Phẩm
16
NHƯ LAI
THỌ LƯỢNG
PHẬT
GIÁO LÀ TRIẾT HỌC HAY TÔN GIÁO
Cuốn
sách Phật giáo (Buddhism) của Christmas Humphreys đã được đọc
rộng khắp phương Tây. Tác giả, một luật gia có tài và
cũng là một Phật tử thuần thành, đã viết trong bài tựa
của ông: “Quả thật, qua các kiểm nhận thông thường, Phật
giáo không phải là một tôn giáo mà đúng ra là một triết
học tâm linh có thái độ sống thản nhiên và khách quan như
thái độ của nhà khoa học hiện đại. Nhưng Phật giáo sinh
động, sinh động lạ kỳ...” Chúng ta không thể không thán
phục sự việc ông Humphreys, một người phương Tây, đã nắm
được bản chất của Phật giáo một cách chính xác như vậy.
Thực vậy, ông đã có thể hiểu Phật giáo một cách đích
thực và trong sáng vì ông sinh ra và lớn lên tại Anh quốc
một nước không có truyền thống Phật giáo.
Khi chúng
ta xem xét lại giáo lý Tích Môn trong kinh Pháp Hoa, chúng ta
nhận ra rằng dù Phật giáo một mặt quả thực là một tôn
giáo mà cuối chương này ta sẽ nêu rõ, đồng thời, cùng
với Christmas Humpheys, chúng ta có thể bảo rằng Phật giáo
là một hệ thống triết học và đạo đức lớn. Triết học
là một khoa học nghiên cứu về thế giới này, đời người
và những nguyên lý căn bản của các sự vật. Đạo đức
là con đường của bổn phận. Giáo lý kinh Pháp Hoa, trong chừng
mức chúng ta vừa khảo sát, có thể tạm được tổng kết
như là triết học và đạo đức học.
Tuy nhiên,
khi nghiên cứu toàn bộ giáo lý của kinh Pháp Hoa, giáo lý
sâu xa nhất của đức Phật, chúng ta nhận ra rằng đây cũng
là giáo lý của một tôn giáo khiến chúng ta được cứu thoát
khỏi sự khổ đau tâm linh, một thứ gì đó không thể do
chỉ học không mà được, khiến đời người sáng sủa hơn
và đưa thế giới đến hòa bình. Sự thâm sâu của kinh Pháp
Hoa như là một giáo lý tôn giáo đã được biểu lộ trước
tiên ở phẩm 16 “Như Lai Thọ Lượng” (Khai tỏ về mạng
sống [vĩnh cửu] của đức Như Lai. Trong khi phẩm 2, “Phương
Tiện” được xem là cốt lõi của Tích Môn, thì phẩm 16
được xem là tinh yếu của Bổn Môn và cũng là phẩm chủ
yếu của toàn bộ kinh Pháp Hoa.
BA GIÁO LÝ
QUAN TRỌNG:
Từ thời
xưa, phẩm “Như Lai Thọ Lượng” được xem là gồm ba giáo
lý quan trọng: “Khai mở cái gần và cho thấy cái xa” (kaigon
kennon; khai cận kiến viễn); “chấp nhận đức Phật lịch
sử như là một biểu hiện đương thời của đức Phật Thích-ca-mâu-ni
vĩnh hằng và nhìn thấy sự vĩnh hằng của đức Phật Thích-ca-mâu-ni”
(kaishaku kenpon; khai tích kiến bổn), khai mở giáo lý tạm lập
và cho thấy giáo lý chân thực (kaigon kenjitsu, khai quyền kiến
thực).
Giáo lý thứ
nhất, “khai mở cái Gần và cho thấy cái Xa” nghĩa là chúng
ta bắt đầu từ các sự kiện dễ nhận ra, rồi dần dần
tìm ra gốc gác của nó và khám phá ra những ngụ ý tối hậu
của nó. “Một sự kiện dễ nhận ra” là đức Phật Thích-ca-mâu-ni
xuất hiện trong đời này, chứng ngộ và thuyết dạy cho nhiều
người khiến họ đạt tuệ. Sự kiện này phát sinh từ đâu
? Có phải đức Phật Thích-ca-mâu-ni bỗng nhiên giác ngộ
Thánh Pháp không liên hệ gì tới lịch sử đã qua của con
người ? Điều này không thể có. Pháp phải vốn đã có trước
khi đức Phật sinh ra và có từ nguồn gốc của con người
- thực vậy, từ khi vũ trụ được tạo thành. Vì Pháp đã
có, nên đức Phật đã nhận thức được Pháp.
Dù con người
đã dần dần tiến hóa ngay từ nguồn gốc sự sống của
mình, họ cũng không biết Pháp chân thực mà chỉ sống theo
bản năng hay theo pháp sai lạc. Chừng nào họ còn như thế
thì không thể có sự phát triển thực sự. Điều hợp lý
duy nhất là có người phải giác ngộ Pháp đúng đắn và
chân thật và xuất hiện trên đời này nhằm mục đích thuyết
giảng Pháp ấy cho người khác. Bấy giờ đang là thời gian
chín muồi cho một con người như thế xuất hiện và đỉnh
điểm là sự xuất hiện của đức Phật trên đời.
Sự xuất
hiện của đức Phật và sự giác ngộ của Ngài trước hết
khai mở cho người ta thấy Pháp mà chưa có ai khác thể chứng,
mặc dầu Pháp vốn đã hiện hữu từ thời xa xăm. Điều
này được nêu rõ trong phẩm “Như Lai Thọ Lượng”. Giáo
lý “khai mở cái gần và nhìn thấy cái xa” có một ý nghĩa
rất quan trọng vì qua sự kiện dễ nhận thức là sự xuất
hiện của đức Phật trong đời này và sự giác ngộ của
Ngài, chúng ta có thể hiểu được Pháp vốn đã có từ quá
khứ vô tận.
Giáo lý thứ
hai là “chấp nhận đức Phật lịch sử như là một biểu
hiện thích đương của đức Phật Thích-ca-mâu-ni vĩnh hằng”.
Trong một nghĩa rộng, thuật ngữ “Tích Phật” (Shakubutsu,
vị Phật xuất hiện) nhằm trỏ vào chư Phật như Đa Bảo,
A-di-đà, không kể đến đức Phật Thích-ca-mâu-ni, vị đã
xuất hiện như là một con người trên đời này. Khi đi theo
cái nguyên lý đằng sau sự biểu hiện của chư Phật như
thế, chúng ta hiểu rằng phải có một đức Phật làm căn
bản cho chư vị ấy. Vì chân lý chỉ là một nên chân lý
phải có một căn bản độc nhất dù nó xuất hiện dưới
nhiều hình thức khác nhau. Khi chúng ta xét cái nguyên lý về
đức Phật Thích-ca-mâu-ni, vị xuất hiện trên đời này,
thì chúng ta nhận ra rằng đằng sau sự biểu hiện này là
một đức Bổn Phật (đức Phật Nguyên gốc thường hằng).
Đây là giáo lý “chấp nhận đức Phật lịch sử như là
một sự biểu hiện đương thời của đức Phật Thích-ca-mâu-ni
vĩnh hằng và nhìn thấy sự vĩnh hằng của đức Phật Thích-ca-mâu-ni”
được nêu tỏ trong phẩm này.
Giáo lý thứ
ba là “khai mở giáo lý tạm lập và cho thấy giáo lý chân
thực”. Từ gon, “đương thời” nghĩa là “quyền” hay
“tạm thời”, như trong thuật ngữ “quyền hiện” (gongen).
Từ này cũng có nghĩa là “phó” hay “quyền” đối với
“chánh” hay “nguyên” như trong từ “quyền tăng chánh”
(gon-no-sòjò), vị cao Tăng Phật giáo ở hàng thứ hai. Giáo
lý tạm lập hay quyền giáo ở đây có nghĩa là giáo lý tạm
thời hay dự bị như là phương tiện hay cách thức đưa mọi
chúng sanh đến chân lý. Quyền giáo rất thiêng liêng nhưng
nó vẫn là giáo lý “tạm thời” như là một phương tiện
thuyết giảng chân lý và cũng là một giáo lý “hạng hai”.
Niềm tin
của tất cả chúng sanh được nâng lên một mức độ rất
cao nhờ phương tiện của giáo lý tạm thời như thế, nhưng
các chúng sanh vẫn chưa đạt trạng thái cao nhất của tâm.
Phẩm “Như Lai Thọ Lượng” khai mở cái giáo lý chân thật
và tối thượng, đấy là khai mở giáo lý tạm lập và cho
thấy giáo lý chân thật.
Vì phẩm
16 bao gồm ba giáo lý quan trọng này, chúng ta cần xem lại
giáo lý về Tích Môn để hiểu rõ rằng giáo lý Tích Môn
hiển nhiên đưa đến giáo lý Bổn Môn. Điều quan trọng nhất
là chúng ta phải hiểu cái tinh yếu của tôn giáo trước khi
đi đến chủ đề của phẩm này.
Lý do chính
khiến cho giáo lý Phật giáo thường có vẻ không phải là
một tôn giáo theo nghĩa thông thường của từ này là đức
Phật Thích-ca đã không chấp nhận sự hiện hữu của một
đấng Thượng đế siêu việt điều hành số phận con người.
Đức Phật không bao giờ thuyết giảng về niềm tin vào một
đấng Thượng đế sáng tạo ra thế giới này và nắm quyền
vận hành vũ trụ - một hữu thể tuyệt đối sẽ cứu vớt
con người nếu con người cầu xin và thờ kính hữu thể ấy.
Từ Phạn
ngữ Buddha phát xuất từ từ Bodhi trỏ ý niệm về sự “sử
dụng lý trí”. Ai có đủ trình độ lý trí mới có thể
hiểu được cái trạng thái tâm thức về chứng ngộ mà đức
Phật giảng dạy. Sự chứng ngộ này không phải là cái gì
phi thực tế mà chỉ có ai xúc cảm mới nhận thức được,
cũng không phải là cái gì được đấng tuyệt đối mà người
ta chỉ tin tưởng ban cho.
Đức Phật
Thích-ca không xem vũ trụ này là do Thượng đế sáng tạo
hay chinh phục, mà xem đấy là kết quả của mối tương quan
nhân quả, từ đó phát sinh mọi hiện tượng. Nhân duyên có
nghĩa là một nguyên nhân chủ yếu (in, nhân) và nguyên nhân
thứ yếu (en, duyên) hợp với nhau để sản sinh một kết
quả (ka, quả) và một sự đáp ứng lại (hò, báo). Trong đời
này không có cái gì là không biến đổi hay cố định về
hình trạng. Tất cả mọi sự vật đều có một nguyên nhân
trực tiếp (nguyên nhân chủ yếu, in, nhân). Khi nguyên nhân
này tiếp xúc với một cơ hội hay điều kiện (nguyên nhân
thứ yếu, en, duyên), thì kết quả của sự liên kết này
xuất hiện thành một hiện tượng (ka, quả). Kết quả này
để lại những dấu vết (sự đáp ứng lại, hò, báo), đức
Phật Thích-ca đã giải thích tất cả các sự vật trên đời
này như thế.
TAM PHÁP ẤN:
Sự tập
họp của một nguyên nhân chủ yếu và một nguyên nhân thứ
yếu đưa mỗi hành động đến một kết quả và một sự
báo đáp. Khi nhân bị triệt tiêu hay khi dù có nó nhưng nó
không tiếp xúc với duyên thì nó không sinh ra quả và báo.
Do đó, trong đời này không có cái gì khác hiện hữu trong
một hình thức thường hằng, cố định và bất biến. Đây
là luật “Tất cả các sự vật đều vô thường”. Phải
chăng trên đời không có cái gì là không biến đổi ? Vâng,
đây là một điều bất di dịch - là chân lý quản ngự sự
hiện hữu, vận hành và những đổi thay của tất cả mọi
sự vật. Chỉ riêng chân lý này là bất biến.
Đức Phật
Thích-ca cũng dạy cái chân lý rằng không có cái gì trên đời
này hiện hữu riêng lẻ mà không có liên hệ nào với những
sự khác; trái lại tất cả các sự vật hiện hữu trong mối
liên hệ với nhau và phụ thuộc nhau. Đây là luật: “Không
có cái gì có một ngã”. Mới nhìn qua, hình như không
có một liên hệ nào giữa đất mà ta đang đứng với biển
đang trải ra tận chân trời và mây ở xa trên bầu trời.
Nhưng khi ta xét mây được tạo ra cách nào, tại sao nước
biển mặn và đất nhận sự ẩm ướt như thế nào thì ta
hiểu ngay mối liên hệ chặt chẽ của đất, biển và bầu
trời. Ta biết rằng mây được tạo ra do hơi nước bốc lên
từ đất, biển và sông; mây đổ mưa hay tuyết rơi trên đất
và làm ẩm đất; và nước biển mặn vì nước sông hòa tan
các chất muối chứa trong đất rồi mang chúng ra biển, ở
đó sự cô đọng muối càng lúc càng mạnh do sự bốc hơi
của nước. Đây là một thí dụ về điều không có gì trong
vũ trụ có thể có sự hiện hữu hoàn toàn riêng lẻ.
