Phẩm
17
PHÂN
BIỆT CÔNG ĐỨC
CÁC CÔNG
ĐỨC CỦA VIỆC TU HÀNH:
Phẩm trước
đã dạy chúng ta rõ ràng rằng đức Phật hiện hữu cùng
chúng ta vào mọi lúc. Hiểu điều này, trạng thái tâm thức
của ta sẽ tự nhiên chuyển biến tốt đẹp hơn. Trước khi
đạt được niềm tin chân thật, ta có xu hướng cảm thấy
bất an và không giữ được một niềm hy vọng và tự tin
thực sự vững chắc. Dĩ nhiên, không thể bảo rằng chưa
bao giờ ta cảm thấy hạnh phúc, hy vọng hay tự tin. Tuy nhiên,
hạnh phúc, hy vọng và tự tin ấy quá mong manh đến nỗi chúng
sẽ vỡ vụn khi có bất cứ một rủi ro lớn nào đổ ập
vào ta.
Những người
có cái nhìn hời hợt về các sự vật và không sống cho một
mục đích nào có thể tiến đến việc nuôi dưỡng tư tưởng
lười biếng rằng hôm nay là hôm nay, ngày mai là ngày mai,
thế thì chớ lo lắng về tương lai mà hãy sống cho lúc này
đã. Phần lớn những người như thế đều thiếu một ý
thức trách nhiệm đối với xã hội, với gia đình họ và
cả chính họ nữa. Họ được xem là hạnh phúc, nhưng thực
sự họ đang sống ngược với chân lý “Không có cái gì
có một ngã”, sống mải mê trong hạnh phúc của riêng họ.
Những người như thế không tích tập thiện nghiệp trong đời
này mà cứ sống một cuộc sống mộng mơ hão huyền.
Niềm hạnh
phúc tâm linh, niềm hy vọng và sự tự tin của những ai đã
đạt được niềm tin thực sự thì không phù phiếm, hời
hợt mà sâu xa, thâm căn trong tâm họ. Những người này có
tâm tĩnh lặng, vững chãi, không bị dao động vì bất cứ
điều gì - lửa, nước hay kiếm - vì họ giữ được thái
độ tâm thức rất kiên cố và nhận ra rằng: “Ta luôn luôn
được sự hộ trì của đức Phật như là một hiện hữu
tuyệt đối; ta được đức Phật tạo cho sự sống”.
Dĩ nhiên
là cuộc sống sẽ phải thay đổi mạnh mẽ ngay khi ta đạt
được các trạng thái tâm thức như thế. Không thể
nào cuộc sống của ta không thay đổi khi thái độ của ta
thay đổi. Trạng thái tâm thức của ta thay đổi do bởi niềm
tin và nhờ sự thay đổi trong tâm ta, cuộc sống của ta đồng
thời cũng thay đổi. Đây là những công đức của việc tu
hành.
Những công
đức của việc tu hành không những chỉ xuất hiện trong tâm
người ta mà còn xuất hiện trong thân thể và trong đời sống
vật chất của người ta nữa. Vì tâm, thân và các sự vật
vật chất của người ta đều được gồm bởi cùng một
khoảng trống (năng lượng), từ đó suy ra rằng thân thể
con người phải thay đổi theo những thay đổi trong tâm và
đồng thời những sự vật vật chất quanh con người cũng
phải thay đổi. Thật là phi lý và phi khoa học khi công nhận
các công đức tinh thần nhưng lại phủ nhận những công đức
vật lý và vật chất.
Y học đã
đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc nghiên cứu
sự liên hệ giữa tâm thức và thân thể con người. Khoa thần
kinh học đã thiết lập sự việc rằng nhiều bệnh khác nhau
như bệnh đau mắt, bệnh da, rối loạn tim, cao áp huyết, ban
đỏ, bệnh suyển, chứng đau buổi sáng, và kinh nguyệt không
đều có thể có nguyên nhân là trạng thái tâm thức của
một người. Khoa thần kinh học đã chứng minh rằng những
rối loạn dạ dày và ruột nói riêng chịu ảnh hưởng mạnh
mẽ bởi tâm thức người ta. Chẳng hạn, những chỗ loét
dạ dày thường do những cảm giác lo lắng và bực tức hơn
là do uống rượu hay hút thuốc lá quá nhiều. Các nhà y học
đã thống kê được rằng các sinh viên thường bị viêm ruột
thừa khi sự căng thẳng tâm thức được buông lỏng, như
sau một kỳ thi hay một môn thi thể thao - Không có gì đáng
ngạc nhiên khi một người có thể lành bệnh do thay đổi
thái độ tâm thức, vì thân thể của người ấy không tách
biệt với tâm thức của người ấy. Chính tôi cũng biết
nhiều trường hợp như thế, gồm trường hợp của một người
bị liệt cả hai chân đã có thể đứng dậy và đi lui tới
trong nhà sau khi nhận được một số lời giáo huấn của
tôn giáo. Chúng ta không xem sự việc như thế là kỳ diệu
mà xem đấy là một sự kiện tự nhiên.
Cũng không
có gì lạ khi người ta có thể được thuận lợi về tiền
bạc hay các thứ vật chất nhờ một sự thay đổi thái độ
tâm thức sau khi đi vào một đời sống tôn giáo. Thái độ
tâm thức được thay đổi của một người thế nào cũng
khiến người ấy thay đổi thái độ với công việc và cuộc
sống của người ấy, và theo đó khiến người ấy cải thiện
cuộc sống của mình nói chung. Điều này không chỉ giới
hạn ở những thay đổi trong cuộc sống của riêng người
ta. Nếu một người nhiệt thành nương tựa vào một niềm
tin chân thực, người ấy sẽ khơi lên một đáp ứng khác
từ những người khác. Anh ta bắt đầu có những cảm giác
lạc quan, tin tưởng cuộc đời và có một thái độ tích
cực đối với mọi sự. Những cảm giác như thế tự nhiên
sẽ tỏ lộ trên gương mặt, trên cách nói năng và cư xử
của anh ta. Do bởi sự thay đổi này, những người chung quanh
sẽ quy tụ đến với anh ta vì họ cảm thấy được anh ta
nâng đỡ và làm cho mạnh. Theo đó, thật là tự nhiên khi
công việc của anh ta tiến bộ suông sẻ và kết quả là anh
ta được thuận lợi về tài sản vật chất.
Những công
đức này là kết quả của việc tu hành, chúng ta nên nhận
lấy chúng với lòng biết ơn và sự thẳng thắn. Chúng ta
không cần ràng buộc vào cái ý niệm rằng vì niềm tin liên
hệ với vấn đề tâm thức nên chúng ta không cần những
công đức nào ngoài những công đức thuộc tâm thức, sợ
rằng cuộc sống tu hành của chúng ta bị ô nhiễm vì các
thứ bất tịnh. Ý niệm như thế tự nó vốn là một thứ
bất tịnh và là một thái độ thiênkiến.
Tuy nhiên,
những người thuộc loại này tương đối hiếm. Những người
thuộc một loại khác thì đông hơn nhiều, đó là những “tín
đồ có tà kiến”. Những người này không hiểu những ân
huệ thiêng liêng trên đời này như là kết quả của việc
tu hành mà lại xem tu hành là niềm hy vọng được nhận những
lợi lạc như thế từ lúc đầu. Hầu hết mọi người bước
vào niềm tin tôn giáo đều có một loại khổ nào đó. Họ
muốn được thoát khỏi những khổ đau như thế, đấy là
một điều tự nhiên và không ai trách cứ họ về đều ấy.
Nhưng khi họ cứ thiết tha mong muốn được lành bệnh hay
được phúc may về tiền bạc thì họ chỉ buộc mình vào
cái ý niệm về “bệnh tật” hay “nghèo túng”. Dù họ
mong được tách khỏi những vấn đề này, họ vẫn trở thành
những nạn nhân của chúng vì họ chấp nhận lấy cái ý niệm
về bệnh hoạn và nghèo túng quá chặt đến nỗi họ không
thể thoát khỏi chúng được.
Những người
tin vào tôn giáo chỉ nhằm để nhận được những ân huệ
thiêng liêng trong đời này thì dễ bị thối thất khỏi cái
cấp độ tu tập của họ trong niềm tin ấy. Đấy là vì họ
không thể thực sự hiểu được sự vĩnh hằng của sự sống
của đức Phật và đồng thời không thực sự hiểu được
sự vĩnh hằng của sự sống của con người. Họ chỉ nghĩ
đến hiện tại và nếu những công đức vật chất không
thể hiện rõ ràng thì họ b ắt đầu nghi ngờ hay chán nản
giáo lý. Nhưng có một số người không thể nhận được
những công đức như thế trong đời này do bởi ác nghiệp
thâm sâu, khó tiêu tan được từ cứ đời trước của họ,
dù cho học có tin vào một tôn giáo thực sự, thanh tịnh tâm
thức và nỗ lực tu hạnh Bồ-tát vì lợi ích của những
người khác trong xãhội.
Tuy nhiên
những người có thể tin vào sự bất diệt của đời sống
của đức Phật cũng có thể tin vào sự sống vĩnh hằng của
chính họ. Do đó, họ có thể sống một cách tự tin mà hiểu
rằng: “Nếu ta cứ chuyên theo con đường này, chắc chắn
cuối cùng ta sẽ tiêu diệt được nghiệp cũ và sẽ tiến
dần đến thái độ tâm thức của đức Phật.” Dù cho họ
không lành bệnh ngay hay được phúc may về tài sản ngay, tâm
của họ cũng sẽ được an ổn. Dù cho đối với người ngoài
họ có vẻ như đang khổ, tâm họ cũng không khổ. Đây là
thái độ của một tín đồ thực sự.
