu tả nào bảo rằng
họ đẹp, ngoại trừ trường hợp tả về ngài A-nan (Ananda)
và ngài La-hầu-la (Rahula). Hầu hết họ đều có bộ mặt
chẳng có gì hấp dẫn, điều này khiến người ta thường
bảo, “một người có bộ mặt giống như một A-la-hán”.
Tuy nhiên cả mười vị đại đệ tử Phật đều được miêu
tả như là một người có bộ mặt nhu hòa, từ bi và có Thánh
tướng biểu hiện sự thâm sâu về trí tuệ. Nếu chư đại
đệ tử này tích tập Bồ-tát hạnh mỗi khi họ tái sinh thì
sự cao vời về tinh thần sẽ không ngừng ảnh hưởng đến
sắc diện của họ, và cuối cùng khiến họ có được Phật
tướng, được toàn hảo về ba mươi hai tướng tốt và tám
mươi vẻ đẹp của một vị Phật. Chúng ta cũng có thể trở
thành những người có Thánh tướng như thế của một vị
Phật.
Ảnh hưởng
của sự tái sinh về mặt tinh thần của một người không
chỉ giới hạn về tâm thức mà còn tác động về mặt thân
thể của người ấy nữa. Sự biến đổi về thân thể xảy
ra rất chậm, nhưng chắc chắn là có xảy ra. Chúng ta phải
hiểu như thế về phần này của kinh Pháp Hoa.