Dĩ nhiên,
đức Phật Thích-ca không giảng về sự hình thành của vũ
trụ như là một nhà khoa học hay một nhà triết học. Ngài
giảng về vũ trụ để khiến tất cả mọi người thông hiểu
người ta nên sống ra sao và đời người nên thế nào. Giáo
lý của Ngài luôn luôn liên hệ đến con người và nhân loại.
Chúng ta cần
áp dụng những chân lý phổ quát rằng tất cả mọi sự vật
đều vô thường và không có cái gì có ngã vào thực tiễn
như thế nào trong đời sống hàng ngày của chúng ta ? Chính
nhằm trả lời câu hỏi này mà đức Phật giảng về luật
“Niết-bàn là tịch lặng”.
Chúng ta trải
qua nhiều khổ đau trong đời vì chúng ta bị dao động bởi
những hiện tượng đổi thay và bị ảnh hưởng bởi sự
được mất trước mắt. Nếu chúng ta có được tinh thần
tự do hoàn toàn, tách khỏi những hoàn cảnh tạm thời và
hời hợt này, thì chúng ta sẽ ở trong hoàn cảnh tâm linh
bình an, tĩnh lặng dù chúng ta đang ở trong một tình trạng
mà người khác cho rằng rất khổ đau. Đây là tình trạng
“Niết-bàn là tịch lặng” liên hệ với luật “Tất cả
mọi sự vật đều vô thường”.
Sở dĩ chúng
ta không thể thành công điều gì, hay sở dĩ có mâu thuẫn,
tranh cãi, hay cảm thấy buồn phiền thường là do chúng ta
thiếu hài hòa trong liên hệ với những người hay sự vật
khác. Trái đất quay chung quanh mặt trời. Mặt trăng quay chung
quanh trái đất. Vô số vì sao lấp lánh trên bầu trời đêm
cũng có cùng những thứ liên hệ như thế. Mặt trời, trái
đất, mặt trăng và các vì sao đều vận hành theo luật hấp
dẫn. Chúng vận hành mà không va chạm nhau vì sức hấp dẫn
cân bằng tạo nên một sự hài hòa giữa chúng với nhau. Nếu
sự hài hòa này mất đi thì mặt trời, trái đất và mặt
trăng sẽ va chạm nhau. Nếu sự việc này xảy ra cho tất cả
các hành tinh và định tinh thì vũ trụ sẽ bị tận diệt.
Đời người
cũng như thế. Mỗi người là một thành phần của vũ trụ;
nếu người ấy giữ sự hài hòa trong những liên hệ khác
nhau của mình với những người khác và, những sự vật khác
sao cho sự cân bằng được duy trì trong tất cả thì tranh
cãi, rắc rối trong đời sẽ biến mất. Nhưng trạng thái
như thế không thể thực hiện được trong đời này. Tại
sao ? Vì mỗi người đều có cái “ngã” nhỏ riêng của
mình. Người ta khác nhau về sở thích, cảm nhận, và vượt
ngoài sự hài hòa với nhau do bởi quá nhiều người quỡ ngã
và chỉ quan tâm đến lợi lạc, hạnh phúc và thuận tiện
cá nhân của mình. Nếu tất cả mọi người đều từ bỏ
cái “ngã” nhỏ bé của chính mình và nỗ lực tôn trọng
và giúp đỡ nhau thì một sự đại hài hòa sẽ phát sinh giữa
họ và bình an thực sự trong đời sống hàng ngày sẽ thể
hiện. Đây là trạng thái “Niết-bàn là tịch lặng” liên
hệ với luật “Không có cái gì có một ngã”.
Ba luật này
- “Tất cả đều vô thường”, “không có cái gì có một
ngã” và “Niết-bàn là tịch lặng” - là những nguyên lý
căn bản của Phật giáo và được gọi là Dấu ấn của ba
Luật (sambò-in, Tam Pháp Ấn). Cũng không quá đáng khi bảo
rằng tất cả giáo lý của Phật giáo đều phát xuất từ
ba luật này.
Chúng ta nên
thực hiện Tam Pháp Ấn thế nào trong đời sống hàng ngày
? Chúng ta có thể tìm thấy lời đáp cho câu hỏi này trong
các học thuyết Tứ Thánh đế, Bát Chánh đạo, Thập nhị
Nhân duyên và Lục Ba-la-mật.
Trong học
thuyết Tứ Thánh đế, trước tiên đức Phật dạy rằng con
người phải hiểu rằng sự hiện hữu của mình là khổ đau
và phải chấp nhận cái điều kiện khổ thực sự này (Khổ
đế), không lẫn tránh hay từ chối nó. Tuy vậy, con người
không thể làm dịu bớt khổ đau của mình bằng cách chỉ
công nhận nó. Cho nên đức Phật dạy con người phải đi
xa hơn và nghiên cứu nguyên nhân của khổ, suy nghĩ và nhận
định rõ ràng về nó (Tập đế). Cái nguyên nhân căn gốc
của khổ là vô minh như đã được trình bày ở học thuyết
về Luật Mười hai Nhân duyên.
Đức Phật
dạy rằng một khi người ta đã có thể nhận ra nguyên nhân
những khổ đau của mình và nếu người ta muốn gỡ bỏ sự
vô minh của mình là cái nguyên nhân căn gốc của khổ đau,
thì khổ đau sẽ bị dập tắt (Diệt đế). Cuối cùng, đức
Phật dạy rằng con đường khiến con người được dẫn đến
Diệt đế là sự thực hành Bát Chánh đạo và Lục Ba-la-mật
(Đạo đế).
Ở đây,
chúng ta hãy xem lại học thuyết Bát Chánh đạo, tám con đường
trong đời sống hàng ngày, gồm chánh kiến, chánh tư duy, chánh
ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm
và chánh định.
Trước hết
ta phải phân tích kỹ từ “Chánh” vì từ này có thể bị
hiểu nhầm nếu nó được xét theo chỉ dẫn của đạo đức
ngày này. Một cách vắn tắt, từ “Chánh” nghĩa là “phù
hợp với chân lý”. Ví dụ, nếu người ta nhìn các sự vật
từ một quan điểm vị kỷ hẹp hòi, người ta không thể
nhận rõ trạng thái thực sự của các sự vật và sự phán
đoán của người ta về các sự vật sẽ không được cân
đối. Khi người ta thoát khỏi quan điểm và thiên kiến vị
kỷ của mình và nhìn sự vật bằng cái tâm sáng suốt thì
người ta mới có thể thấy được trạng thái chân thực
của các sự vật. Cách nhìn các sự vật một cách đúng đắn
này được đặt căn bản trên trí tuệ của đức Phật.
Khi nghĩ về
các sự vật với một cái tâm quy ngã hay với một mục đích
vị kỷ thì có thể chúng ta sẽ rơi vào những ý niệm lầm
lạc, không phù hợp với chân lý hoặc đối nghịch trực
tiếp với chân lý nữa. Chẳng hạn, giả như có người nào
đó có ý tưởng như sau:
“Để gia
tăng sự thịnh vượng của nước mình thì việc hy sinh nhân
dân các nước khác là điều hoàn toàn chánh đáng”, hay “Anh
phải tính đến việc lừa dối và làm hại người khác vì
hạnh phúc của chính chúng ta”. Rõ ràng rằng những ý nghĩ
này là sai khi được áp dụng cho những người khác. Nhưng
khi một người nghĩ về những thứ gì trên căn bản của
đất nước mình, chính mình hay gia đình mình, thì người
ấy sẽ chấp nhận những ý nghĩ vị kỷ như thế mà không
ân hận. Trong lịch sử đã có nhiều trường hợp về lối
suy nghĩ này; thật vậy, ngày nay có vô số trường hợp như
thế.
Khi con người
nhìn các sự vật mà không phải từ một vị thế vị kỷ
nhưng từ một vị thế lớn hơn - từ vị thế của đức
Phật - thì con người có thể nhìn thấy và đánh giá tất
cả các sự vật theo giá trị của chính các sự vật. Từ
“Chánh” (đúng đắn) thích ứng với lối nhìn này về các
sự vật. Khi một người nhìn các sự vật theo một quan điểm
phiến diện thì người ấy sẽ không nhìn thấy chân lý. Nếu
người ấy mang kính màu đỏ thì toàn bộ thế giới sẽ xuất
hiện với màu đỏ. Nếu người ấy mang kính màu lục thì
mọi vật mang màu lục. Người ấy chỉ thể có một cái nhìn
đúng đắn khi người ấy nhìn các sự vật mà không mang kính
màu.
Khi con người
nhận thức các sự vật trên đời này qua năm quan năng của
mình hay suy nghĩ về các sự vật theo tâm mình thì các sự
vật có vẻ bị phân biệt. Chỉ nhìn cái trạng thái bị phân
biệt của các sự vật (tính giả tạm, ke, giả) xuất hiện
bên ngoài mà không nhìn cái trạng thái bình đẳng (không,
kù) vốn có là cách nhìn hời hợt về các sự vật của người
bình thường. Tất cả các sự vật trên đời này vốn bình
đẳng (không, kù) là cốt lõi quan trọng của các giáo lý
của đức Phật, nhưng chỉ nhìn cái trạng thái bình đẳng
nguyên gốc của các sự vật và bỏ qua cái trạng thái phân
biệt xuất hiện ở các hình tướng bên ngoài thì đấy cũng
là một cách nhìn phiến diện về các sự vật. Một nhà triết
học khảo sát nguyên lý căn bản của các sự vật rất có
thể bất hạnh trong đời sống cá nhân hay trong một thất
bại về mặt xã hội. Đây có thể là kết quả của sự
nhìn phiến diện của ông về các sự vật.
Để có một
cái nhìn đúng đắn (Chánh kiến) về các sự vật theo đúng
ý nghĩa thì cần phải tránh nhìn các sự vật chỉ riêng theo
sự giả tạm (ke, giả) hay theo cái không (kù, không) mà phải
tập hợp cả hai quan điểm này. Cách nhìn thứ ba này về
các sự vật được gọi là trung đế (chùtai) hay cái “chân
lý về chỗ giữa”(1) - một chân lý hầu như là chân lý
về Trung đạo (chùdo) hay con đường ở giữa. Trung đạo có
nghĩa là không thiên chấp, nhưng không phải là giữ lập trường
ở giữa về một vấn đề, không dựa bên này hay bên kia.
Trung đạo mà đức Phật dạy không có nghĩa là một con đường
cứng nhắc ở ngay chính giữa hai cực đoan. Vì đây là một
trong những giáo lý quan trọng nhất của đức Phật nên chân
lý Trung đạo sẽ được bàn ở đây.
Vào thời
đức Phật, có nhiều giáo lý tôn giáo ở Ấn Độ. Có tôn
giáo nhấn mạnh rằng do vì tham dục là những gì rất tự
nhiên đối với con người cho nên cầu tìm thỏa mãn các tham
dục là con đường giải thoát khỏi những trói buộc của
ảo tưởng và khổ đau. Có tôn giáo khác giảng rằng một
đời sống khổ hạnh dồn ép mạnh mẽ mọi tham dục là con
đường độc nhất đưa con người đến giải thoát khỏi
những trói buộc của ảo tưởng và khổ đau.
(1)
Không đế (kùtai), giả đế (ketai) và trung đế (chùtai) -
chân lý về không, chân lý về sự giả tạm, chân lý về
chỗ giữa - là ba loại chân lý (santai, tam đế) trong giáo
lý của tông Thiên Thai.
Lối tu khổ
hạnh rất khắc nghiệt tại Ấn Độ vào thời ấy. Nhà khổ
hạnh cố gắng dồn ép hoàn toàn sự ham muốn xác thịt và
sự ưa thích tiện nghi. Thậm chí có một trường phái của
các nhà khổ hạnh lõa thể chủ trương cấm mặc quần áo.
Một số nhà khổ hạnh khác thì hành hạ thân thể họ bằng
đủ cách gây đau đớn, gồm việc sống trong một cái cây
mỗi lần kéo dài trong nhiều ngày, lấy lửa đốt cháy da,
lấy dao tự cắt thân mình, hay ngồi trên các cọc nhọn đóng
chặt xuống đất. Nhóm cực đoan nhất khẳng định rằng
một người giải thoát khỏi những trói buộc của ảo tưởng
và khổ đau thì không ăn gì cả và xem sự chết vì đói là
niềm vui tối thượng.