Khi xét các
công đức của việc tu hành, ta phải xem trọng tánh chánh
trực và ý thức nhu nhuyễn như được dạy trong phẩm 16.
Ta nên tập trung cái nhìn của ta vào đức Phật mà thôi, không
để ý gì đến những ân huệ thiêng liêng trong đời này.
Ta nên hợp nhất với đức Phật và hành động thuận theo
sự dẫn dắt của Ngài. Nếu cuộc sống thực sự của ta
do đó mà thay đổi thành tốt hơn thì đấy là một hiện
tượng tự nhiên được hình thành do vì tâm thức và hành
động của ta đã được đặt vào hướng của chân lý. Chúng
ta nên nhận lấy những hiện tượng như thế bằng sự biết
ơn và sự thẳngthắn.
Các công
đức của việc tu hành được giảng trong ba phẩm thuộc nửa
sau của kinh Pháp Hoa: phẩm 17 “Công Đức Phân Biệt” (phân
biệt các công đức); phẩm 18 “Tùy hỷ công đức” (Công
đức của việc thọ nhận một cách vui vẻ); và phẩm 19 “Pháp
Sư Công Đức” (công đức của vị Pháp sư). Chúng ta cần
đọc các phẩm này và ghi nhớ ý nghĩa căn bản của các công
đức đã được bàn trên đây.
Phẩm “Phân
Biệt Công Đức” nêu ra mười hai cấp độ mà chúng ta đạt
được do vững tin vào sự sống vĩnh hằng của đức Phật,
đồng thời phẩm này dạy cho chúng ta về cuộc sống tôn
giáo lý tưởng. Phẩm này không giảng về cái gọi là ân
huệ thiêng liêng trong đời này mà chủ yếu giảng về những
công đức mà một tín đồ có thể nhận được. Dù những
ai không quen với Phật pháp có thể không hiểu công đức
tu hành nghĩa là gì, các độc giả đã nghiên cứu kinh Pháp
Hoa từ đầu cho đến phẩm 16 sẽ biết được giá trị của
công đức tu hành. Bây giờ chúng ta hãy đi vào chủ đề của
phẩm này.
Vô số chúng
sanh đã đạt lợi ích lớn khi họ học được từ những
lời dạy của đức Phật trong phẩm 16 rằng thọ mạng của
Ngài là vô biên và rằng Ngài vẫn luôn giáo hóa mọi người
ở mọi nơi trên thế giới này. Lợi ích lớn lao này như
sau: Các chúng sanh có được sự xác tín rằng họ được
đức Phật làm cho sống, được che chở và giáo hóa, và do
đó họ có thể thể hiện niềm hỷ lạc tâm thức sâu đậm.
Thế rồi
Bồ-tát Di-lặc, đại diện cho đại chúng, được đức Thế
Tôn giảng về các công đức của những người tin sự Vĩnh
hằng của đời sống của đức Phật, Thế Tôn chia các công
đức này thành mười hai cấp độ theo trình độ của niềm
tin và sự nhận thức của các tín đồ.
Cấp độ
thứ nhất của các công đức này là “sáu trăm tám mươi
vạn ức na-do-tha chúng sanh, nhiều như cát sông Hằng, đã
đạt được Vô sinh Pháp nhẫn (chắc chắn không còn tái sanh)”.
Ý nghĩa của câu này có thể được triển khai như sau: những
ai đã có thể tin sự Vĩnh hằng của đời sống đức Phật
thì không vui cũng không buồn khi có bất cứ sự thay đổi
nào trong môi trường chung quanh hay trong hoàn cảnh xã hội
của họ. Họ có thể từ trạng thái tâm thức an ổn đến
niềm tin vững chắc vào cuộc đời, niềm tin này không bị
dao động vì những thay đổi bên ngoài. Hơn nữa, sự xác
tín lớn lao này không phải là nhất thời mà sẽ liên tục
đến trọn đời họ.
Cấp độ
thứ hai của các công đức là “lại nữa, một ngàn lần
chư Bồ-tát Ma-ha-tát đã đạt được năng lực đà-la-ni về
sự nghe và giữ Pháp”(1). Ở đây, các từ “một ngàn lần”
được dùng để hàm chứa cái khái niệm về một con số
rất lớn giống như các biểu ngữ xuất hiện sau đó, như
“nhiều như các vi trần (nguyên tử) của một thế giới”,
“nhiều như các vi trần của một tam thiên đại thiên thế
giới”, “nhiều như các vi trần của một trung nhị thiên
quốc độ”, “nhiều như các vi trần của bốn tứ thiên
hạ”(2), “nhiều như các vi trần của ba tứ thiên hạ”,
“nhiều như các vi trần của hai tứ thiên hạ”, “nhiều
như các vi trần của một tứ thiên hạ”, “nhiều như các
vi trần của tám thế giới”. Chúng ta không cần hiểu nguyên
nghĩa của những con số như thế. Từ đà-la-ni (dharani) nghĩa
là một năng lực bí mật để ngưng dứt mọi điều ác và
khuyến khích mọi điều thiện. Cú ngữ “đã đạt được
năng lực đà-la-ni của sự nghe và giữ Pháp” nghĩa là do
nghe giảng và chấp trì giáo lý của đức Phật, một người
có thể đạt được cái năng lực bí mật để ngưng dứt
mọi điều ác và khuyến khích mọi điều thiện. Năng lực
này dĩ nhiên có ảnh hưởng lớn đến những người chung
quanh người ấy cũng như đến chính người ấy. Đặc trưng
này khiến chư Bồ-tát khác với các chúng sanh khác.
Cấp độ
kế tiếp của công đức là “lại nữa, chư Bồ-tát Ma-ha-tát
nhiều như số vi trần của một thế giới đã đạt được
khả năng diễn giảng thông suốt, vô ngại (nhạo thuyết vô
ngại biện tài).” Ở đây, “diễn giảng” nghĩa là giảng
giáo lý của đức Phật một cách tự nguyện chứ không miễn
cưỡng theo lệnh của một người khác hay một ý nghĩa bổn
phận. Nó có nghĩa là không giảng với cái ý ngầm bảo rằng
ta đây hơn người hay do những động cơ ích kỷ, nhưng tự
nguyện giảng vì giảng mang đến niềm vui cho người ta. Đây
là cái trạng thái tâm thức lý tưởng mà người giảng cần
duy trì.
Từ “vô
ngại” nghĩa là không có gì ngăn trở người giảng triển
khai các giáo lý. Nó có nghĩa là giảng và triển khai các giáo
lý mà không sờn lòng dù cho có bị người khác cười chê,
mai mỉa, nghĩ xấu hay ngược đãi. Những trở ngại ấy không
chỉ đến từ bên ngoài mà cả từ bên trong người ta nữa.
Một số người khi được sung túc và rổi rảnh thì hăng
hái truyền đạo, nhưng khi không có thì giờ và tiền bạc
thì lại không quan tâm đến người khác. Đấy là do những
trở ngại ở hoàn cảnh lẫn tâm thức của họ gây ra vậy.
Mặt khác, những ai đã đạt được niềm tin sâu đậm thì
có thể tinh cần tu tập hạnh Bồ-tát và triển khai rộng
rãi kinh Pháp Hoa mà không bị trở ngại gì dù họ có cuộc
sống vừa đủ ăn hay có những lo lắng riêng.
Ngoài ý nghĩa
rằng người thuyết giảng không bị khuất phục vì những
trở ngại bên ngoài lẫn bên trong, “vô ngại” cũng có nghĩa
là có năng lực phá vỡ những phản kháng của người nghe
thuyết giảng. Khi thuyết giảng cho những người không cố
tin giáo lý của đức Phật, những người ngay từ lúc đầu
đã tỏ ra lơ là, hoặc những người nghiêm túc nghe nhưng
không hiểu gì cả; trong những trường hợp như thế, người
thuyết giảng lý tưởng là người có sức thuyết phục, khiến
họ nghe theo lẽ phải, khiến họ hiểu và khiến họ tin một
cách chân thành mà họ không ý thức về niềm tin ấy. Sức
thuyết phục ấy được gọi là khả năng diễn giảng vô
ngại.
Gộp lại,
ý nghĩa của “đã đạt được khả năng diễn giảng thông
suốt, vô ngại” có thể được nêu lại như sau: một người
đã đạt được khả năng luôn luôn sẵn lòng thuyết giảng
Chánh pháp cho người khác, không khuất phục các trở ngại
từ bên ngoài hoặc từ bên trong, và có khả năng thuyết phục
bất cứ loại người nào.
Cấp độ
kế tiếp của các công đức là: “Lại nữa, chư Bồ-tát
Ma-ha-tát nhiều như các vi trần của một thế giới đã đạt
được trăm ngàn vạn ức đà-la-ni của vô lượng quá trình
chuyển biến”(1). Các công đức ở cấp độ này là người
ta có thể đạt cái năng lực bí mật (dhàrani) để ngưng
dứt điều ác và khuyến khích điều thiện, tức là cái sức
mạnh căn bản trải từ một người đến người khac không
dứt. Những công đức này thì rất lớn lao vì nhiều Bồ-tát
do đó có thể trở thành động lực của những hoạt động
truyền đạo trải rộng vô tận.
Cấp độ
kế tiếp của các công đức là: “Lại nữa, chư Bồ-tát
Ma-ha-tát nhiều như các vi trần của một tam thiên đại thiên
thế giới đã có thể chuyển Bất thối Pháp luân”. Như
đã giải thích trước đây, chuyển pháp luân nghĩa là truyền
bá Phật pháp không ngừng như một bánh xe quay. Do đó cú ngữ
“chuyển Bất thối Pháp luân” trỏ ý rằng một người
đừng bao giờ bước lui một bước nào dù người ấy có
thể gặp phải những trở ngại, khó khăn, mà phải không
ngừng giảng và phổ biến giáo lý.