Đức Phật
Thích-ca-mâu-ni không theo chủ nghĩa khoái lạc cực đoan, mà
đầu tiên Ngài cố gắng truy tìm giác ngộ bằng cách theo
khổ hạnh. Ngài liên tiếp đến tham vấn hai nhà khổ hạnh
nổi danh và sau khi tu tập giáo lý của họ do họ hướng dẫn,
Ngài hoàn toàn thông suốt các giáo lý ấy. Mặc dù cả hai
vị này đều thiết tha yêu cầu Ngài ở lại, Ngài nhận thấy
giáo lý của họ không đủ khiến Ngài đạt được giác ngộ
thực sự, nên Ngài bỏ đi. Kế đến, đức Thích-ca nỗ lực
tự mình tu tập khổ hạnh. Ngài đã trải qua những sự hành
xác như chỉ ăn mỗi ngày một hạt gạo và hạt mè.
Kinh nghiệm
về khổ hạnh như thế không phải là vô ích, nhưng sau cùng,
khi đức Thích-ca nhận ra rằng khổ hạnh không phải là con
đường đúng đắn đưa Ngài đến giác ngộ thì Ngài bỏ
ngay những thực hành như thế. Thế rồi Ngài đến sông Ni-liên-thuyền
(Nairanjnanà) và tắm rửa sạch sẽ ở đấy. Sau đó Ngài uống
một tô cháo sữa do một thôn nữ dâng và dần dần phục
hồi sức khỏe. Ngài đi qua núi Bát-la-cấp-bồ-đề (Pragbodhi),
đến một nơi gần làng Bồ-đề Tràng (Bodhgayà) và ngồi
trên cây Bồ-đề. Ngài yên lặng ngồi đó một mình, nhập
Thiền định thâm sâu và cuối cùng đạt giác ngộ.
Sau
đó, Ngài đi đến Vườn Nai gần Ba-la-nại (Bàrànasì) nơi
có năm vị khổ hạnh đã theo Ngài lúc Ngài tu hành xác. Giáo
lý mà Ngài giảng cho năm vị tu khổ hạnh này trong lần thuyết
giảng đầu tiên của Ngài là các học thuyết Tứ Thánh đế,
Trung đạo và Bát Chánh đạo.
Đức Phật
Thích-ca-mâu-ni nói với năm vị ấy: “Này các Tỳ-kheo ! Trong
đời này có hai cực đoan mà các ông phải tránh”. Hai cực
đoan ấy là hai cực đoan về khoái lạc và khổ hạnh. Đức
Phật từ chối hai cực đoan này vì cho đó là không hợp lý,
Ngài tuyên bố:
“Do tránh
hai cực đoan này mà Như Lai đạt toàn giác - đấy là Trung
đạo”. Quả là có ý nghĩa khi đức Phật giảng về Trung
đạo ngay trong bài giảng đầu tiên trong cả tám mươi bốn
ngàn bàigiảng.
Thế rồi
đức Thích-ca giảng như sau: “Nền tảng của Trung đạo là
gì ? Đó là Bát Chánh đạo, chánh kiến, chánh tư duy, chánh
ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm
và chánh định. Đây là Trung đạo mà Như Lai đã thực hiện.
Trung đạo mở mắt con người, phát sanh trí tuệ và dẫn con
người đến bình an, tĩnh lặng tâm linh và xa hơn, đến Niết-bàn”.
Như được
nêu rõ ở đây, Trung đạo mà đức Phật thực hiện có ý
nghĩa sau đây: sống một cuộc đời khoái lạc cực đoan hay
thực hành khổ hạnh cực đoan cũng giống như nhìn thế giới
qua các mắt kính màu đỏ hay màu lục; đấy không phải lối
nhìn đúng về các sự vật trong đời. Có thể nói, đây là
thể cách của một quan điểm bị mây của ảo tưởng che
lấp. Đây không phải là thể cách để đạt Niết-bàn. Con
người không nên giữ một lập trường lệch lạc và cứng
nhắc như thế, mà nên nhìn các sự vật và hành động phù
hợp với chân lý.
Từ “Chánh”
được đặt trước mỗi từ trong học thuyết Bát Chánh đạo
có cùng ý nghĩa với “trung” trong học thuyết Trung đạo.
“Chánh” (đúng) nghĩa là phù hợp với chân lý, như đã
nêu trên, và cũng trỏ ý niệm về sự hài hòa với chân lý.
Sau đây là một Ẩn dụ do đức Phật kể để giải thích
ý niệm này.
GIÁO LÝ VỀ
CÂY ĐÀN:
Đây là một
câu chuyện từ thời đức Phật Thích-ca-mâu-ni ngồi trên
núi Linh Thứu gần Vương Xá. Trong khu rừng ở gần đó có
một nhà tu khổ hạnh tên Srona đang tận lực tu tập tinh cần.
Khổ hạnh của ông nghiêm khắc đến nỗi người ta bảo ông
là tối thượng về khổ hạnh trong hàng đệ tử của đức
Phật. Nhưng ông không thể giải thoát khỏi những trói buộc
của ảo tưởng và khổ đau do bởi ông thực hành khổ hạnh
quá đáng.
Cuối cùng
Srona không cưỡng nổi ảo tưởng sau đây: “Ta thật kỳ
diệu đến nỗi người ta bảo ta là đệ tử đệ nhất về
tinh cần. Thế mà ta không thể đạt ngộ. Ta không thể tinh
cần tu tập hơn thế này được. Ta há chẳng nên từ bỏ
tu tập mà về nhà cho xong chuyện ư ? Ta có khá đủ tài sản
để sống tiện nghi trong phần còn lại của đời ta. Ta có
nên theo cách này hơn là sống cuộc đời tu hành chăng ?”
Srona cứ bị dày vò vì tâm trạng tiến thối lưỡng nan này.
Nhận thấy
người đệ tử của mình đang bị khủng hoảng mạnh về
tâm lý, đức Phật Thích-ca cho gọi Srona đang ở trong rừng
và hỏi ông về tâm trạng ông bằng một giọng bình thường
và đầy lòng từ bi. Srona kể với đức Phật những gì ông
đang nghĩ, không dấu diếm gì cả.
Rồi đức
Phật dạy: “Này Srona ! Ta nghe nói trước khi xuất gia ông
chơi đàn rất giỏi. Đàn có phát ra tiếng nhạc hay nếu dây
đàn căng quá không ?”
Srona đáp:
“Không”. Đức Phật lại hỏi “Tốt, đàn có phát tiếng
nhạc nếu dây quá chùng không ?” Srona đáp:
“Không”.
Đức Phật lại hỏi lần nữa: “Nếu dây căng vừa phải
thì thế nào ? Đàn có phát tiếng nhạc hay được chăng ?”
Srona đáp: “Hay được”.
Đức Phật
dạy Srona: “Này Srona ! Tu tập để đạt Bồ-đề cũng giống
như điều chỉnh dây đàn. Nếu ông thiên về nỗ lực quá
đáng, dây của tâm ông sẽ căng quá và tâm sẽ không an bình
được. Nếu ông không nỗ lực đủ, thì dây của tâm ông
sẽ chùng và điều này sẽ đưa đến lười biếng. Này Srona
! Hãy tự mình giữ tiết độ, không nên thiên về nỗ lực
quá đáng”.
Đức Phật
dạy Srona một cách ân cần như thế. Từ câu chuyện ngắn
này, chúng ta có thể thấy rõ đức Phật có một nhân cách
vĩ đại khôn lường.
Trong
kinh “Tứ Thập Nhị Chương”, đức Phật dạy:
“Cây đàn
không phát tiếng
Nếu dây
đàn quá căng.
Đàn cũng
bặt âm thanh
Nếu dây
đàn chùng quá.
Chỉ khi
dây căng đúng
Tiếng nhạc
mới hài hòa”.
Bằng một
lối hiểu nông cạn, chúng ta có thể nhận thấy ý nghĩa của
lời dạy trên như sau: “Hãy giữ đúng vị thế trung bình,
không quá chặt chẽ, không quá lơi lỏng”. Khi áp dụng lối
hiểu này vào việc tu đạo, chúng ta nhận thấy nó có nghĩa
là con đường ở giữa khoái lạc cực đoan và khổ hạnh
cực đoan, và kết quả là chúng ta công nhận hai cực đoan
này. Điều này ngụ ý rằng cực đoan về khoái lạc nên được
chấp nhận ở một mức độ nào đó và cực đoan về khổ
hạnh cũng thế. Con đường ôn hòa nhất là ở giữa hai cực
đoan này. Nói một cách thật đơn giản, nếu khoái lạc cực
đoan là số không và khổ hạnh cực đoan là số mười thì
thái độ ôn hòa sẽ vào khoảng năm.
Tuy nhiên,
đấy là một cách diễn dịch sai lầm. Khi chúng ta chơi đàn,
dây đàn sẽ không phát tiếng nhạc hay nếu chúng quá chùng
hay quá căng, cả hai trường hợp có thể xem như ở trạng
thái số không. Đàn sẽ tạo tiếng nhạc hay nhất khi dây
đàn được căng vừa phải. Sự căng dây đàn thuận hợp
nhất là một vấn đề rất tinh tế. Cây đàn sẽ tạo ra
một âm thanh chói tai khi các dây đàn được căng ở một
trạng thái nào đó không phải ở mức đúng đắn, và như
thế cũng trỏ cái trạng thái số không. Nhưng nếu sự căng
dây đúng hợp thì cây đàn sẽ được hài hòa tạo âm thanh
hay. Điều này hàm ngụ một sự thay đổi từ số không đến
mười. Trạng thái như thế là trạng thái hài hòa. Sự căng
dây đúng đưa đến sự hài hòa tốt đẹp có nghĩa là mức
độ căng dây đặc biệt này hoàn toàn thích hợp với giai
điệu mà cây đàn muốn tạo nên. Tóm lại, điều kiện như
thế hoàn toàn thích hợp với mục đích của nó. Do đó, ý
niệm về sự hòa hợp với chân lý diễn tả ý niệm về
sự thích hợp với mục đích.
Ta cũng có
thể nói như thế về đời người. Người đạt ngộ thực
sự là người có lối sống hòa hợp với chân lý. Tư
tưởng và hành vi của người ấy thích hợp một cách tự
nhiên với mục đích. Người ấy cũng chọn lối sống luôn
luôn hài hòa với mọi sự trên đời. Như thế chúng ta không
thể tìm thấy “chánh” đạo hay “trung” đạo chỉ đơn
giản bằng cách chọn điểm giữa của hai cực đoan. Mỗi
cực đoan diễn tả một sự khác biệt căn bản. Nếu chúng
ta cư xử dựa theo chân lý nhân duyên, như được bàn ở trang
378 mà không bám chặt vào những ý niệm cố chấp thì chúng
ta luôn luôn có thể sống hoàn toàn thích hợp với mục đích
của cuộc sống và hài hòa với chân lý, đây là giáo lý
Trung đạo.
Chúng ta làm
sao để đạt được trạng thái tâm thức như thế ? Giáo
lý mà trong đó đức Phật dạy chúng ta một cách cụ thể
làm sao để đạt được điều ấy trong đời sống hàng ngày
chính là học thuyết Bát Chánh đạo. Học thuyết này được
giải thích ngắn gọn như sau: Hãy nhìn các sự vật một cách
đúng đắn (chánh kiến) hãy suy nghĩ về các sự vật một
cách đúng đắn (chánh tư duy), hãy nói những lời đúng đắn
(chánh ngữ), hãy hành động một cách đúng đắn (chánh nghiệp),
hãy sống một cuộc sống đúng đắn (chánh mạng), hãy nỗ
lực sống một cách đúng đắn (chánh tinh tấn), hãy luôn
luôn hướng tâm vào chiều hướng đúng đắn (chánh niệm)
và hãy kiên trì giữ tâm đúng đắn và không bao giờ bị
dao động vì bất cứ sự việc gì (chánh định). Như đã
nêu trên, từ “chánh” có cùng ý nghĩa với “trung” trong
học thuyết Trung đạo.
Tiếp theo,
chúng ta sẽ bàn ngắn gọn về học thuyết Lục Ba-la-mật.
Giáo lý này nêu lên sáu hạnh Bồ-tát nhằm lợi ích cho xã
hội và cho những người khác, trong khi học thuyết Bát Chánh
đạo chủ yếu là cách thực hành cá nhân nhờ đó chúng ta
có thể thoát khỏi ảo tưởng. Lục Ba-la-mật gồm bố thí,
trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, Thiền định và trí tuệ.
Phục vụ
người khác về mọi lãnh vực - tinh thần, vật chất và vật
lý - là bố thí. Trừ bỏ ảo tưởng khỏi tâm mình phù hợp
với giới luật mà đức Phật dạy, sống một cuộc sống
đúng đắn và đạt năng lực để cứu độ người khác bằng
cách nỗ lực toàn thiện mình là trì giới. Luôn luôn có thái
độ từ ái đối với người khác, chịu đựng mọi khó khăn
và giữ tâm an tịnh không kiêu mạn dù được thành công là
nhẫn nhục. Tiến thẳng đến một mục đích quan trọng mà
không bị những sự việc tầm thường làm lệch hướng là
tinh tấn. Giữ cái tâm bình tĩnh và không dao động trong mọi
trường hợp là Thiền định. Có năng lực nhận thức khía
cạnh chân thực của mọi sự vật là trí tuệ. Học thuyết
Lục Ba-la-mật dạy chúng ta thể cách thực hành đúng đắn
để cứu độ mọi người và xã hội sáu cách thực hành
này.
THIỀN ĐỊNH
CHÂN THỰC:
Thiền định
là một trong sáu Ba-la-mật trên chưa được giải thích đầy
đủ. Thật vậy, từ này có một ý nghĩa rất thâm sâu khiến
chúng ta không thể tổng quát hóa ý nghĩa của nó được.
Từ quan điểm
kết quả của nó, “Thiền định” nghĩa là giữ cái tâm
bình tĩnh và không dao động trong mọi hoàn cảnh. Nhưng Thiền
định cũng có nghĩa là sự thực hành cần thiết để đạt
mục đích ấy. Nói một cách khác, nó trỏ sự quan sát hay
tập trung tâm vào một đối tượng độc nhất khi ngồi yên
lặng một mình.
Chúng ta nên
tập trung vào điều gì ? Đây là một câu hỏi quan trọng,
và quả thực điều này là điểm mà tôn giáo khác với triết
lý hay đạo đức.
Dù chúng
ta có thể kiên trì tập trung vào một điều gì đó, chúng
ta cũng không thể giải thoát một cách tuyệt đối khỏi khổ
đau nếu chúng ta chỉ chú tâm vào đối tượng trực tiếp
với một thái độ quy ngã. Ví dụ, nếu chúng ta nỗ lực
tư duy về một điều có tính chất vị kỷ như mong cầu không
bị khó khăn rắc rối về công việc làm ăn hay mong cầu được
lành bệnh, thì rõ ràng rằng chúng ta không thể có lúc nào
được giải thoát khỏi lo âu vì tâm bị dao động bởi công
việc làm ăn và bệnh tật. Loại tập trung tâm thức này không
phải là Thiền định mà chỉ là sự đấu tranh với ảo tưởng
mà thôi.
Hồi tưởng
về cách hành xử của ta trong quá khứ mà tự phê phán về
điều mà ta nghĩ là sai và quyết định sửa chữa nó là một
loại Thiền định. Ta có thể gọi đó là Thiền định theo
một quan điểm đạo đức. Đây là một cách tu tập rất
tốt, có lợi cho việc thăng tiến tính hạnh của ta.
Suy nghĩ sâu
xa hơn như thế về một đề tài là Thiền định mà không
có ý niệm quy ngã. Dò sâu vào những vấn đề như sự hình
thành của thế giới, lối sống của con người, và xã hội
lý tưởng - đấy là Thiền định từ quan điểm triết học.
Loại Thiền định này cũng là một cách thực hành tốt nâng
cao tính hạnh của ta, tạo thêm chiều sâu cho tư tưởng và
lại làm lợi cho xã hội.
Tuy nhiên,
điều đáng tiếc là chúng ta không thể đạt được trạng
thái tâm thức bình an (Niết-bàn) thực sự qua các hình thức
Thiền định nêu trên. Sở dĩ như thế là vì chúng ta chỉ
có thể đi xa tới mức mà tri thức con người cho phép tuy
rằng chúng ta có thể tư duy nghiêm túc về chúng ta và tuy
rằng chúng ta có thể dò sâu một cách triết lý vào con đường
lý tưởng của thế giới và của đời người. Nếu ta bảo
rằng con người không thể tự dẫn dắt mình đến Niết-bàn
dù cho con người tư duy về cách hành xử của mình, hối hận
về cách hành xử sai trái và quyết định thực hành thiện
hạnh, thì vấn đề sau đây cũng tự nhiên khởi lên: “Đành
rằng khi suy nghĩ về đạo đức, xã hội và nêu những quyết
định dựa trên suy nghĩ ấy thì hẳn là như thế. Nhưng suy
nghĩ về mình dưới ánh sáng của giáo lý đức Phật và quyết
định hướng hành động của mình theo giáo lý ấy, thì đấy
há chẳng phải là con đường đưa đến Niết-bàn sao ? Quả
thực, đây là một quá trình mà chúng ta theo đó để tiến
đến Niết-bàn, nhưng cách thức để đạt Niết-bàn không
dễ dàng như thế. Nếu đấy chỉ là một vấn đề của hiểu
biết và kiểm soát cái tâm hời hợt và có ý thức của chúng
ta thì vấn đề sẽ tương đối đơn giản. Hầu hết mọi
người đều có thể kiểm soát tâm thức mình nhờ tu tập
giáo lý Phật giáo. Nhưng con người cũng có một cái tâm mà
con người không nhận biết được. Con người không nắm bắt
được nó vì không ý thức về nó. Con người không thể kiểm
soát nó vì không thể nắm bắt được nó. Loại tâm
này được gọi là a-lại-da (àlaya) hay mạt-na (manas) theo Phạn
ngữ và tương đương với tiềm thức trong thuật ngữ học
của khoa học.
Tất cả
những gì mà người ta đã kinh nghiệm, suy nghĩ và cảm nhận
trong quá khứ vẫn tồn tại trong chiều sâu của tiềm thức.
Các nhà tâm lý học công nhận rằng tiềm thức không những
chỉ gây một ảnh hưởng lớn vào tính chất và chức năng
tâm lý của con người mà còn tạo ra nhiều rối loạn khác
nhau.
Vì nó thường
ở bên ngoài tầm của ta nên ta không thể kiểm soát tiềm
thức chỉ bằng cách tư duy và Thiền định suông được.
Ở đây,
chúng ta hãy nhớ lại vấn đề nghiệp (go) đã được nêu
ở phẩm 7. Nghiệp mà ta đang có thì phức tạp và có căn
gốc rất sâu xa, bao gồm nghiệp “cũ” (shuku-gò, túc nghiệp)
mà con người đã tích tập từ lúc khởi thủy. Ta cũng mang
“nghiệp cũ” mà chính ta đã tạo trong các đời trước
và ở một mức độ nào đó, ta mang nghiệp mà “tổ tiên”
ta đã tạo. Và dĩ nhiên ta mang “nghiệp hiện tại” (gen-gò,
hiện nghiệp) do chính ta đã tạo ra trong đời này. Phải chăng
một người bình thường có thể thoát khỏi nghiệp và nhập
vào trạng thái tâm thức của sự giải thoát hoàn toàn (thoát
khỏi thế giới của ảo tưởng) nhờ vào trí tuệ của chính
người ấy ? Điều này rõ ràng không có gì nghi ngờ. Nếu
thế thì chúng ta có thể làm gì để được như vậy.
Ở đây,
chúng ta hãy nhớ lại học thuyết Ba ngàn Thế giới trong một
Niệm (Nhất Niệm Tam Thiên) cũng được bàn ở phẩm 7. Học
thuyết này dạy chúng ta rằng ba ngàn cảnh giới với tất
cả những liên hệ của chúng chỉ gồm trong một thoáng ý
nghĩ, và rằng những trạng thái tâm thức dẫn chúng ta đến
cõi địa ngục hay cõi Phật đều bao gồm trong một thoáng
ý nghĩa ấy. Nói một cách thực tiễn, làm sao chúng ta có
thể kiểm soát những thoáng ý nghĩ (niệm) như thế ? Đây
không phải là một câu hỏi mà tri thức con người có thể
giải đáp được. Một thoáng ý nghĩ khởi lên từ vô số
ý nghĩ - không một học giả nào, dù có kiến thức đến
đâu, có thể dạy cho chúng ta đối xử với từng ý nghĩ
mà chúng ta bắt gặp. Chúng ta nên đối xử thế nào với
từng ý nghĩ trong các ý nghĩ xảy ra như thế ?
Loại vấn
đề này vượt ngoài phạm vi của triết lý và cả về đạo
đức cũng không giải đáp được. Cái gì có thể giải quyết
loại vấn đề này ? Chỉ có tôn giáo là giải quyết được.
Ngoài ra không có gì có thể làm như thế được. Đối mặt
với một vấn đề tầm cỡ và sâu xa như thế, chúng ta mới
có thể nhận rõ được giá trị thực sự của tôn giáo.
Chúng ta nhận ra rằng sự giải thoát thực sự của chúng
ta cuối cùng phải được thực hiện do tôn giáo.
Một tôn
giáo, nhất là một tôn giáo tiến bộ như Phật giáo thì bao
gồm triết học, luân lý và đạo đức học. Thật vậy, ta
có thể nói hầu như toàn bộ Phật giáo gồm giáo lý triết
học và đạo đức. Tuy nhiên, khi ta nghiên cứu sâu giáo lý,
ta nhận thấy có cái gì đó vượt ngoài điều này, xúc chạm
trực tiếp vào lòng ta. Giống như ánh sáng bao trùm chúng ta
một cách ấm áp và chiếu rỡ ràng, soi sáng con đường của
chúng ta. Đấy là cái gì đó làm hưng phấn chúng ta và khiến
chúng ta phát triển đầy đủ theo đúng khả năng của chúng
ta. “Cái gì đó” này chính là niềm tin. Christmas Humphreys
đã nêu rõ điều này trong bài tựa cuốn sách Phật giáo (Buddhism)
của ông: “Nhưng Phật giáo sinh động, sinh động lạ kỳ...”
TÔN GIÁO
LÀ GÌ:
Thực sự
tôn giáo là gì ? Chúng ta phải xét tôn giáo từ chính nguồn
gốc của nó. Vào mọi thời, con người cảm thấy sợ những
gì mạnh hơn mình. Theo với thời gian, những sợ hãi ấy trở
thành sự tôn thờ và kính úy.
Người nguyên
thủy, ngoài mặt trời ra, họ còn sợ mặt trăng và các vì
sao. Họ cũng có cảm giác như thế đối với những ngọn
núi phủ tuyết cao vút, những con sông lớn khi thì trôi chảy
yên lặng, khi thì tràn ngập bờ gây lũ lụt nặng nề, tàn
phá đất đai và biển vô biên trải đến tận chân trời.
Họ kính trọng loài chim vì chúng biết bay và sợ những con
thú mạnh như voi và sư tử. Nỗi sợ hãi của con người đối
với các sự vật thiên nhiên dần dần biến thành sự kính
úy và cuối cùng thành sự tôn thờ những sức mạnh hay những
hữu thể ấy như là các thần linh. Loại tín ngưỡng này
gọi là sự tôn thờ thiên nhiên hay tín ngưỡng linh hồn (animism).
Kế đến,
con người tin rằng trên trời hay giữa không trung có các vị
thần linh có năng lực siêu nhiên mà con người không thể
kiểm soát họ được. Các thần linh này không được xem là
có tình thương hay từ bi mà chỉ có sự sở hữu quyền năng.
Do đó người ta sợ bị những thế lực này ngược đãi nếu
người ta không tôn thờ hay làm lành với chúng. Họ tin rằng
các thần linh này có thể gây nên hay ngăn cản những tai họa
như bệnh tật, mất mùa, bão tố và biển động. Họ run sợ
và tôn thờ các thần linh này, cầu xin được giải trừ tai
họa và được ban bố phúc lành. Loại tín ngưỡng này gọi
là sự tôn thờ thần linh (spirit worship).
Người nguyên
thủy tin rằng những thần linh như thế cư ngụ hoặc tạm
thời hoặc vĩnh viễn bên trong các sự vật vật lý. Chỗ
cư ngụ này có thể là một vật vô tri như một tảng đá,
một bộ lông, một dụng cụ hay có thể là một đại thụ,
một con thú hay chim hay cả đến một con người. Họ xem những
thứ này che chở họ, gia đình, xóm làng họ khỏi bị tai
họa và họ thờ những thứ này rất tận tụy. Loại tín
ngưỡng này được gọi là sự tôn thờ linh vật (fetishism).
Một số người nguyên thủy xem một con vật, một cái cây
hay một vật vô tri đặc biệt nào đó như là tổ tiên của
họ. Họ thờ phụng nó để khỏi bị tai họa và được phước
lành. Tín ngưỡng như thế gọi là sự tôn thờ tổ vật (totemism).
Một hình
thức tôn giáo tiến bộ hơn trên đây là tín ngưỡng phiếm
thần (pantheism) nguyên thủy, các tín đồ xem mọi vật trong
vũ trụ là thần. Cũng có một tín ngưỡng nhất thần (monotheism)
nguyên thủy tuyên bố rằng có một và chỉ một vị thần
duy nhất hiện hữu trên đời này và nắm quyền đối với
hết thảy mọi sự vật, gồm cả thiện và ác trên đời
này.
Các tôn giáo
này ở trạng thái phát triển tâm linh rất thấp, khiến người
ngày nay xem đấy chỉ là những mê tín. Sở dĩ như thế
là vì các tôn giáo này tôn một sự vật nào đó làm tuyệt
đối, được thờ phụng, được cầu xin, dù tôn giáo từ
nguyên gốc phải liên hệ đến con người. Tôn thờ một con
vật, một cái cây, hay một vật vô tri như thế là kỳ quặc.