Cấp độ
kế tiếp của các công đức là: “Lại nữa, chư Bồ-tát
Ma-ha-tát nhiều như các vi trần của một trung nhị thiên quốc
độ đã có thể chuyển Thanh tịnh Pháp luân”. Các công đức
của cấp độ này nghĩa là người ta có thể thực hiện sự
tu tập thanh tịnh của chư Bồ-tát trong việc giảng Pháp chỉ
nhằm vì Pháp, không cầu tìm một đền đáp nào. Người bình
thường khó thực hiện việc tu tập này, nhưng một người
đã đạt tới sự toàn hảo lý tưởng của niềm tin có thể
thành tựu việc tu tập này.
Các công
đức của cấp độ kế tiếp là: “Lại nữa, chư Bồ-tát
Ma-ha-tát nhiều như số vi trần của một tiểu thiên quốc
sau tám đời tái sanh sẽ đạt Toàn Giác (A-nậu-đa-la Tam-miệu
Tam-bồ-đề)”. Các công đức ở đây là một người tu tập
nhiều đạo hạnh khác nhau trong tám đời nữa, kết quả là
người ấy có thể đạt Toàn Giác.
Mức độ
kế tiếp của các công đức là chư Bồ-tát Ma-ha-tát, tùy
theo đức hạnh mà mỗi vị đã tích tập, sẽ đạt Toàn Giác
sau bốn lần tái sanh nữa, ba lần tái sanh nữa, hai lần tái
sanh nữa, một lần tái sanh nữa (1).
Cấp độ
kế tiếp là nhiều chúng sanh nghe đến sự bất tử của đức
Phật, đều sẽ mong mỏi đạt Toàn Giác.
Đây là mười
hai công đức mà một tín đồ có thể đạt được bằng
cách giữ niềm tin vững chắc vào thọ mạng vô lượng của
đức Phật. Tóm lại, đức Phật dạy ta rằng nếu ta thiết
lập cái ý niệm cơ bản về niềm tin, ta có thể phát sinh
đến vô tận cái năng lực vừa làm sâu đậm niềm tin của
chúng ta vừa trải rộng nó đến những người khác. Ngài
cũng dạy ta rằng chắc chắn thế nào ta cũng có được công
đức tối thượng của việc đạt Toàn Giác trong tương lai
nếu ta đem hết nỗ lực để làm sâu đậm niềm tin của
chính chúng ta.
Dĩ nhiên,
rất khó đạt được Toàn Giác. Như đã được giảng trong
phẩm này, một số Bồ-tát chỉ có thể đạt Toàn Giác nếu
chư vị tu tập đạo hạnh trong tám đời nữa. Thế thì ta
rất khó biết người bình thường phải mất đến bao nhiêu
năm, bao nhiêu nỗ lực mới được như thế.
Thật là
một niềm hy vọng lớn lao cho ta khi được biết rằng vào
một lúc nào đó, chắc chắn ta sẽ đạt Toàn Giác nếu ta
chỉ tin vào một niềm tin chân chánh và miệt mài thực hiện
niềm tin ấy. Một khi ta có được niềm hy vọng này, cuộc
đời sẽ hạnh phúc và đáng sống. Một người được tiền
hay mất tiền; người ấy thương yêu hay thất tình; thế nào
cũng có lúc người ấy thăng tiến chức vụ hay mất việc
vì một lỗi lầm lặt vặt nào đó; người ấy nuôi nấng
con cái thành công hay thất bại. Nếu chúng ta sống suốt cuộc
đời theo cách như thế, không có mục đích, chỉ cứ lặp
lại những cảm giác rỗng tuyếch, dù cho mọi lúc đều có
vẻ như có thực chất và quan trọng, chúng ta cũng sẽ có
một cảm giác trống rỗng khó tả khi nhìn lại cuộc đời
của chúng ta. Nhưng nếu đời ta có một cái cột sống mạnh
mẽ của một niềm tin chân chánh xuyên suốt, và nếu ta có
một niềm tin vững chắc rằng ta có thể lần hồi tiến đến
Toàn Giác dù cho cuộc sống hiển nhiên có những thăng trầm,
những vui buồn, ta sẽ có thể vượt qua dễ dàng dù những
khó khăn có thể đến, dù con đường sống có thể dài, có
thể tạo nên nhiều lần tái sinh.
Đời người
không chỉ giới hạn trong thế giới này mà tương tục mãi
mãi trong từng thế giới của tương lai. Tuy nhiên, nếu ta
có thể thấy trước những sự việc vẫn cứ xảy đi xảy
lại trong đời sống hàng ngày của ta trong từng thế giới
về sau này thì ta sẽ chán nản và sẽ từ bỏ cái viễn cảnh
trống trải như thế.
Phần đông
người ta cứ lặp lại cùng một thứ khổ đau từ thế giới
này sang thế giới khác mà không ân hận gì vì người ta không
thấy trước được sự lặp lại này. Mặt khác, những ai
đã đạt được một niềm tin chân thật thì không chán nản,
không cảm thấy bất bình con đường của đời người, dù
nó có thể dài, vì họ biết họ có thể lần hồi tiến đến
Toàn Giác. Họ có thể sống một cuộc sống phong phú, đầy
hy vọng. Có thể bảo đây là công đức lớn lao nhất mà
chỉ những người tin theo Phật giáo mới có thể có được.
Một tín
đồ thực sự không những chỉ cần nỗ lực cho mục đích
của mình là lên đến cõi Phật mà còn nhằm làm cho càng
nhiều người càng tốt thành những kẻ đồng bạn của họ
tại đấy nữa. Số tín đồ thực sự càng gia tăng thì toàn
thể loài người càng phát triển và thế giới này càng gần
với cõi lý tưởng Tịch Quang Vĩnh Hằng (Tịnh Độ). Tóm
lại, đây là sự cô đọng của những công đức được giảng
trong các kinh.
Khi đức
Phật nói về chư Bồ-tát Ma-ha-tát đạt được những lợi
lạc lớn lao về Pháp nhờ có một niềm tin vững chắc vào
cuộc sống vô tận của Ngài, từ trên trời hoa mạn-đà-la,
hoa đại mạn-đà-la rơi xuống, rải lên vô số đức Phật
đang ngồi trên các tòa sư tử dưới những cây báu, rải
lên đức Phật Thích-ca-mâu-ni và đức Phật Đa Bảo đã diệt
độ từ lâu đang ngồi trên tòa sư tử trong tháp Thất Bảo,
và cũng rải lên tất cả chư đại Bồ-tát và tứ chúng (Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, và Ưu-bà-di).
Rải hoa vào
ai đó theo cách này là một sự biểu lộ lòng biết ơn; tập
tục này ngày nay vẫn còn ở Ấn Độ. Mưa hoa từ trên trời
xuống do đó tượng trưng rằng chư Thiên biểu lộ sự biết
ơn về giáo lý của đức Phật. Rải hoa vào tất cả đại
Bồ-tát và tứ chúng hội cũng như đức Phật trỏ ý rằng
chư đệ tử nghe Phật pháp cũng như đức Phật giảng pháp
đều được tôn kính cả. Khi ta nghe và dốc lòng tu tập giáo
lý của đức Phật, ta nên tưởng tượng rằng hoa mạn-đà-la
và hoa đại man-đà-la từ trời mưa rải xuống ta, dù ta không
thấy được những bông hoanày.
Trời
cũng mưa hương chiên-đàn, trầm thủy và nhiều thứ quý khác
nữa. Giữa không trung, trống trời cũng tự vang âm thanh thâm
diệu. Hình ảnh này biểu hiện sự tán thán Phật pháp. Hàng
ngàn loại thiên y cũng rơi rải xuống và mọi hướng đều
có treo đủ loại chuỗi anh lạc. Các lư hương báu, đốt
hương vô giá, tự di chuyển đến mọi nơi thích hợp để
cúng dường đại hội. Như đã giải thích,trong thuật ngữ
Phật học cúng dường ai là một hành động biểu hiện lòng
biết ơn của mình đối với đức Phật và giáo pháp của
Ngài.
Trên mỗi
đức Phật, chư Bồ-tát cầm phướn lọng, cái này trên cái
kia, lên thẳng đến cõi trời Phạm thiên. Tất cả chư Bồ-tát
này dùng âm thanh tuyệt diệu mà hát lên vô số bài hát ca
ngợi chư Phật. Cú ngữ “Trên mỗi đức Phật, chư Bồ-tát
cầm phướn lọng, cái này trên cái kia, lên thẳng đến cõi
trời Phạm thiên” tượng trưng Phật pháp có mặt khắp nơi
trong vũ trụ này và hết thảy chúng sanh đều được Phật
pháp cứu độ.
Bấy giờ
Bồ-tát Di-lặc từ chỗ ngồi đứng dậy, khúm núm vạch vai
phải, chắp tay hướng Phật và nói kệ rằng:
“Phật
giảng Pháp hy hữu
Trước đây
chưa từng nghe
Thế Tôn
có đại lực
Thọ
mạng không thể tính
Vô số chư
Phật tử
Nghe Thế
Tôn giảng rõ
Về
người được lợi Pháp
Ngập đầy
niềm hoan hỷ.”
Với phần mở
đầu này, Bồ-tát Di-lặc tiếp tục nói kệ nhắc lại các
công đức mà đức Phật đã giảng. Nếu ta đã hiểu phần
kinh văn trước đó thì ta có thể hiểu bài kệ này một cách
dễ dàng. Dưới đây chỉ là phần giải thích các từ có
nhiều nghĩa khác nhau.
Cú ngữ “Những
vị đạt Bất thối” nghĩa là những vị an trú trong một
quả vị chứng đạt không bao giờ còn thối thất dù có xảy
ra điều gì đi nữa. Cú ngữ này có cùng nghĩa với cú ngữ
“đã đạt được Vô sinh pháp nhẫn (chắc chắn không còn
tái sinh)”.
“Vạn ức
Triền tổng trì” có cùng nghĩa với cú ngữ “đã đạt
được trăm ngàn vạn ức đà-la-ni của vô lượng chuyển
biến (Triền đà-la-ni)”.
Trong các
cú ngữ “chư Bồ-tát... tái sanh một lần nữa / Sẽ đạt
nhứt thiết trí”, từ “nhứt thiết trí nghĩa là Trí tuệ
của đức Phật. Đoạn này trỏ đến chư Bồ-tát còn tái
sinh một lần nữa thì sẽ đạt đến cấp độ tâm thức
như cấp độ tâm thức của đức Phật.
“Đều
phát tâm Vô thượng” nghĩa là mong ước đạt Đạo vô thượng
(sự chứng ngộ của đức Phật); đây có cùng nghĩa với
biểu ngữ “Tất cả đều mong được Toàn Giác.”
Bài kệ cũng
có nói: “Thích, Phạm như hằng sa/ Vô số cõi Phật đến”.
Hai dòng này có nghĩa rằng chư Thiên, gồm các Đế Thích,
Phạm thiên từ vô số quốc độ trong vũ trụ và đã tụ
tập lại đảnh lễ đức Phật.
Trong các
dòng “Trước mỗi mỗi đức Phật / Phan báu treo phấp phới”,
từ “phan” trỏ những lá cờ quang vinh mà chư Tăng Phạm
thiên thường dựng lên ở các cổng đền thờ khi họ đã
đánh bại các đối thủ trong các cuộc tranh cãi về đạo
lý. Tập tục này rất thông thường ở Ấn Độ thời cổ,
và do đó biểu ngữ này thường được thấy trong các kinh
Phật giáo.
Niềm tin
của con người vào sự Vĩnh hằng của thọ mạng của đức
Phật là ý tưởng căn bản của những người Phật tử, từ
đó phát xuất tất cả giáo lý. Do đó, khi đức Thế Tôn
giảng về sự Vĩnh hằng của đời sống Ngài thì các phan
báu treo phấp phới trước mỗi đức Phật đến dự đại
hội, như là xác chứng rằng giáo lý mà đức Phật giảng
là tối thượng.
Bồ-tát Di-lặc
sau khi đã nhắc lại phần thuyết giảng của đức Phật bằng
kệ, đã chấm dứt bằng các câu sau đây:
“Nghe
Phật thọ vô lượng,
Mọi chúng
sanh hoan hỷ
Danh Phật
khắp vũ trụ
Rộng tưới
các căn lành
Của hết
thảy chúng sanh
Trợ giúp
tâm Vô thượng”.
Cũng không phải
là quá đáng khi bảo rằng cốt lõi của nửa đầu phẩm 17
có thể được tóm tắt bằng các câu trên. Từ phần kệ
này, chúng ta hiểu rõ được sự lĩnh hội Pháp của Bồ-tát
Di-lặc và khả năng diễn đạt của Ngài về sự lĩnh hội
ấy.
Từ xưa,
nửa phần sau của phẩm 15, trọn phẩm 16 và nửa phần đầu
của phẩm 17, thường được gọi là một phẩm và hai nửa
phẩm, được xác định như là phần chủ yếu của Bổn Môn.
“Một phẩm và hai nửa phẩm” này không những được xem
là phần chủ yếu của Bổn Môn mà còn được xem là cốt
lõi của toàn bộ kinh Pháp Hoa. Ngài Nichiren (Nhật Liên) xem
đấy là linh hồn của tất cả các kinh Phậtgiáo.
Sở dĩ “một
phẩm và hai nửa phẩm” này được xem là rất quan trọng
như thế là vì những gì mà người Phật tử tin tưởng -
điểm lớn nhất và căn bản nhất trong những điểm chính
của niềm tin Phật giáo - được nghiên cứu một cách rốt
ráo và đối tượng của niềm tin của chúng ta được thiết
lập một cách xác quyết. Điều này đã được bàn cũng khá
chi tiết khi luận về phẩm 16.
Trong nửa
đầu của phẩm 17, đức Phật dạy chúng ta một khi đã thiết
lập được niềm tin trong cuộc sống tôn giáo thì điều này
thật là quan trọng và đảm bảo đối với chúng ta. Nửa
sau của phẩm này và mười một phẩm còn lại của kinh được
xác định như là “phần kết” của Bổn Môn, trả lời
cho hai câu hỏi chủ yếu: “Những kết quả nào sẽ được
tạo ra khi ta có niềm tin chân chánh ?” và “Phải có thái
độ tâm thức thế nào để có được niềm tin chân chánh
?”
Trong phần
kết của kinh, đức Thế Tôn ủy thác cho chúng ta diễn giảng
và truyền bá niềm tin chân chánh này cho hậu thế.
Những công
đức được giảng trong nửa đầu của phẩm 17 là những
công đức của niềm tin. Nửa sau của phẩm 17 và nửa đầu
của phẩm 18 cũng giảng những công đức ấy. Tuy nhiên, bắt
đầu từ nửa sau của phẩm 18, những công đức được giảng
là những công đức xuất hiện trong những công việc cá nhân
hay trong đời sống hàng ngày của chúng ta.
Một số
người có thể nghĩ, “Ta không cần phải lưu tâm đến những
công đức như thế. Nếu ta nghiên cứu kỹ "một phẩm và
hai nửa phẩm, được xem là cốt lõi của kinh Pháp Hoa, hiểu
các phần này được đúng, và tin tưởng thâm sâu sự Vĩnh
hằng của thọ mạng đức Phật, thì ta có thể cứ thế mà
thực hành, chẳng cần chi nữa”. Điều ấy hẳn là một
thái độ có thể chấp nhận được nếu quả thực họ có
thể thực hiện trọn vẹn những gì họ suy nghĩ. Và nếu
được như thế, niềm tin của họ hẳn là toàn hảo. Tuy nhiên,
trong mười ngàn hay cả đến một trăm ngàn người, có được
một người như thế không ? Trong thực tế, thực khó mà thực
hiện trọn vẹn những gì ta nghĩ.
Đối với
những người bình thường, thái độ lý tưởng của tâm thức
hình như vô cùng xa vời với tình trạng hiện tại của họ
và hoàn toàn xa lạ với cuộc sống thực sự của họ khi
họ mới nghe dạy về thái độ ấy. Nhưng khi lý tưởng này
được giảng giải theo một thể cách dựa trên những vấn
đề quen thuộc trong đời sống hàng ngày của họ thì họ
thọ nhận giáo lý một cách hăng say. Đây là chức năng quan
trọng thứ nhất của phần kết của kinh Pháp Hoa.
Tâm của
những người bình thường có thể trở nên biếng nhác. Dù
cho có lưu tâm đầy đủ đến giá trị của giáo lý, chẳng
bao lâu họ cũng sẽ trở nên lơ là nếu họ chỉ hiểu những
đức tính của giáo lý trên mặt lý thuyết mà thôi. Tuy nhiên,
nếu họ vẫn tiếp tục đọc và tụng kinh này vốn dạy rằng
người ta được thăng tiến khi thọ trì và thực hành niềm
tin
chân chánh, thì họ có thể cách tân lại quyết tâm của họ
một khi nó bị chùn nhụt. Đây là chức năng thứ hai của
phần kết của kinh Pháp Hoa.
Đức Phật
bảo chúng ta giảng và phổ biến Pháp. Đây là điều mà chúng
ta phải biết ơn Ngài. Chúng ta được cổ vũ, được hưng
phấn khi chúng ta nhận được lời Ngài và nhập vào những
cảm ứng của Ngài. Đây là chức năng thứ ba của phần kết
của kinh.
Phần kết
của kinh Pháp Hoa là cần thiết cho những người bình thường,
nghĩa là cho hầu hết chúng ta. Hiểu rõ được điều này,
chúng ta phải nghiên cứu phần kết của Bổn Môn một cách
nhiệt tình như phần chính của nó bằng sự khiêm tốn hơn
là sự kiêu căng.
Thế rồi
đức Phật nói với Bồ-tát Ma-ha-tát Di-lặc: “Này A-dật-đa
! Những chúng sanh nào đã nghe được thọ mạng của đức
Phật lâu dài như thế và đã có khả năng thọ nhận được
dù chỉ một niệm tín giải - thì sẽ đạt được vô lượng
vô biên công đức, giả như có thiện nam tử, thiện nữ nhân
nào, nhằm đến Giác ngộ Tối thượng mà suốt tám mươi
vạn ức na-do-tha kiếp, thực hành năm ba-la-mật: bố thí ba-la-mật
(dàna-pàramita), trì giới ba-la-mật (sìla-pàramita), nhẫn nhục
ba-la-mật (kshànti-pàramita), tinh tấn ba-la-mật (vìrya-pàramita),
và Thiền định ba-la-mật (dhyàna-pàramità), không kể trí
tuệ ba-la-mật (prajnà-pàramità)(1); thì các công đức này
so với các công đức nói trên không bằng cả đến một phần
trăm, một phần ngàn hay một phần trăm ngàn vạn ức; quả
thực, không có số lượng, so sánh nào có thể nêu rõ được.
Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào có được những
công đức như thế mà không đạt được Vô thượng Bồ-đề
thì đấy là điều không thể có.”
Nếu ta không
đọc cẩn thận thì ta có thể hiểu nhầm lời dạy trên.
Điều có vẻ như mâu thuẫn là dù kinh Pháp Hoa nhấn mạnh
ở hạnh Bồ-tát, nhưng khi có một niệm tín giải về sự
Vĩnh hằng của thọ mạng đức Phật thì người ta sẽ đạt
nhiều công đức hơn khi thực hành năm ba-la-mật trong suốt
tám mươi vạn ức na-do-tha kiếp. Nhưng khi đọc cẩn thận
lời đức Phật nói với Bồ-tát Di-lặc, ta có thể thấy
được sự khác biệt trong các giá trị của các công đức
từ cú ngữ “không có số lượng, so sánh nào có thể nêu
rõ được.” Cú ngữ này có nghĩa rằng không có sự so sánh
giữa các công đức vì giá trị căn bản của chúng khác nhau.
Ví dụ, ta có thể so sánh mười ngàn đồng bảng Anh, hay đồng
đô la Mỹ hay đồng mã Đức với một đồng bảng, đồng
đô la hay đồng mã vì mỗi thứ là một số tiền. Nhưng số
tiền mười ngàn đồng bảng không thể so sánh với sự học,
chẳng hạn, vì hai thứ này vốn khác loạinhau.
Hiển nhiên,
chúng ta thực hành năm ba-la-mật - bố thí, trì giới, nhẫn
nhục, tinh tính và Thiền định - là tốt, nhưng các ba-la-mật
này, ngoại trừ ba-la-mật trí tuệ, đều rơi vào loại đạo
đức bình thường và tư duy triết học. Nếu chỉ thực hành
năm ba-la-mật này mà thôi thì chúng ta không thể thoát khỏi
ảo tưởng trong tiềm thức thâm sâu nhất của chúng ta; tức
là, chúng ta không thể đạt đến Niết-bàn. Trí tuệ ở đây
nhằm trỏ trí tuệ của đức Phật chứ không phải trí tuệ
của người bình thường. Nếu chúng ta tu tập năm ba-la-mật
trên căn bản trí tuệ của đức Phật, thì những tu tập
như thế là toàn hảo, là những sinh hoạt tôn giáo, và là
con đường chắc chắn dẫn đến Niết-bàn. Đây là lý do
tại sao khi nói với Bồ-tát Di-lặc, đức Phật đã nêu rõ
rằng Ngài đã bảo không kể ba-la-mật trí tuệ (prajna-pàramità).
Ta không thể
đạt Niết-bàn viên mãn dù ta có thực hành các đức hạnh
bình thường suốt hàng chục năm hay cả đến hàng thế kỷ.
Mặt khác, nếu ta chỉ có một niệm tín giải về sự vĩnh
hằng của thọ mạng của đức Phật, thì thái độ tâm thức
này sẽ khiến ta xác tín sự Vĩnh hằng của sự sống của
chính ta và hiểu rằng ta được đức Phật là sự sống vĩ
đại của vũ trụ khiến cho ta sống. Khi nào ta hiểu điều
này thì ta có thể đi vào cảnh giới đại an bình của tâm.
Phương pháp
trước là sự nỗ lực của người ta ngoài phạm vi tôn giáo,
trong khi phương pháp sau là cái trạng thái tâm thức của sự
thể chứng từ một quan điểm tôn giáo. Cả hai phương pháp
vốn khác nhau về giá trị và không có cách nào so sánh chúng
với nhau được. Nếu ta lĩnh hội được đức Phật ở đây
thực sự nghĩa là gì thì ta sẽ thấy rằng không phải là
quá đáng chút nào khi bảo rằng những công đức đạt được
do thực hành năm ba-la-mật không bằng một phần trăm ngàn
vạn ức của những công đức nhận được nhờ chỉ một
niệm tín giải.
BỐN ĐIỀU
TIN VÀ NĂM PHẨM LOẠI:
Từ xưa,
những điểm chủ yếu của phẩm này được xem là “bốn
điều tin” (shi-shin, tứ tín) và “năm phẩm loại” (go-hon,
ngũ phẩm). Ngài Trí Giả là người đầu tiên thực hiện
cách chia như thế ở Trung Hoa để làm cho phẩm này được
dễ hiểu hơn.
Khái niệm
về bốn điều tin phải theo trong thời đức Phật tại thế
xuất phát từ ý niệm rằng thể cách lý tưởng của niềm
tin trong lúc đức Phật còn tại thế được chia thành bốn
cấp độ sau đây: 1. Thọ nhận chỉ một niệm tín giải về
sự vĩnh hằng của thọ mạng của đức Phật, 2. Hiểu ý
nghĩa của niệm tín giải này, 3. Nỗ lực giảng kinh Pháp
Hoa cho những người khác, và 4. Thủ trì và thực hiện niềm
tín giải sâu sắc.
Năm phẩm
loại của niềm tin phải theo sau khi đức Phật nhập diệt
xuất phát từ ý niệm rằng thể cách lý tưởng của niềm
tin trong thời mạt pháp được chia thành năm phẩm loại sau
đây: 1. Trước hết, hoan hỷ đối với kinh Pháp Hoa, 2. Đọc
và tụng kinh này, 3. Giảng kinh này cho những người khác,
4.
Luôn thực
hành sáu ba-la-mật, và 5. chuyên thâm thực hành sáu ba-la-mật.
Điều tin
thứ nhất trong bốn điều tin là thọ nhận chỉ một niệm
tín giải về sự Vĩnh hằng của thọ mạng của đức Phật.
Đây là cấp độ thứ nhất của niềm tin, nhưng công đức
đạt được do việc thực hành này thì vượt mọi giới hạn,
độ số.
Thế rồi
vì muốn tuyên thuyết lại ý nghĩa đã giảng, đức Thế Tôn
nói kệ rằng:
“Dù
người cầu Phật tuệ,
Suốt tám
mươi vạn ức
Na-do-tha
số kiếp
Hành năm
ba-la-mật,
Và suốt
số kiếp ấy
Bố thí,
cúng dường Phật,
Duyên giác
và đệ tử,
Và các vị
Bồ-tát
Thức ăn,
uống quý hiếm,
Y phục,
giường thượng hạng,
Lập tinh
xá chiên-đàn,
Trang nghiêm
bằng vườn, rừng,
Những bố
thí như thế
Mỗi mỗi
đều tuyệt diệu
Trải suốt
số kiếp trên
Nhằm hồi
hướng Phật đạo;
Lại nữa,
người giữ giới
Thanh tịnh
không lầm lỗi
Và cầu
Đạo Vô thượng
Mà chư Phật
ca ngợi;
Hoặc thực
hành nhẫn nhục,
An trụ địa
nhu hòa,
Việc xấu
có xảy đến
Cũng giữ
tâm không động;
Dù những
tín đồ khác
Đầy cả
lòng kiêu mạn
Khinh khi,
gây buồn khổ,
Vẫn chịu
đựng kiên trì;
Hoặc người
chuyên tinh tấn
Chí, niệm
thường kiên cố
Suốt vô
lượng ức kiếp
Một lòng
vẫn tinh chuyên
Trải qua
vô số kiếp
Ở những
nơi hoang vắng,
Hoặc ngồi,
hoặc kinh hành
Tránh ngủ,
thường nhiếp tâm;
Người ấy
do như thế,
Phát sinh
được Thiền định
Tám mươi
vạn ức kiếp
An trụ,
tâm không loạn;
Giữ được
phước Nhứt tâm
Mong cầu
Đạo Vô thượng:
"Ta sẽ đạt
Toàn Giác
Thẳng đến
đỉnh Thiền định."
Người ấy
trải trăm ngàn
Vạn ức
các số kiếp
Hành các
công đức ấy
Như đã
giảng trên kia;
Nhưng thiện
nam, thiện nữ
Nghe về
thọ mạng Ta
Dù chỉ
một niệm tin,
Phước báo
hơn người nọ.
Nếu người
chẳng chút gì
Nghi ngờ
hay âu lo,
Có lúc lòng
thâm tín
Sẽ được
phước như thế.
Nếu có
chư Bồ-tát
Vô lượng
kiếp hành đạo
Nghe Ta dạy
thọ mạng,
Có thể
tin nhận được,
Những vị
được như thế
Cúi đầu
nhận kinh này,
Cầu: "Sẽ
được thọ mạng
Lâu dài,
độ chúng sanh;
Như nay đức
Thế Tôn
Là vua dòng
họ Thích
Đạo trường
hống sư tử
Thuyết pháp
không sợ hãi.
Mong sao ta
đời sau
Được tất
cả tôn kính
Khi ngồi
chốn đạo trường
Giảng thọ
mạng như thế"
Nếu có
kẻ thâm trầm
Thanh tịnh
và chánh trực
Học đạo,
trì chân lý
Hiểu rõ
lời Phật dạy.
Những người
được như thế
Sẽ không
nghi giáo pháp.”
Bài kệ này
gồm một số từ rất quan trọng cần được giải thích ở
đây. Trong cú ngữ “Nhằm hồi hướng Phật đạo”, từ
“hồi hướng” (ekò) nghĩa là chuyển công đức của chính
mình cho người khác để họ đạt đến Phật quả. Chẳng
hạn, nhờ đọc tụng kinh nên giáo lý của đức Phật bắt
rễ thâm sâu trong tâm ta, và do vậy tâm ta được thanh tịnh.