Người ta không nên tôn thờ và cầu xin những thứ như thế
mà nên đưa chúng vào sự lợi ích thực tiễn để tăng cường
lợi lạc cho mình.
Ví dụ, mặt
rời là một sự cần thiết tuyệt đối cho sự hiện hữu
của con người, nhưng mặt trời chỉ là một sự vật không
phải là một vị thần. Trong tương lai, khi kiến thức con
người tiến xa hơn rất nhiều so với ngày nay thì sẽ có
cơ may con người sẽ tạo ra một thứ thay thế cho mặt trời.
Mặt trăng cũng thế, chỉ là một sự vật, dù thời xưa nó
đã được tôn thờ như một vị thần. Nhưng giờ đây phi
thuyền không gian chở người đã nhiều lần đáp xuống mặt
trăng. Sự thám hiểm mặt trăng như thế sẽ lên đến tột
độ trong việc ứng dụng những khám phá từ mặt trăng vào
đời sống con người. Sông biển và núi chỉ là những sự
vật mà kiến thức con người nên đưa năng lực của chúng
vào sự lợi ích thực tiễn để làm phong phú đời sống
của mình. Trường hợp nhiều thú vật và cây cối khác cũng
như thế. Nếu các từ “đưa vào sự lợi ích thực tiễn”
có vẻ quá duy nhân loại thì nên đổi chúng thành biểu ngữ
“cùng sinh tồn và cùng thịnh vượng” bằng cách sử dụng
một cách tốt nhất đời sống của các sự vật thiên nhiên.
Những vấn
đề này thuộc lĩnh vực của khoa học (kiến thức con người)
theo một nghĩa rộng và không bao giờ nên là đối tượng
của tôn giáo, dù cả đến ngày nay, thứ tôn giáo như thế
vẫn còn phổ biến. Từ cái nhìn mở đầu ngắn gọn về
nguồn gốc và sự phát triển tôn giáo, chúng ta có thể hiểu
tại sao loại tôn giáo này là sai lầm và mê tín.
Những
vấn đề mà kiến thức con người có thể giải quyết được
thì cần được giải quyết triệt để. Đây không phải là
một ý tưởng mới mà là một sự thật không chuyển đổi
được. Từ quan điểm này, hiển nhiên một tổ chức tôn
giáo cần phải có một bệnh viện đa khoa sử dụng những
trang bị và kỹ thuật y khoa hiện đại, tiến bộ nhất để
chữa trị cho các bệnh nhân của mình.
Đức Phật
Thích-ca đã dạy chân lý này trong nhiều kinh khác nhau. Ví
dụ, trong kinh Sigalovàda (Shicara-otsu-roppòrai-kyò, Thi-ca-la-việt
Lục Phương Lễ Bái Kinh), đức Phật dạy một thanh niên ở
Vương Xá (Ràjagaha) nên hiếu thảo với cha mẹ như thế nào:
“Nếu cha mẹ bạn bị khổ vì bệnh, bạn phải đưa ngay
họ cho thầy thuốc săn sóc và phải nuôi dưỡng họ”.
Trong phẩm
17 của kinh Pháp Hoa, “Phân Biệt Công Đức” đức Phật
dạy như sau: “Này A-dật-đa ! Sau khi Ta nhập diệt, nếu có
ai nghe kinh này mà có thể thọ trì hay tự mình sao chép hay
khiến người khác sao chép kinh thì người ấy vốn đã dựng
các tự viện và đã xây các đền thờ bằng gỗ chiên đàn
đỏ gồm ba mươi hai sở, cao bằng tám cây ta-la, cao rộng,
đẹp đẽ, hàng trăm, hàng ngàn Tỳ-kheo có thể ở trong ấy,
được trang hoàng bằng vườn tược, bể tắm, chỗ đi dạo,
phòng Thiền; với y phục, lương thực, giường nằm, thuốc
thang và mọi phương tiện giúp giải trí đều có đủ trong
đó”. Từ việc sử dụng từ “thuốc thang” trong kinh, chúng
ta có thể xác định rằng chư Tăng sử dụng y dược cũng
là điều tự nhiên, chứ không phải chỉ tin vào cầu nguyện
khi họ bị bệnh.
Thái độ
này không chỉ hạn chế vào bệnh tật và y khoa. Trong trường
hợp về kinh tế chẳng hạn, đức Phật không bao giờ dạy
chúng ta tôn thờ cái gì để được khỏi nghèo khổ. Trong
kinh Trường A-hàm (Zò-agon-gyò), Ngài dạy như sau: “Trước
hết hãy nỗ lực học các kỹ năng, sau đó hãy kiếm thu nhập
bằng cách sử dụng kỹ năng ấy như là phương tiện chánh
đáng. Sau khi đã được thu nhập, chớ phung phí nó mà nên
chia nó thành bốn phần, một phần số tiền thu nhập dành
cho các chi phí sinh sống, hai phần dành cho việc kinh doanh,
phần còn lại để phòng khi bị lỗ lã... Nếu bạn làm việc
một cách chân chánh và kiếm tiền bằng trí tuệ chân chánh,
tiền sẽ được tích lũy cho bạn theo ngày tháng. Tuy nhiên,
từ số tiền ấy, bạn phải trích ra cho phúc lợi công cộng
và phải cung cấp cho các bạn bè, thân thuộc khi cần thiết”.
Đây quả
là một giáo lý thực dụng và đạo đức biết bao ! Đức
Thích-ca-mâu-ni dạy chúng ta giải quyết những vấn đề của
chúng ta bằng tri thức của con người khi nào có thể được
vậy !
Cây cối,
loài vật, sỏi đá không phải là những đối tượng thờ
cúng để người ta có thể cầu xin được lành bệnh.
Những thứ này chỉ là những sự vật thiên nhiên để được
sử dụng một cách thích hợp các dược tính của nó bằng
tri thức và sự tận tụy của con người. Hầu như tất
cả những đau đớn thể chất đều có thể được loại
trừ không phải bằng sức mạnh tâm linh của một con vật
như con chồn, con rắn mà bằng tri thức, kỹ thuật và sự
nỗ lực của con người.
NỖI KHỔ
VỀ CÁI CHẾT VÀ SỰ SỐNG:
Có một vấn
đề về đời sống con người không thể giải quyết được
bằng tri thức và sự nỗ lực của con người. Đó là
vấn đề về sự chết. Tuổi thọ của con người đã tăng
khá nhiều theo với sự phát triển của y khoa và hẳn nhiên
trong tương lai sẽ còn tăng hơn nữa. Tuy nhiên, cái chết
vẫn cứ đến với tất cả chúng ta. Theo bản năng, chúng
ta cảm thấy cái chết là đáng ghét và đáng sợ. Người
trẻ không quá kinh sợ cái chết vì tràn đầy những cảm
giác sinh động mạnh mẽ đến nỗi họ không nghĩ đến cái
chết đúng thực như nó. Nếu họ xem xét cái chết một cách
nghiêm túc thì có thể họ sẽ run lên vì sợ.
Một người
bạn của tôi nói với cô con gái mười hai tuổi của anh ta:
“Những trái bom khinh khí có thể sẽ được thả xuống trên
đất Nhật của chúng ta”.Cô bé ngây thơ hỏi anh: “Nếu
điều ấy xảy ra thì chúng ta sẽ ra sao ?” Anh ta trả lời
nửa đùa nửa thật: “Ờ, thì chúng ta sẽ chết hết. Chúng
ta sẽ chết hết trong phút chốc. Có lẽ chúng ta sẽ chết
bằng cái chết nhẹ nhàng, thoải mái”. Cô bé bỗng xanh mặt
và la lên:“Con ghét cái chết ! Con ghét nó !” Anh bạn ấy
nói với tôi rằng anh chưa bao giờ thấy vẻ mặt cô bé kinh
hoàng đến như vậy.
Ngay cả một
cô bé mười hai tuổi cũng phản ứng như thế khi cô ta nghiêm
túc nghĩ đến cái chết. Huống chi những người đã quá tuổi
trung niên thì phải nghĩ đến nó nghiêm túc đến chừng nào
! Dù một người có khỏe mạnh đến thế nào đi nữa, khi
đến tuổi trung niên, hẳn thỉnh thoảng anh ta cũng nghĩ đến
cái chết. Bóng đen của cái chết đôi khi lướt qua tâm trí
anh. Vào những lúc như thế, anh ta cảm thấy một rúng động
kinh hãi không miêu tả được, như có cơn gió lạnh lùa qua
cổ mình.
Một người
đang lâm trọng bệnh hẳn phải kinh hãi hơn biết bao nhiêu
! Tim người ấy hẳn phải như vỡ ra vì kinh hãi và cô đơn
khi người ấy nghĩ đến cái chết có thể xảy đến cho mình
bất cứ lúc nào. Hơn nữa, sự đau đớn vì cơn bệnh sẽ
hành hạ người ấy. Ý nghĩ về cái chết sẽ tăng nỗi đau
của người ấy lên gấp đôi trong những ngày còn lại.
Có người
có thể bảo rằng anh ta không đặc biệt sợ cái chết. Nhưng
người ấy chỉ nói thế khi anh ta không đối mặt với cái
chết. Chắc chắn anh ta sẽ không thể giữ được bình tĩnh
vào lúc cái chết thực sự đến gần. Tuy rằng đôi khi nỗi
khổ vì đau đớn quả thật làm cho chúng ta quên đi những
day dứt thực sự về cái chết. Khi ta cảm thấy đau đớn
cùng cực thì tâm ta ngập tràn niềm ao ước được giải
thoát khỏi đau đớn đến nỗi ta có thể quên đi nỗi kinh
hãi về cái chết.
Khi ta nghĩ
đến một tử tội đang độ khỏe mạnh, ta có thể dễ dàng
tưởng tượng người ấy phải cảm thấy day dứt về cái
chết đến dường nào. Một tử tội đang khỏe mạnh không
đủ khổ đau hoặc không đủ sung sướng để khiến mình
quên cái chết. Anh ta cứ mãi ngồi bên trong những bức tường
của xà lim đơn độc và yên lặng chờ cái chết đến. Anh
ta thực sự đối mặt với cái chết, nỗi khổ đau của anh
ta hẳn phải lớn lao vô song.
Tuy nhiên,
trong một ý nghĩa nào đó, mọi người cũng giống như những
tội nhân bị xử án tử hình. Thời điểm sẽ đến khi mọi
người chắc chắn sẽ phải chết. Khi y khoa tiến bộ xa hơn,
khổ đau thể chất của con người lúc sắp chết có thể
được giảm thiểu. Nhưng cho dù như thế, con người cũng
không thoát khỏi sợ hãi, lo lắng và khổ đau về chính cái
chết.
Chỉ có một
con đường để thoát khỏi sự đe dọa của cái chết. Đấy
là một tôn giáo mà nhờ nó chúng ta có thể tin vào cuộc
sống vĩnh cửu <196> rằng chúng ta không chết, sự sống
của chúng ta chỉ thay đổi hình thức mà thôi. Khi chúng ta
có thể toàn thiện tâm thức nhờ tôn giáo, chúng ta sẽ thực
sự thoát khỏi sự sợ hãi và khổ đau về cái chết.
Chúng ta không
những chỉ bị đeo đẳng bởi những day dứt về cái chết
mà còn bởi sự khổ đau về sự sống nữa. Ngày và đêm,
chúng ta bị tấn công bởi những khổ đau vật chất, cơ thể,
tinh thần và những khổ đau khác nữa. Trong bao nhiều là khổ
đau này, hai khổ đau về vật chất, cơ thể cần phải được
giảm thiểu nhờ tri thức và nỗ lực của con người. Mặc
dù trình độ hiểu biết của chúng ta hiện nay chưa thể loại
bỏ hoàn toàn hai hình thức khổ đau này được, nhưng chúng
cũng đang được giảm thiểu dần dần theo với sự phát triển
và vươn cao của tri thức con người. Thật vậy, những loại
khổ đau này hầu như sớm muộn gì cũng có thể biến mất
đi.
Khổ đau
nào về tinh thần mà ta có thể nhận thức được nguyên nhân
của nó thì có thể được tiêu trừ do sự nhổ bật nguyên
nhân ấy hay do tu tập tâm thức. Tuy nhiên vẫn còn có sự
khổ đau về tinh thần mà tự sức chúng ta, chúng không kiểm
soát nổi dù cho chúng ta có nỗ lực thật nhiều để thăng
tiến tâm thức. Như đã nói trước đây, khi tiềm thức sinh
khởi trong bạo động thì chúng ta không thể kiểm soát nó
được dù chúng ta có cố gắng đến bao nhiêu đi nữa.