Từ quan điểm này, việc tụng kinh vốn là việc tu đạo để
chính mình đạt được Phật quả. Khi ta tụng kinh để tưởng
niệm cho vong linh ông bà tổ tiên, ta chuyển các công đức
mà chúng ta sẽ nhận được cho ông bà tổ tiên khiến họ
có thể đạt ngộ trong thế giới tâm thức. Vì thế việc
tụng kinh nhằm tưởng niệm cho vong linh người quá cố được
gọi là “hồi hướng” (ekò).
Tuy nhiên,
việc hồi hướng không phải được thực hiện chỉ riêng
vì người đã chết. Theo ý nghĩa gốc của nó, hồi hướng
cần được áp dụng cho cả người đang sống nữa. Thật
vậy, sự hồi hướng như thế có ý nghĩa đối với người
sống hơn là đối với người chết rất nhiều. Nếu chúng
ta tụng kinh trong khi nghĩ đến hạnh phúc của toàn thể nhân
loại, chúng ta hồi hướng các công đức mà chúng ta sẽ nhận
được cho toàn thể nhân loại. Như thế, hồi hướng công
đức là bố thí cho những người khác Pháp mà ta cần xem
là một kho tàng quan trọng nhất của một người. Đây là
một hành vi tự hy sinh và thiêng liêng hơn nhiều so với việc
cho người khác tiền tài hay của cải vật chất. Hồi hướng
công đức là hành động bố thí tối thượng.
Nếu ta cho
người khác tiền bạc hay của cải với lòng thầm mong sẽ
được nhận lại công đức nào đó thì sự cho ấy thuộc
loại bố thí thấp nhất. Khi ta bố thí cho người khác để
mong sao có thể làm tăng trưởng phần nào hạnh phúc của
họ thì sự bố thí này có căn bản ở những tiêu chuẩn
đạo đức bình thường. Tuy nhiên, khi ta bố thí cho những
người khác với ý nghĩ, “mong sao sự bố thí này khơi dậy
Phật tâm của người nhận và cuối cùng có thể khiến mọi
người thành tựu Phật đạo trên cõi đời này”, thì sự
bố thí như thế là loại bố thí tốt đẹp nhất. Đấy là
lý do vì sao kệ bảo: “Nhằm hồi hướng Phật đạo.”
Ở đây có
hai điểm cần phải được giảng thêm về hồi hướng công
đức. Một là dù sự hồi hướng công đức cần phải được
thực hiện trọn vẹn nhằm vì những người khác, công đức
thành tựu do một hành động như thế đương nhiên quay về
người thực hiện hành động ấy. Ví dụ, việc tụng kinh
cầu cho vong linh tổ tiên ta giúp cho chư vị đạt ngộ trong
thế giới tâm linh. Đồng thời, công đức thành tựu do việc
làm này cũng quay về cho người thực hiện vì người này
càng thực hành thường xuyên công việc này thì ác nghiệp
của người ấy càng có thể tiêutan.
Điểm thứ
hai là sự hồi hướng công đức lớn nhất cho vong linh ông
bà tổ tiên là tự mình thanh tịnh và tiến tu. Không
có gì làm hoan hỷ và an tâm các vong linh của ông bà tổ tiên
ta hơn là sự cải tiến của chính ta. Do đó, ta không nên
tự hạn ở việc tụng kinh và xướng niệm linh hiệu mà phải
nỗ lực thanh tịnh và nâng cao chính mình trong những hành
động và thái độ tâm thức của mình.
Thế rồi
đức Thế Tôn dạy tiếp: “Lại nữa, này A-dật-đa, nếu
ai nghe đến sự lâu dài của thọ mạng của đức Phật và
lĩnh hội ý nghĩa ấy thì công đức của người ấy sẽ vượt
quá giới hạn lượng và người ấy sẽ tiến đến trí tuệ
vô thượng của chư Như Lai.”
Đây là cấp
độ tâm thức vượt khỏi cấp độ của sự thọ nhận chỉ
một niệm tín giải về tính thường hằng của thọ mạng
đức Phật. Cấp độ này không chỉ có nghĩa là tín giải
tính thường hằng của thọ mạng đức Phật bằng chỉ một
niệm mà còn lĩnh hội ý nghĩa lớn lao của nó nữa. Chúng
ta được đức Phật là sự sống vĩ đại của vũ trụ làm
cho sống, và đồng thời chúng ta cũng được làm cho đồng
nhất với Ngài. Sự Vĩnh hằng của sự sống của đức Phật
có nghĩa là sự Vĩnh hằng của sự sống của chính chúng
ta. Dù rằng sự hiện hữu của chúng ta có vẻ khác với sự
hiện hữu của đức Phật vì chúng ta bị mây ảo tưởng
bao phủ, chắc chắn cuối cùng chúng ta cũng sẽ thành Phật
nếu chúng ta cố gắng gỡ bỏ lần lượt từng đám mây ảo
tưởng khỏi tâm chúng ta. Sau một, hai đời, ta không thể
đạt Phật quả, nhưng một khi đã hiểu sự bất tử của
sự sống của chính ta thì ta có thể thẳng tiến trên đường
với niềm hy vọng và lòng can đảm. Nếu mọi người có cùng
cảm nhận và cùng nhau tiến đến mục đích này thì một
xã hội hòa bình, lý tưởng sẽ được thể hiện trên trái
đất này.
Khi ta hiểu
cái ý nghĩa sâu xa của sự bất tử của thọ mạng đức
Phật thì giáo lý ấy có vẻ quá đơn giản, điều này ghi
dấu một bước tiến đến trí tuệ của đức Phật. Cấp
độ tâm thức này mà ta đạt được do đào sâu niềm tin
được ngài Trí Giả gọi là cấp độ của sự lĩnh hội
ý nghĩa của sự Vĩnh hằng của thọ mạng đức Phật. “Huống
chi trường hợp người nỗ lực nghe kinh này, hoặc khiến
những người khác nghe kinh, hoặc tự mình thủ trì kinh hoặc
khiến những người khác thủ trì kinh, hoặc tự mình chép
kinh, hoặc khiến những người khác chép kinh, hoặc dùng hoa,
hương, vòng hoa, cờ, phướn, trướng lụa hay đèn dầu thơm
và bơ lỏng mà cúng dường kinh, thì công đức của người
này vô lượng vô biên và có thể tạo nên trí tuệ toàn hảo.”
Cấp độ
này là cấp độ của người tín đồ đã vượt qua một bước
xa hơn cấp độ lĩnh hội ý nghĩa của sự Vĩnh hằng của
thọ mạng đức Phật. Ở cấp độ thứ ba này, không những
ta chỉ hiểu ý nghĩa thực sự của sự Vĩnh hằng của thọ
mạng đức Phật mà còn nỗ lực nghe và không quên giáo pháp
của Ngài như là giáo pháp ấy đã bắt rễ trong tâm ta; và
ta miệt mài tu đạo, gồm cả việc sao chép các kinh. Ngoài
những thực hành như thế, ta phải thúc đẩy và khiến cho
những người khác tu tập. Đây là cấp độ nỗ lực giảng
kinh Pháp Hoa phổ rộng cho những người khác.
Đồng thời,
cấp độ này dạy chúng ta đảnh lễ kinh Pháp Hoa theo nhiều
cách tôn kính kinh khác nhau. Đảnh lễ kinh là một cách biểu
lộ lòng biết ơn chân thành của chúng ta đối với giáo lý
của đức Phật. Tên của các đồ cúng dường và trang hoàng
đẹp đẽ được nêu ra ở đây tượng trưng ý nghĩa của
lòng tri ân đức Phật được thể hiện bằng sự cúng dường
các thứ này cho kinh. Nếu ta có lòng tri ân sâu xa đối với
đức Phật thì việc ta biểu lộ lòng tri ân của ta là điều
tự nhiên. Đối với các tín đồ, trang hoàng các bàn thờ
của họ bằng nhiều thứ cúng dường là rất thích đáng.
“Này A-dật-đa
! Nếu có thiện nam tử hay thiện nữ nhân khi nghe ta Tuyên
thuyết rằng thọ mạng của Ta là miên trường mà dốc lòng
tin hiểu thì người ấy sẽ luôn luôn nhìn thấy đức Phật
giảng Pháp trên núi Kỳ-xà-quật (Grdhrakùta), có hội chúng
đại Bồ-tát và Thanh văn vây quanh. Và người ấy sẽ nhìn
thấy cõi Ta-bà này có đất bằng lưu ly, bằng phẳng, có
tám con đường được phân định bằng vàng diêm-phù-đàn
(jambùnada), bằng các hàng cây quý; có tháp, lầu, đài quán
đều bằng châu ngọc mà hội chúng Bồ-tát cùng ở chung trong
đó. Nếu người nào có thể thấy được như thế thì Ông
nên biết rằng đấy là sự biểu hiện của lòng tin hiểu
sâu xa.”
Những lời
này cho ta biết được cái trạng thái tâm linh mà ta đạt
được khi ta dốc lòng tin hiểu về sự trường cửu của
thọ mạng của đức Phật. Biểu ngữ “người ấy sẽ luôn
luôn nhìn thấy đức Phật giảng Pháp trên núi Kỳ-xà-quật,
có hội chúng đại Bồ-tát và Thanh văn vây quanh” có ý trỏ
chúng ta xác tín rằng đức Phật lúc nào cũng luôn luôn hiện
hữu. Đồng thời, qua biểu ngữ này, ta thực sự hiểu rằng
giáo lý của đức Phật luôn luôn được thuyết giảng quanh
ta.
Việc miêu
tả thế giới Ta-bà là một vùng đất đẹp đẽ trỏ ý rằng
cõi Ta-bà được đồng hóa với cõi Tịnh Độ về bản chất,
nếu chúng ta có thể chỉ dấn sâu niềm tin đủ để nhận
thức như thế. Thế giới thực sự hiện nay sẽ biến thành
một thế giới thanh tịnh và hỷ lạc nếu tâm ta luôn được
tràn ngập sự phấn kích tôn giáo nhờ giáo lý của đức
Phật. Trong trạng thái tâm thức này, chỗ nào chúng ta nhìn
thấy cũng đẹp đẽ và người nào chúng ta nhìn thấy cũng
giống như một vị Bồ-tát. Chúng ta có thể xuyên thủng cái
xấu bên ngoài của một người mà nhìn thấy suốt cái Phật
tính vốn có ở thâm sâu trong tâm thức người ấy.
Cái trạng
thái tâm thức cao nhất này mà các tín đồ có thể đạt
được gọi là trạng thái thể hiện sự tín giải thâm sâu.
Nếu tự đáy lòng, chúng ta tin và hiểu rằng đức Phật là
một con người thực sự và có thọ mạng miên trường thì
chúng ta có thể nhìn thấy cuộc sống và thế giới theo giáo
lý của Ngài và có thể an trú không ngừng trong cảnh giới
của niềm phấn kích tôn giáo. Kết quả là chúng ta có thể
thấy cõi Ta-bà là cõi Tịnh Quang Vĩnh Cửu.
NĂM LOẠI
CÔNG ĐỨC:
“Lại nữa,
sau khi Như Lai diệt độ, nếu có người nào nghe kinh này mà
không phỉ báng, lại khởi lòng vui thích thì ông nên biết
rằng người ấy đã có dấu hiệu tin và hiểu sâu xa.”
Bằng những
lời trên, đức Phật bắt đầu giảng về con đường lý
tưởng của người tín đồ và về năm thứ công đức mà
người tín đồ sẽ đạt được sau khi đức Phật nhập diệt.
Ta không thể
bảo rằng chúng ta chỉ có lòng tin một khi ta hiểu giáo pháp
của đức Phật về lý thuyết và chấp nhận giáo lý ấy
về lý trí. Ta không thể có được cái tâm trạng của niềm
tin nếu ta không cảm thấy niềm hoan hỷ về tâm linh đối
với giáo pháp. Khi ta mới hoan hỷ đối với giáo pháp thì
tâm trạng này được gọi là “sự hoan hỷ đầu tiên đối
với giáo pháp”, tức công đức thứ nhất trong năm thứ
công đức. Trạng thái tâm thức này quan trọng đến
nỗi các công đức của nó sẽ được bàn kỹ ở phẩm 18,
“Tùy Hỷ Công Đức” (những xứng đáp của sự vui vẻ
chấp nhận).
“Huống
chi người đọc, tụng, thọ nhận và chấp trì giáo pháp !
Người này đội Như Lai trên đầu(1). Này A-dật-đa ! Thiện
nam tử hay thiện nữ nhân như thế không cần phải dựng tháp,
chùa, tinh xá cho ta, cũng không cần cúng dường bốn thứ cần
thiết(2) cho chư Tăng. Tại sao ? Vì thiện nam tử hay thiện
nữ nhân này thọ trì, đọc tụng kinh này vốn đã dựng tháp,
xây tịnh xá và cúng dường các thứ cho chư Tăng, tức là
đã dựng tháp thờ xá-lợi Phật bằng bảy thứ báu, cao,
rộng và vút đến cõi Phạm thiên, có treo phướn, lọng và
các thứ chuông báu, có hoa, hương, chuỗi anh lạc, bột trầm,
dầu bôi thơm, hương liệu, trống, nhạc cụ, tiêu, địch,
đàn khung, đủ loại điệu múa và trò vui - ca hát và tán
tụng bằng âm thanh vi diệu - người ấy vốn đã cúng dường
các thứ này từ vô lượng ngàn vạn ức kiếp.”
Trong cấp
độ tâm thức này, người tín đồ đã tiến lên một tầng
bậc vượt qua sự hoan hỷ đầu tiên đối với giáo pháp,
người ấy vững vàng thọ trì không ngừng tụng đọc giáo
pháp. Đọc và tụng một bộ kinh không có nghĩa là tụng kinh
thuộc lòng mà còn phải nghiên cứu kinh bằng cách đọc đi
đọc lại kinh cho mình với sự suy nghĩ thận trọng. Cấp
độ này của niềm tin được gọi là “đọc và tụng kinh”.
“Này A-dật-đa
! Sau khi ta nhập diệt, nếu có ai nghe kinh này mà có thể thọ
trì, hoặc tự mình chép hoặc khiến người khác chép kinh,
thì người ấy vốn đã dựng các tinh xá và đã xây dựng
các đền chùa bằng gỗ trầm đỏ gồm ba mươi hai điện
thờ, cao bằng tám cây ta-la, nguy nga, rộng rãi, bên trong có
hàng trăm, hàng ngàn Tỳ-kheo cư trú; lại được trang trí
bằng vườn, rừng, hồ tắm, các chỗ kinh hành và phòng Thiền;
lại có y phục, thực phẩm, giường chiếu, thuốc thang và
đủ thứ tạo sự hỷ lạc được cung cấp tối đa. Những
tinh xá như thế và những số lượng đền chùa như thế,
trăm ngàn vạn ức, vô số kể, người ấy đã cúng dường
Ta và các Tỳ-kheo của Ta trước mặt ta đây. Do đó Ta bảo
rằng sau khi Như Lai diệt độ, nếu có ai thọ trì kinh, đọc
tụng kinh, giảng kinh cho người khác, tự mình chép kinh hay
khiến người khác chép kinh và đảnh lễ kinh, thì người
ấy không cần phải dựng tháp, xây đền chùa, xây tinh xá
và cúng dường chư Tăng nữa.”
Ở cấp độ
này, chúng ta sẽ nhận thấy rằng chúng ta không thể không
giảng giáo lý của đức Phật cho người khác khi ta thọ trì,
tụng đọc kinh và dần dần hiểu được giá trị của kinh.
Ở đây, ta không nên giới hạn việc giảng Phật pháp chỉ
bằng lời nói. Ta có thể thông tin giáo lý của Ngài bằng
bài viết rồi đăng vào tạp chí. Và ngay cả một người
ăn nói, viết lách kém cỏi cũng có thể nêu giá trị của
Phật pháp cho người khác biết nhờ sự tu tập thầm lặng
của mình. Tất cả những thực hành này đều bao gồm những
biểu ngữ “giảng giáo lý của đức Phật cho người khá
c”.
Loại giảng
giáo lý của đức Phật cho người khác là cái cấp độ tâm
linh trong đó chúng ta đi xa hơn sự tự mình hoan hỷ và được
cứu độ theo nghĩa cá nhân, mà tiến tới cái hạnh Bồ-tát
là làm lợi lạc và cứu độ những người khác. Do đó, tự
nhiên là những công đức mà người ta đạt được trong loại
này thì lớn hơn nhiều so với loại đọc tụng kinh.
Tưởng cũng
cần phải nói rõ thêm đôi chút về loại này. Cả trong loại
này và hai loại trước, đức Phật dạy rằng một thiện
nam tử hay một thiện nữ nhân không còn cần phải dựng các
tháp bảy báu để thờ xá-lợi của Ngài, cũng không cần
xây tinh xá cúng dường chư Tăng, Ngài lặp lại những gì
Ngài đã dạy ở phẩm 10, “Pháp Sư”.
Qua đó, đức
Phật dạy ta rằng những thứ cúng dường chân thành thuộc
tinh thần mà một người dâng lên đức Phật thì giá trị
hơn nhiều so với những thứ cúng dường có tính chất hình
thức thuộc vật chất. Ngài cũng khuyên ta rằng thứ cúng
dường lớn nhất mà một người có thể dâng lên đức Phật
là lòng tin và sự thọ nhận giáo pháp của Ngài, thực hành,
thuyết giảng và quảng bá giáo pháp ấy. Trước hết, ta phải
nhớ kỹ điều này trong tâm. Kế đến, ta chớ nghĩ rằng
ta không còn cần có các đền chùa hay tinh xá đơn giản là
vì đức Phật đã tuyên bố rằng toàn bộ thân thể Ngài
gồm trong giáo lý của Ngài và rằng ta không nên thờ xá-lợi
của Ngài. Một người chấp nhận các kinh chỉ từ quan điểm
kinh viện thì chỉ có thể diễn dịch lời của đức Phật
về mặt ngôn từ. Người ấy không có ý niệm về lòng biết
ơn và sự tôn kính đức Phật. Người như thế chỉ chấp
nhận giáo lý của đức Phật trên mặt lý thuyết mà quên
đi sự tin tưởng vào giáo lý.
Không cần
phải nói, theo giáo lý của đức Phật, các tín đồ cần
phải nỗ lực tối đa để tín thọ các giáo lý, thực hành
và thuyết giảng giáo lý vì lợi ích của toàn bộ xã hội.
Đồng thời, ta chẳng có cách gì khác hơn là cúng dường
phẩm vật lên đức Bổn sư Đại Từ Bi là vị dẫn ta đến
Đạo vô thượng và lên chư vị Bồ-tát là những vị phụ
trợ Ngài xuyên suốt mọi thời đại.
Như đã nhắc
lại nhiều lần trong cuốn sách này, chúng ta càng xúc động
vì giáo lý của đức Phật thì chúng ta càng có xu hướng
biểu hiện cảm xúc của chúng ta ra bên ngoài. Đấy là lý
do tại sao những người Phật tử luôn luôn trang trí bàn thờ
của họ bằng nhiều phẩm vật cúng dường, lễ bái bàn thờ
mỗi sáng mỗi tối, ca tụng đức Phật và đảnh lễ Ngài
bằng cách thực hiện các hành tác có tính cách tôn giáo.