Khi nghiêm
túc nghĩ rằng ta không ghét người nào đó thì sự ghét của
ta đối với người ấy lại lớn mạnh trong tâm ta. Khi nghiêm
khắc nhắc nhở mình rằng ta không nên nóng giận thì bỗng
nhiên ta lại nỗi cơn giận dữ. Khi hiểu rằng ta không nên
sợ một cái gì đó thì ta lại không thoát khỏi cái cảm
giác sợ hãi, lo lắng. Người bình thường chúng ta thường
kinh qua những mâu thuẫn như thế. Cả đến những khổ đau
như thế về sự sống chúng ta cũng không thể kiểm soát được
huống nữa là sự sợ hãi và lo lắng về cái chết !
Khi người
ta đối mặt với một nỗi khổ đau trầm trọng đến nỗi
người ta không thể kiểm soát nó được dù đã hết sức
cố gắng thì người ta cảm thấy như mình phải nương tựa
vào một cái gì đó có năng lực hơn mình, một cái gì tuyệt
đối, và người ta cầu cứu. Người ta giao cả thân
tâm mình cho năng lực tuyệt đối này như là bảo rằng “Xin
ngài cứ tùy tiện. Tôi xin dâng mọi sự lên ngài”.
Chúng ta nên
nương tựa vào gì ? Chúng ta nên giao thân tâm mình cho cái
gì ? Như đã nêu trước đây, người nguyên thủy sùng bái
mặt trời, núi non, thú vật, cây cỏ hay những người khác
và những thần linh cư ngụ bên trong họ. Nhưng cách xử sự
như thế rõ ràng ngày nay không còn nữa. Người tin theo một
hình thức tôn giáo tiến bộ hơn nương tựa vào “năng lực
tuyệt đối” của tôn giáo ấy, nương tựa vào một vị
thần linh được xem là đấng toàn năng sáng tạo và cai quản
mọi sự ở trên trời và trên mặt đất. Họ xoay sở để
đạt được an tâm ở một mức độ nào đó bằng cách cầu
nguyện và xin vị thần linh này giúp đỡ họ.
Nhưng ngay
cả sự an tâm này cũng chỉ giới hạn. Chúng ta không thể
đạt sự đảm bảo và bình an tuyệt đối từ một thần
linh như thế vì vị thần linh này hiện hữu vĩnh viễn tại
một cõi siêu thế nào đó như cõi trời. Một vị thần từ
cõi trời mà nhìn xuống cõi đời một cách uy nghiêm, một
vị thần trừng phạt cái ác một cách tàn nhẫn và ban thưởng
cho cái thiện - vị thần này càng có năng lực tuyệt đối
bao nhiêu thì chúng ta càng trở nên lệ thuộc và đồng thời
càng cảm thấy sợ hãi bấy nhiêu vì chúng ta không biết khi
nào chúng ta bị vị thần này bỏ rơi hay khi nào chúng ta có
thể bị ngài trừng phạt. Vì thế, chúng ta sống trong kinh
sợ vị thần này, dù chúng ta đã dốc lòng nương tựa vào
ngài. Với sự lệ thuộc tâm thức như thế vào một sức
mạnh bên ngoài, chúng ta không thể nào đạt được sự an
tịnh tâm thức thực sự (Niết-bàn) được.
Chúng ta có
thể nương tựa vào cái gì đó bên trong chúng ta không ? Không,
cái ấy cũng không đáng tin cậy vì tâm ta luôn luộn bị ảo
tưởng. Thân ta cũng không đáng tin cậy vì cuối cùng thân
cũng bị tan rã. Nếu chúng ta có thể nương tựa hoàn toàn
vào cái gì đó bên trong chúng ta thì chúng ta sẽ không cần
đến tôn giáo và sẽ có thể tự cứu mình bằng chính nỗ
lực của mình.
Thế thì
chúng ta nên nương tựa vào gì để được cứu độ ? Ở
đây, chúng ta phải nhớ đến lời đức Phật dạy:
“Hãy tự
mình làm ánh sáng cho mình, hãy lấy Pháp làm ánh sáng cho mình”.
(Ji-tòmyò, hò-tòmyò; Tự đăng minh, Pháp đăng minh), đây là
lời mà đức Thích-ca đã nói với Tôn giả A-nan, một trong
mười đại đệ tử của Ngài trước khi Ngài nhập diệt.
Ngài A-nan lo lắng nghĩ rằng: “Khi đức Thế Tôn, bậc Đạo
Sư tối thắng nhập diệt, chúng ta sẽ nương tựa vào ai trên
đời này để tu tập và sinh sống ?” Đáp lại nỗi lo lắng
của ngài A-nan, đức Phật dạy ngài như sau: “Này A-nan !
Trong tương lai, các Ông nên tự mình làm ánh sáng cho mình
và nên nương tựa vào chính mình. Các Ông chớ nương tựa
vào người khác. Các Ông cũng nên lấy Pháp làm ánh sáng cho
mình và nên nương tựa vào Pháp. Các Ông chớ nương tựa
vào ai khác”.
Không
có lời dạy nào tốt hơn lời dạy này để tóm tắt tinh
yếu của một tôn giáo chân chánh trong vài câu. Đầu
tiên, đức Phật dạy: “Các Ông có thể nương tựa vào chính
mình”. Khi chúng ta nương tựa vào người khác, chúng ta không
biết làm gì nếu họ bỏ rơi ta hay họ không còn hiện diện.
Do đó, đức Phật khuyên chúng ta nên nương tựa vào chính
chúng ta và đi theo Con Đường bằng nỗ lực của chính chúng
ta. Nhưng chúng ta nên nương tựa vào gì trong khi đang sống
? Đức Phật dạy rằng đấy chính là Pháp, tức là chân lý
và rằng chúng ta không nên nương tựa vào người khác một
cách tuyệt đối. Ở đây, từ “người khác” nghĩa là “các
thần linh”, những vị được xem là hiện hữu bên ngoài
chúng ta và là thầy của chúng ta. Đức Phật nhấn mạnh rằng
chúng ta không nên nương tựa vào những vị thần như thế,
mà chỉ nên nương tựa vào Pháp, chân lý.
Thật vậy,
lời của Ngài rất đáng trân trọng. Chỉ một lời dạy đơn
giản “Hãy tự mình làm ánh sáng cho mình” có giá trị hơn
hết thảy bao nhiêu giáo lý về đời người và tôn giáo đã
được nhiều vĩ nhân thời xưa tuyên bố.
Qua lời dạy
này, chúng ta hiểu rằng cái mà chúng ta nương tựa, Pháp,
ở cả bên trong lẫn bên ngoài chúng ta. Đấy là cái chân
lý thấm nhuần toàn bộ vũ trụ mà không cần thiết lập
một sự phân biệt giữa bên trong và bên ngoài. Thân thể
ta được chân lý này tạo ra và được nó làm cho sống. Tâm
ta cũng được chân lý này tạo ra và được nó làm cho vận
hành. Tất cả các sự vật bao gồm xã hội, trời, đất,
cây cối, chim muông và thú vật đều được chân lý này tạo
ra và được nó làm cho sống.
Một người
cảm thấy từ “chân lý” là cái gì lạnh lùng và trừu
tượng có thể thay thế nó bằng nhóm từ “sự sống lớn
lao” khiến cho mọi sự trên đời này có mặt và sống. Khi
ta nhận thức chắc chắn trong thâm tâm rằng ta được sinh
ra từ cái sự sống lớn lao thấm nhuần cả vũ trụ ấy thì
ta có thể được an tâm thực sự tức là không bị cái gì
làm dao động.
Chúng ta có
thể đạt được cái tâm thức như thế bằng cách nào ? Không
cần phải nói, đấy là cách không ngừng học tập giáo lý
của đức Phật và làm cho giáo lý ấy bắt rễ sâu trong tâm
nhờ tư duy về nó. Ta phải hiểu chắc trong tâm rằng sự
sống của ta cần hợp nhất với sự sống vũ trụ (đức
Phật). Đây thực sự là Thiền định, theo quan điểm tôn
giáo. Nhờ loại Thiền định này, ta có thể thanh tịnh được
cả cái tâm mà ta không có ý thức đến, tức là, tiềm thức
của ta và ta có thể khiến tư duy và hành xử của ta hài
hòa một cách tự nhiên với hoàn cảnh chung quanh. Nếu tư
duy và hành xử của ta hài hòa với hoàn cảnh chung quanh thì
những khổ đau lo lắng không làm ta rối rắm. Trạng thái
tâm thức này là sự an tịnh thực sự của tâm; đấy là
cấp độ của “Niết-bàn là tịch lặng”, cấp độ tịch
lặng tuyệt đối trong đó chúng ta không nắm bắt vào cái
gì cả. Trạng thái tâm thức này không bị giới hạn vào
sự an tâm thụ động. Cái tâm thức được sự sống vũ trụ
lớn lao làm cho sinh động của chúng ta sẽ cho chúng niềm
hy vọng và sự can đảm lớn lao. Năng lực tuôn ra từ tâm
thức này khiến ta tiến lên mà thể hiện cuộc sống hàng
ngày, sự nghiệp và Bồ-tát đạo của ta nhằm vì lợi ích
cho người khác ở trên đời này.
Nhận thức
của chúng ta về sự được làm cho sống là sự cứu độ
cho chúng ta. Sự tận tụy tuyệt đối của chúng ta đối với
chân lý truyền sự sống cho chúng ta, cho nên sự việc chúng
ta niệm “Nam-mô” (Namu) từ thân tâm phải được xem là
sự đạt đến niềm tin cao độ nhất. Nam-mô là do từ Hán
ngữ chuyển âm từ Phạn ngữ (Sanskrit) namas, nghĩa là hết
lòng nương tựa vào Pháp với niềm tin cậy hoàn toàn.
Trạng thái cao vời mang tính tôn giáo khi chúng ta cảm thấy
lòng biết ơn và sự hoan hỷ khôn tả đối với Pháp cũng
bao gồm trong từ nam-mô. Chúng ta không sùng bái một vật,
một người, một tinh linh hay một vị thần hiện hữu bên
ngoài chúng ta, nhưng chúng ta tận tụy với Pháp là thứ khiến
cho chúng ta sống và hợp nhất chúng ta vào đấy <196> đây
là niềm tin thuần khiết và cao thượng nhất. Niệm danh hiệu
thiêng liêng Nam-mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (Namu Myòhò Renge
- kyò) là chứng tỏ chúng ta quy y Pháp bằng toàn bộ tâm ý
của chúng ta. Không có hình thức tôn giáo nào thuần khiết
hơn thế; đây là hình thức cao nhất của tôn giáo.
Dĩ nhiên
sự hiểu Pháp thì khác nhau theo từng giai đoạn và tùy vào
khả năng của mỗi người. Do vì hầu hết người ngày nay
đều nhận được một nền giáo dục khoa học nên có khuynh
hướng chỉ tin vào những gì được nhìn thấy rõ ràng và
đã được chứng minh một cách khoa học. Người ta có thể
nghi ngờ những khái niệm như Pháp và “điều tạo sự sống
cho mọi sự” như là những ý tưởng suông do các nhà lãnh
đạo tôn giáo đặt để ra. Nhưng người ta nên nghĩ đến
mọi chất thể vật lý mà khoa vật lý học đã giải thích:
tất cả mọi chất thể trong vũ trụ này đều được gồm
bằng các âm điện tử, dương điện tử và trung hòa tử
và các hạt hạ nguyên tử, và sự khác nhau giữa những chất
thể là do bởi những tập hợp khác nhau của những hạt cơ
bản này.
Cứ cho rằng
các hạt hạ nguyên tử được xem là những đơn vị nhỏ
nhất của vật chất thì hễ chừng nào các hạt ấy còn hiện
hữu như là vật chất, như là sự vật, thì chúng vẫn còn
phải được chia nhỏ thêm nữa. Tuy nhiên khoa học hiện đại
không thể làm như thế được, cho nên các nhà khoa học bảo
rằng những hạt cơ bản này được sản sinh bởi “năng
lượng”.
Năng lượng
thường được xem là “sức mạnh mà nhờ đó vật chất
vận hành”. Nhưng trước khi vật chất có thể vận hành
được thì phải có sẵn cái năng lực sinh ra vật chất đã.
Đây là lý thuyết được đưa ra bởi kỹ sư Tiến sĩ Yòichi
Yamamoto.
Ta không thể
nhìn thấy năng lượng bằng mắt trần của ta, hoặc xác định
nó như là một thực thể vật lý. Năng lượng trước hết
có vẻ như là “không có cái gì”, nhưng nó hiện hữu và
nó là một loại vật chất. Sự tích tập “loại vật chất”
này tạo thành những âm điện tử, dương điện tử và trung
hòa tử. Sự tích tập của các hạt này tạo ra các hạt này
tạo thành các loại nguyên tử khác nhau. Sự tích tập các
nguyên tử này tạo thành các thành tố như hydrô, ôxy và các-bon.
Sự tích tập các thành tố này tạo ra không khí, nước, các
khoáng chất, cây cối và thân thể con người. Như thế, vật
chất vốn được tạo ra từ một loại năng lượng hay sức
mạnh.