“Huống
chi có người có thể thọ trì kinh này, lại bố thí, trì
giới, nhẫn nhục, tinh tấn, Thiền định và trí tuệ !
Công đức của người ấy sẽ tối thắng, vô lượng, vô
biên; ví như hư không, Đông, Tây, Nam, Bắc, tứ duy, thượng,
hạ đều vô lượng, vô biên. Công đức của người ấy cũng
sẽ như vậy, vô lượng, vô biên, và người ấy sẽ nhanh
chóng đạt đến trí tuệ toàn hảo.”
Đây nói
đến loại công đức mà chúng ta đạt được do việc tu đạo,
tức là loại công đức thực hành đồng thời sáu ba-la-mật.
Đó là thọ trì Phật pháp, đọc tụng và thuyết giảng cho
người khác và đồng thời thực hành sáu ba-la-mật. Tuy nhiên,
ở cấp độ này, hầu như không thể thực hành cả sáu ba-la-mật
một cách toàn hảo. Do đó đức Phật dạy rằng ta khởi sự
thực hành các ba-la-mật từ bất cứ chỗ nào mà ta có thể,
tùy theo tình trạng, hoàn cảnh của ta. Đức Phật Thích-ca-mâu-ni
không bao giờ thúc đẩy chúng ta làm cái không thể làm được.
Ngài dạy ta hãy thực hành theo từng bước, khởi sự ở cái
cấp độ nào mà ta có thể khởi sự. Ở phẩm 2, “Phương
Tiện”, Ngài dạy rằng tất cả chúng sanh có thể vào Phật
đạo từ bất cứ ở đâu, ngay cả từ sự việc trẻ con
chơi đùa gom cát để làm tháp Phật. Ở phẩm 17, đức Phật
trỏ cho chúng ta cái thứ tự luận lý theo đó chúng ta có
thể đào sâu niềm tin từng bước.
Điều quan
trọng cần ghi nhận là năm ba-la-mật có vẻ như bị xem nhẹ
để nhấn mạnh các công đức đạt được ở cấp độ thọ
nhận chỉ một ý tưởng tin và hiểu về sự Vĩnh hằng của
thọ mạng đức Phật. Nhưng ở loại công đức đang nêu,
sáu ba-la-mật chứ không phải năm, được nhấn mạnh là những
cần thiết cho niềm tin. Đức Phật Thích-ca vốn có trí tuệ
toàn hảo và là vị Đạo sư vĩ đại; các môn đệ được
Ngài trực tiếp giáo hóa khi Ngài còn tại thế có thể vào
sâu trong niềm tin do chỉ cần tín giải giáo lý của đức
Phật nhờ nghe và lĩnh hội giáo lý ấy. Khi thực hành năm
ba-la-mật, chư đệ tử của đức Phật đã có thể đạt
nhiều tiến bộ trong tu tập vì đức Phật đã trực tiếp
giáo hóa họ bằng trí tuệ toàn hảo của Ngài. Nói cho có
phần đơn giản, họ được đức Phật trao cho trí tuệ và
căn cứ vào trí tuệ này, họ chỉ cần chuyên chú thực hành
năm ba-la-mật kia - bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn
và Thiền định. Hẳn cũng dễ tưởng tượng ra rằng, họ
đã có thể không ngừng tu tập các ba-la-mật này bằng niềm
cảm xúc sâu đậm và sự phấn kích tôn giáo vì họ tu tập
trước sự hiện diện của đức Phật, mẫu thức của họ
như là một con người có căn tính vĩ đại và là bậc Đạo
sư tối thượng.
Tuy nhiên,
chúng ta phải học và hành Phật pháp bằng năng lực của
chính chúng ta trong thời mạt pháp này, trong lúc vắng bóng
đức Phật Thích-ca-mâu-ni, người dẫn đạo và vị Thầy
vĩ đại của chúng ta. Chúng ta cầu tìm trí tuệ trong giáo
pháp mà Ngài đã để lại cho chúng ta và phải thể nghiệm
giáo pháp ấy cho chính mình. So với lúc Ngài tại thế, quả
thực ngày nay, việc thực hành sáu ba-la-mật, kể cả trí
tuệ, phải được xem là quan trọng nhất. Đấy là lý do khiến
đức Phật cố thúc đẩy chúng ta thực hiện loại công đức
này mà tu tập hết cả sáu ba-la-mật.
Các tín đồ
thuộc cấp độ tâm thức của loại này tu tập sáu ba-la-mật
theo nhiều cách khác nhau tùy theo hoàn cảnh của mỗi người.
Đôi khi có người thuộc tình trạng không thể thực hành
một số ba-la-mật nào đó và phải thực hành các ba-la-mật
ấy cùng lúc với loại công đức thọ trì giáo pháp của
đức Phật, đọc tụng và giảng giáo pháp cho người khác.
Đấy là lý do tại sao loại công đức này được gọi là
“đồng thời tu tập sáu ba-la-mật”.
Tuy nhiên,
ở loại thứ năm và thứ sáu, các tín đồ có thể tu tập
sáu ba-la-mật một cách tinh chuyên và trọn vẹn. Tiếp đó,
đức Phật giảng về các công đức mà các tín đồ sẽ đạt
được khi thực hành như thế: “Nếu có người đọc tụng,
thọ trì kinh này, hoặc giảng kinh này cho người khác, hoặc
tự mình chép hay khiến người khác chép kinh này; lại nữa,
người ấy còn có thể dựng tháp, xây tu viện, cúng dường
tán thán chư Tỳ-kheo Thanh văn; lại dùng trăm ngàn vạn ức
cách mà mà tán thán công đức của chư Bồ-tát; lại nữa,
nếu người ấy còn suy luận nhiều cách theo ý nghĩa của
kinh Pháp Hoa mà giải thích kinh này cho người khác; lại nữa,
nếu người ấy còn có thể thanh tịnh trì giới, sống thân
ái với người nhu hòa, nhẫn nhục chứ không sân hận, kiên
cố trong ý chí và ý niệm, luôn trọng Thiền định, được
Thiền định thâm sâu, tinh tấn dũng mãnh mà hộ trì điều
thiện, linh lợi và trí tuệ, có thể trả lời những vấn
nạn khó khăn; lại nữa, này A-dật-đa, nếu sau khi Ta diệt
độ, thiện nam tử, thiện nữ nhơn nào thọ trì, đọc tụng
kinh này, có những công đức cao vời như những công đức
này, thì Ông nên biết rằng những người ấy đã tiến đến
Đạo trường, sắp đạt Toàn Giác mà ngồi dưới cội cây
Giác ngộ”.
Loại này
được gọi là “tinh chuyên thực hành sáu ba-la-mật”, nghĩa
là thực hành các ba-la-mật một cách trọn vẹn. Như đức
Phật đã tuyên bố, nếu có ai đạt được cấp độ tâm
thức này thì người ấy đã gần với Toàn Giác. Cho nên đức
Phật dạy: “Này A-dật-đa ! Chỗ nào những thiện nam tử
hay thiện nữ nhân ngồi, đứng hay đi, thì chỗ ấy Ông nên
dựng miếu; tất cả trời và người cần đảnh lễ như tháp
xá-lợi Phật”.
Ở loại
thứ tư này, đức Phật dạy rằng một người không cần
phải dựng tháp cho mình nữa, trong khi ở loại cuối cùng,
Ngài tuyên bố rằng hễ chỗ nào có người tu tập tinh chuyên
sáu ba-la-mật thì nên dựng miếu và nên đảnh lễ như tháp
xá-lợi Phật. Ở đây, đức Phật nhấn mạnh tầm mức quan
trọng lớn lao của việc thực hành, thuyết giảng và quảng
bá giáo lý của Ngài cho người khác trong thời mạt pháp.
Chúng ta nên cảm nhận ân đức về những lời này của đức
Phật.
Kế đến,
đức Phật trùng tuyên giáo lý của Ngài bằng kệ. Nếu chúng
ta đã hiểu ý nghĩa của phần văn xuôi thì chúng ta sẽ hiểu
những câu kệ này, vì đoạn kệ hầu như gồm đúng hết
nội dung ấy. Bốn dòng cuối của đoạn kệ cần được xem
là những lời thiêng liêng nhất của đức Phật:
Phật
tử trú nơi này,
Nơi chính
Phật thọ dụng
Và mãi trú
nơi đây
Đi, ngồi
hoặc nằm xuống.
Đức Phật
xem những ai tín giải thâm thiết giáo pháp của Ngài như là
con của Ngài và gọi những người ấy là Phật tử. Ngài
cũng dạy rằng hễ chỗ nào người Phật tử ở thì chỗ
ấy là chổ ở của đức Phật. “Nơi chính Phật thọ dụng”.
Ngài tuyên bố rằng Ngài vẫn tiếp tục trú tại nơi như
thế, đi, ngồi và nằm xuống ở đấy.
Nếu ta có
lòng tin sâu đậm và triệt để, tự thân đức Phật sẽ
đến nơi nào ta có thể ở và trú tại đó với ta. Đối
với một tín đồ, không có gì thích thú hơn nữa. Mỗi ngày
khởi sự và chấm dứt bằng sự phấn kích tôn giáo. Buổi
sáng ta thức dậy cùng với đức Phật, buổi tối ta đi ngủ
cùng với Ngài. Đây là sự toàn hảo của đời sống đạo
của con người.