Các nhà khoa
học ở Xô Viết nêu lý thuyết rằng thời gian cũng là năng
lượng. Họ khẳng định rằng mặt trời và các ngôi sao khác
sẽ không bao giờ ngưng cháy vì chúng dùng thời gian làm năng
lượng. Đây chính là giới hạn mà khoa học hiện đại đã
biết chắc. Có thể xem như không thể truy tìm nguồn
gốc của vật chất phía bên kia giới hạn ấyđược.
Tuy nhiên,
đức Phật Thích-ca đã dạy về vật chất một cách đúng
đắn cách đây hơn hai ngàn năm. Ngài tuyên bố vật chất
là “Sắc tức thị không” (Shiki soku zekù) và “Không tức
thị sắc” (Kù soku zeshiki)(1). Không hay Sùnyatà nguyên nghĩa
là “trống” hay “rỗng”, không có nghĩa là “không có
cái gì cả” mà nghĩa là “bình đẳng”. Sắc hàm ý “hiện
tượng”. Sắc tức thị không trỏ ý rằng tất cả các sự
vật, bao gồm vật chất, ý thức của con người, và các sự
kiện đều bắt nguồn từ cùng một căn bản như nhau. Dù
những thứ này có vẻ như khác nhau dưới mắt con người,
trạng thái thực của nó thì như nhau.
Khi được
phân tích đến mức độ tối đa, mọi sự vật đều như
nhau (bình đẳng) vì chúng là một dạng nào đó của năng
lượng (sức mạnh). Tương tự, Không tức thị sắc nghĩa
là tất cả các sự vật, bao gồm vật chất, ý thức và các
sự kiện đều do không tạo ra, và do đó, không đồng nhất
với sắc. Tóm lại, tất cả các hiện tượng được tạo
ra từ một loại như nhau về năng lượng hay sức mạnh.
Không (năng
lượng) tích tập lại nhờ vào các điều kiện (nguyên nhân
thứ yếu, en, duyên) và tạo ra một chất thể. Những khác
nhau về điều kiện được đến sự tạo ra nước, không
khí, đá hay thân thể con người. Khi các điều kiện thay đổi,
các chất thể tạo ra sự thay đổi và mang một hình thức
khác. Khi nước gặp điều kiện là nhiệt độ cao, nó sẽ
bốc hơi. Khi hơi nước gặp điều kiện là không khí lạnh,
nó sẽ cô đọng lại và tạo thành mây. Các sự kiện và
sự vận hành của tâm cũng tương tự; không có cái gì không
theo quy luật căn bản này.
Đức Phật
Thích-ca đã giải thích quy luật này qua học thuyết Duyên
khởi (Pratitya - samutpada, engi) hay nguồn gốc tùy thuộc, nghĩa
là mọi hiện tượng đều được sinh ra và biến diệt do
bởi nhân quả. Thuật ngữ này trỏ ý rằng: một sự vật
sinh khởi hay được sản sinh từ tác dụng của một điều
kiện (duyên, en). Một sự vật không thành hình nếu không
có một điều kiện thích hợp. Chân lý này áp dụng vào mọi
hiện hữu, hiện tượng trong vũ trụ. Đức Phật đã trực
nhận điều này một cách thâm sâu đến nỗi ngay cả khoa
học hiện đại cũng không thể nghiên cứu xa hơn được.
Nghĩ như
thế, đời ta xem ra có vẻ bấp bênh. bảo rằng không do duyên
(en) tạo ra hình như trỏ ý rằng mọi sự vật đều là sản
phẩm của cơ hội suông mà thôi. Nhưng điều này không phải
như vậy. Khi ta nhìn kỹ các sự vật quanh ta, ta nhận thấy
nước, đá, và con người, mỗi thứ đều được tạo ra theo
một mẫu thức nào đó với đặc tính riêng củanó. Nhờ
vào năng lực hay điều động nào mà các điều kiện được
sinh ra rồi tạo thành những sự vật khác nhau theo một trật
tự toàn hảo từ một năng lượng bất định là cái không
như thế ? Khi xét sự quy củ và trật tự này, chúng ta không
thể không chấp nhận rằng có một quy luật nào đó. Đấy
là quy luật khiến cho mọi sự vật hiện hữu. Đây chính
là Pháp mà đức Phật dạy.
Chúng ta không
hiện hữu một cách ngẫu nhiên, mà hiện hữu và sống nhờ
Pháp này. Ngay khi chúng ta hiểu được sự việc này, chúng
ta ý thức được cái nền tảng vững chắc của chúng ta và
có thể khiến tâm mình thoải mái. Chẳng chút bốc đồng
nào, nền tảng này dựa trên Pháp vững chãi vô song. Sự đảm
bảo này là nguồn suối của sự đại bình an của cái thân
không bị dao động vì bất cứ điều gì. Đấy là cái Pháp
truyền sức sống cho hết thảy chúng ta.
Pháp không
phải là cái gì lạnh lùng mà tràn trề sức mạnh và sự
sinh động.
Hãy xem hàng
tỷ năm trôi qua, trái đất không có sự sống; núi lửa tuôn
tràn những dòng thác dung nham, và hơi nước, khí đầy cả
bầu trời. Tuy nhiên, khi trái đất nguội mát trong khoảng
hai tỷ năm, các vi sinh vật đơn bào được tạo ra. Hẳn nhiên
chúng được tạo ra nhờ sự vận hành của Pháp. Chúng được
sinh ra khi năng lượng (không) tạo nên nền tảng của dung
nham, khí và hơi nước gặp những điều kiện thích hợp (nguyên
nhân thứ yếu, duyên). Chính Pháp đã tạo các điều kiện
cho sự phát sinh đời sống. Do đó, chúng ta nhận ra rằng
Pháp không lạnh lùng, không phải là một nguyên tắc trừu
tượng mà đầy sức sinh động khiến cho mọi sự vật hiện
hữu và sống.
Ngược lại,
mọi sự vật có năng lực muốn hiện hữu và muốn sống.
Trong hai tỷ năm, cả đến dung nham, khí và hơi nước cũng
có sự thôi thúc sống. Đấy là lý do khiến các sinh vật
đơn bào được sinh ra từ các thứ ấy khi các điều kiện
đã hội đủ. Những sinh vật vô cùng nhỏ này đã trải qua
mọi thứ thử thách như sự nóng và lạnh cực độ, lũ lụt
khủng khiếp, mưa tuôn ào ạt trong khoảng hai tỉ năm, và
tiếp tục sống. Hơn nữa, chúng dần dần tiến hóa thành
những hình hài phức tạp và đến đỉnh điểm là con người.
Sự tiến hóa này là do bởi sự thôi thúc sống của những
vi sinh vật đầu tiên này. Sự sống có ý thức và qua đó
nó muốn sống, và ý thức này đã có trước khi có sự sống
trên trái đất. Cái ý muốn như thế có trong mọi sự vật
trong vũ trụ. Cái ý muốn ấy có trong con người ngày nay.
Theo quan điểm khoa học, con người được hình thành bởi
một sự tập hợp của các hạt cơ bản; và nếu ta phân tích
điều này một cách sâu xa hơn, ta sẽ thấy rằng con người
là một sự tích tập của năng lượng. Do đó cái ý muốn
sống chắc chắn phải có trong con người.
Tuy nhiên,
đây là một ý thức quá thâm sâu đến nỗi chúng ta không
thể nắm bắt, tách riêng ra hay kiểm soát nó được. Cái
ý thức muốn sống là gì và đâu là nguồn gốc khiến chúng
ta sống ? Chúng ta không thể dùng khoa học để tách riêng
nó ra và không thể giải thích nó bằng một lý thuyết nào
đó.
Ngay cả
những nhà khoa học uyên thâm nhất cũng xem nó như là một
vấn đề vượt ngoài sự hiểu biết của con người. Các
triết gia đã cố giải thích nó như là cái “ý chí mù quáng
muốn sống”. Ta có thể gọi nó là “ý chí phổ quát”
hay “sự sống phổ quát”. Chúng ta cũng có thể miêu tả
nó là “cái năng lực làm cho mọi sự vật sống” hay “cái
quy tắc làm cho mọi sự vật hiện hữu”. Đức Phật Thích-ca-mâu-ni
dạy về điểm này theo cách sau đây: tất cả các sự vật
trong vũ trụ đều là không, chúng được tạo ra và hủy diệt
do duyên (en). Không có cái gì hiện hữu trong một hình thức
vĩnh cửu ổn định, chỉ có Pháp thấm nhuần chúng là một
sự hiện hữu không bao giờ thay đổi.
Tuy nhiên,
một người bình thường khó mà nhận thức rõ được Pháp
là thứ không thể thấy, không thể sờ nắm được. Những
người sống vào thời đức Phật cũng phải vô cùng khó khăn,
ngoại trừ người nào có trí tuệ thật cao vời, mới có
thể nắm được Pháp về mặt lý thuyết. Do đó, đức Phật
Thích-ca thể hiện Pháp hay chân lý bằng hình tướng đức
Phật mà con người có thể nhìn thấy trực tiếp. Ngài giảng
rằng đức Phật có năng lực tuyệt đối và là một hiện
hữu bất tử hiện diện trong mọi sự vật và khiến cho chúng
sống. Dĩ nhiên, đức Phật này là đức Phật Bổn nguyên
Vĩnhcửu.
Đức Bổn
Phật là cái năng lực làm cho mọi sự sống và Ngài có mặt
ở khắp nơi trong vũ trụ. Không có chỗ nào không có đức
Phật. Dĩ nhiên đức Bổn Phật xuất hiện theo một hình tướng
thích hợp đối với đối tượng mà Ngài gây sự sống vì
Ngài là cái năng lực làm cho mọi sự được sống. Khi Ngài
xuất hiện trong cõi người, Ngài mang hình tướng thích hợp
với con người.
Nếu chúng
ta hiểu các từ “đức Bổn Phật xuất hiện” một cách
hời hợt thì có thể chúng ta sẽ tự hỏi thế thì tại sao
mọi người không thấy được Ngài khi Ngài xuất hiện. Nhưng
mối nghi ngờ này là vô căn cứ. Thay vì bảo sự thể hiện
của sự hiện hữu của Ngài thì ở đây bảo “Ngài xuất
hiện”, chỉ có thế mà thôi. Hễ chừng nào đức Bổn Phật
vẫn là chân lý và là cái năng lực làm cho mọi người sống
thì Ngài vẫn luôn luôn hiện hữu trong mỗi người chúng ta.
Tất cả
chúng ta đều có thể hiểu sự hiện hữu của Ngài theo một
cách nào đó. Hiểu như thế tức là thấy đức Phật.
Đức Thích-ca-mâu-ni
là con người đầu tiên nhận rõ cái chân lý làm cho mọi
sự vật được sống. Một người bình thường không thể
hiểu nó dù người ấy được giảng rằng đấy là “Pháp”
hay “chân lý”. Nhưng khi ta nghĩ đến chân lý bằng hình
tướng đức Phật là vị nhận thức tâm ta và ban sự sống
cho tất cả chúng ta thì ta có thể nhận ra cái năng lực thương
yêu của đức Phật, cái năng lực khiến tâm ta hợp nhất
với tâm Ngài và khiến chúng ta sống. Cái năng lực của đức
Phật khiến chúng ta sống là lòng từ bi của Ngài.
Kinh Pháp
Hoa thường bảo rằng đức Phật hiện hữu ở khắp nơi và
xuất hiện theo nhiều hình thái khác nhau để cứu độ con
người - tức là khiến cho con người sống. Kinh cũng trực
tiếp dạy rằng đức Phật đã hiện hữu từ quá khứ vĩnh
hằng. Tuy nhiên, đến ngang đây trong kinh Pháp Hoa, đức Phật
chưa giảng rõ cho hết bề sâu của chân lý này. Để dẫn
dắt các đệ tử hiểu chân lý này một cách triệt để,
Ngài cố gắng thay đổi dần dần tâm của họ mà khiến cho
tâm họ chuyển hướng. Nếu Ngài không làm như thế mà lại
giảng ngay cái trạng thái thâm sâu và chân thật của tất
cả các sự vật thì các đệ tử Ngài sẽ không thể hiểu
hay tin những gì Ngài nói mà trái lại sẽ bị rơi vào lầm
lạc.
Khi Ngài xác
định đã đến thời, cuối cùng Ngài khởi sự giảng giáo
lý quan trọng nhất này. Đây là chất liệu của phẩm 16 “Như
Lai Thọ Lượng” (thọ mạng [vĩnh cửu] của đức Như Lai)
trình bày về thực thể và thọ mạng của đức Phật. Ngài
tuyên bố rằng thực thể của đức Phật không phải là đức
Thích-ca-mâu-ni mà chư đệ tử của Ngài nhìn thấy mà là
đức Bổn Phật. Ngài cũng cho biết rằng đức Bổn Phật
luôn luôn hiện hữu, từ quá khứ vô cùng đến tương lai
vô cùng, và Ngài có mặt ở khắp nơi trong vũ trụ. Nói một
cách khác, Ngài dạy rằng cái năng lực khiến hết thảy mọi
sự vật sống vẫn luôn hiện hữu ở mọi nơi, vào mọi lúc.
Thọ mạng
của đức Phật là vô cùng nghĩa là thọ mạng của chúng
ta cũng vô cùng. Do hiểu được sự vô cùng (vô lượng) của
thọ mạng của đức Phật, chúng ta có được niềm hy vọng
và sự kiên cường vô hạn. Do đó, phẩm 16 không những chỉ
là cốt lõi của Bổn Môn (Pháp về Nguyên gốc) mà còn được
xem như là cái tinh thần sinh động của toàn bộ kinh Pháp
Hoa.
Phẩm này
chứa đựng giáo lý sâu xa như thế khiến chúng ta không thể
nắm bắt được bản chất của nó nếu chúng ta chỉ hiểu
theo nghĩa đen. Do đó mà tôi đã giới thiệu phẩm này bằng
cách ôn lại giáo lý về Tích Môn (Pháp về sự Thể hiện)
rồi sau đó định nghĩa bản chất của tôn giáo. Tôi cũng
đã cố gắng giải thích ý nghĩa đức Bổn Phật theo cách
mà con người ngày nay có thể hiểu được. Bây giờ chúng
ta
hãy tiến đến nội dung của chính phẩm 16.
Trong phẩm
15, “Tùng Địa Dõng Xuất” (từ dưới đất tuôn lên), chúng
Bồ-tát hoài nghi khi nghe rằng vô số Đại Bồ-tát từ đất
tuôn vọt lên vốn thảy đều đã được đức Phật Thích-ca
giáo hóa từ khi Ngài đạt Toàn Giác. Thế rồi, thay mặt chư
Bồ-tát này, Bồ-tát Di-lặc xin đức Phật giải quyết nghi
ngờ của chư vị ấy. Phẩm 16 khởi đầu ở đây.
Bấy giờ
đức Phật nói với chư Bồ-tát và hết thảy đại chúng:
“Này các Thiện nam tử, hãy tin và hãy nhận rõ lời chân
thực của Như Lai”. Ngài lại bảo đại chúng: “Hãy tin
và hãy nhận rõ lời chân thực của Như Lai.” Và lần thứ
ba, Ngài bảo hết thảy đại chúng:
“Hãy tin
và hãy nhận rõ lời chân thực của Như lai.”
Đức
Phật lặp lại ba lần câu “Hãy tin và hãy nhận rõ lời
chân thực của Như Lai” để nhấn mạnh giáo lý Ngài sắp
giảng là quan trọng vô cùng.
“Lời
chân thực của Như Lai” có nghĩa là cái chân lý thâm sâu
triệt để trong tâm Ngài; đây là ngược lại với “giáo
lý phương tiện”. Như đã được nêu rõ nhiều lần trong
giáo lý Tích Môn ở nửa đầu của kinh Pháp Hoa, giáo lý phương
tiện trình bày chân lý bằng ngôn ngữ đơn giản theo nhiều
cách khác nhau tùy theo khả năng của những người nghe Phật
pháp. Một người bình thường không thể hiểu chân lý nếu
không đi qua quá trình của giáo lý phương tiện này. Trái
lại, lời chân thực của Như Lai là cái chân lý đúng thực
như chính nó, cái chân lý không tô vẽ.
Tại sao ở
đây, lần đầu tiên đức Phật cho thấy “cái chân lý đúng
thực như chính nó” ? Đấy một phần là vì giờ đây Ngài
tin ở sự hiểu Pháp của chư đệ tử và một phần là vì
các giáo lý của Ngài hẳn sẽ không được vẹn toàn nếu
Ngài không giảng cái chân lý thâm sâu nhất trước khi Ngài
nhập diệt.
Đức Phật
bảo rằng: “Hãy tin và hãy nhận rõ chân lý” thay vì bảo:
“Hãy tin chân lý”, điều này có một ý nghĩa quan trọng.
Đức Phật Thích-ca không bao giờ áp đặt tư tưởng của
Ngài vào các đệ tử hoặc người khác. Ngài giảng cái chân
lý đúng như nó và khích lệ người nghe rằng “Các vị cũng
thế, hãy nhìn xem đi”. Ngài đưa họ vào chân lý và dỗ
dành họ rằng: “Các vị cũng thế, hãy đến với ta”. Ngài
khích lệ:“Hãy nhìn xem chân lý”, thay vì chỉ bảo rằng:
“Hãy tin đi”, đây là một điểm rất quan trọng. Mệnh
đề vắn tắt này của đức Phật biện hộ cho đặc tính
giáo lý của Ngài. Lời Ngài dạy “Hãy nhìn xem nó” tương
đương với cái “tinh thần khoa học” theo lối nói ngày
nay. Trong mấy lời này, đức Phật nêu trỏ rằng nếu người
nào nhìn thấy rõ chân lý, nghiên cứu nó và nhận định nó
thì chắc chắn người ấy sẽ có thể thỏa lòng mà chấp
nhậnnó.
Lời Ngài
dạy “Các vị cũng vậy, hãy đến với Ta” cũng bao gồm
một ý niệm quan trọng như thế. Lời này nghĩa là: “Hãy
đến với Ta và thực hành Pháp như Ta vậy. Sau đó chắc chắn
các vị sẽ hiểu giá trị của Pháp.” Có thể đức Phật
không bao giờ nói lên lời này nếu Ngài không tuyệt đối
tin tưởng ở Pháp và Đạo.
Vì đức
Phật Thích-ca là một người có lý trí, Ngài đã không nói
với các đệ tử đầu đàn rằng: “Hãy tin chân l ý” mà
nói rằng: “Hãy tin và hãy nhận rõ chân lý”, tức là “Hãy
tin chân lý sau khi hiểu nó”. Về sự nhấn mạnh vào niềm
tin được đặt căn bản trên sự hiểu biết, Phật giáo khác
biệt một cách căn bản với nhiều tôn giáo khác.
BA LOẠI TRÍ
TUỆ, TỪ BI VÀ THỰC HÀNH (Trí, Bi, Hạnh):
Thế rồi
đại chúng Bồ-tát, do ngài Di-lặc đứng đầu, chắp tay bạch
Phật: “Bạch đức Thế Tôn, xin Ngài giảng cho, chúng con
sẽ tín thọ lời đức Phật.” Chư vị lặp lại ba lần
“Xin Ngài giảng cho, chúng con sẽ tín thọ lời đức Phật.”
Đại chúng
Bồ-tát lặp lại câu trên như thế chứng tỏ chư vị thiết
tha mong mỏi được nghe Pháp và quyết tâm vững chắc sẽ
thực hành Pháp sau khi nghe Pháp. Quyết tâm của chư vị được
tỏ lộ khi chư vị tuyên bố “Chúng con sẽ tín thọ lời
đức Phật”. Như thế chư vị biểu lộ ý nguyện không những
chỉ tin lời đức Phật mà còn ghi nhớ những lời ấy nữa.
Một điều
nữa chúng ta đừng quên là, thay mặt cho đại chúng Bồ-tát,
Bồ-tát Di-lặc thỉnh cầu đức Phật giảng pháp. Trong phẩm
1 của kinh Pháp Hoa, đức Phật phóng hào quang từ vòng lông
trắng giữa đôi mày Ngài chiếu sáng khắp các quốc độ
trong vũ trụ. Bấy giờ Bồ-tát Di-lặc lấy làm lạ về
điều kỳ diệu này bèn xin Bồ-tát Văn-thù giải thích. Thế
rồi dựa vào kinh nghiệm, Bồ-tát Văn-thù đoán định: “Giờ
đây đức Thế Tôn có ý định giảng một giáo pháp rất
quan trọng, là cái chân lý thâm sâu nhất trong tâm Ngài.”
Từ đoạn
này, chúng ta có thể phán đoán ngài Văn-thù là vị thượng
thủ Bồ-tát. Ở các phẩm 12 và 14, Bồ-tát Văn-thù lại thỉnh
cầu đức Phật giáo hóa chúng Bồ-tát. Tuy nhiên, từ nửa
sau của phẩm 15 trở đi, Bồ-tát Di-lặc đại diện cho chúng
Bồ-tát và Bồ-tát Văn-thù không xuất hiện trong các phẩm
sau của kinh Pháp Hoa. Sự thay đổi này không phải ngẫu nhiên,
trái lại có ý nghĩa sâu xa.
Như được
nêu trỏ khi bảo “Trí tuệ của Văn-thù”, Bồ-tát Văn-thù
được xem là sự ý niệm hóa hay nhân cách hóa của trí tuệ
của đức Phật. Do đó, trong Tích Môn là giáo lý về trí
tuệ, vị Bồ-tát này thường đại diện chúng Bồ-tát. Mặt
khác, Bồ-tát Di-lặc được xem là đại diện lòng từ bi
của đức Phật. Do đó, trong Bổn Môn là giáo lý về từ
bi khởi từ nửa sau của phẩm 15, Bồ-tát Di-lặc là vị đại
diện của tất cả các Bồ-tát. Tuy nhiên, ở phẩm 28, “Phổ
Hiền Bồ-tát Khuyến Phát” (sự khích lệ của Bồ-tát Phổ
Hiền”, phẩm cuối cùng của kinh Pháp Hoa, Bồ-tát Phổ Hiền
hành động như là người đại diện của chư Bồ-tát. Đấy
là vì ngài Phổ Hiền tiêu biểu cho sự thực hành (hạnh)
của đức Phật. Thực ra vị Bồ-tát này được xem là đại
diện giáo lý, sự thực hành và chứng đạt của đức Phật,
nhưng trong kinh Pháp Hoa, ngài đại diện mạnh mẽ nhất cho
sự thực hành (tu tập, hạnh) của đức Phật.
Sự xuất
hiện của ba vị Bồ-tát này - ngài Văn-thù đại diện Trí
tuệ của đức Phật; ngài Di Lặc tiêu biểu cho Từ bi của
đức Phật; và ngài Phổ Hiền thể hiện sự thực hành của
đức Phật - phản ánh cơ cấu của chính kinh Pháp Hoa.
Hơn hết
tất cả, con người cần trí tuệ để trở thành một người
tốt. Như người ta thường nói: “Sự ngu muội cũng là một
tội lỗi”; sự xấu ác xảy ra vì con người thiếu trí tuệ
thực sự. Trí tuệ ở đây không có nghĩa là kiến thức của
con người. Người ta có thể xem một người là có trí khi
người ấy quen với những vận hành bên trong của chính quyền
hay công nghiệp và tạo nên mối lợi lớn hoặc thoát khỏi
sự trừng phạt vì làm bậy nhờ sự khéo léo của người
ấy.Nhưng đây không phải là trí tuệ thực sự. Trí tuệ
thực sự thì khiến con người nhìn thấy những tính chất
cốt yếu của mọi sự vật trên đời này và biết luật
nhân quả, luật vô thường áp dụng vào mọi hiện tượng.
Nếu người ấy có được trí tuệ như thế thì người ấy
không thể không thực hành đúng đắn trong mọi sự người
ấy làm. Người ấy không thể làm bậy dù có bị yêu cầu
làm. Người ấy cũng không làm bậy do vì bị người khác
lừa dối hay xúi dục. Càng có nhiều người đạt được
trí tuệ như thế thì xã hội sẽ càng trở nên sáng sủa,
an bình và hưng thịnh hơn. Vì thế, đức Phật Thích-ca-mâu-ni
dạy rằng chúng ta trước tiên phải đạt cho được trí tuệ
chân thực.
Khi chúng
ta có được trí tuệ thực sự, chúng ta hiểu rằng mọi sự
vật trên đời có liên quan và phụ thuộc lẫn nhau (luật
“Không có cái gì có một ngã”) và rằng nếu chỉ riêng
chúng ta có trí tuệ, chỉ riêng chúng ta là đúng thì thế
giới kể về toàn bộ sẽ chẳng khá gì hơn. Do đó khi
chúng ta thấy nhiều người thiếu trí tuệ và do đó đi trệch
khỏi con đường chân chánh thì chúng ta cảm thấy cần phải
cứu họ thoát khỏi tình trạng ấy. Tinh thần từ bi dâng
tràn lòng chúng ta.
Nếu ta có
lòng từ bi thì ta không thể không thể hiện trong hành động.
Ta giảng Pháp cho những người chưa biết Pháp; ta khiến những
người đi sai con đường chân chánh quay về nẻo chân chánh;
ta mong được che chở và giáo hóa những người siêng năng
thực hành Pháp. Khi ta có thể hoàn toàn thành tựu ba thứ
trí tuệ, từ bi, thực hành (trí, bi, hạnh) thì giáo lý của
đức Phật sẽ được viên mãn trong ta và thế giới này sẽ
trở thành cõi Tịnh Độ. Giáo lý của kinh Pháp Hoa có cấu
trúc toàn hảo như vậy. Đây là lý do khiến ta không thể
nắm được ý nghĩa chân thực của kinh bằng cách chỉ đọc
từng đoạn từng phần, đọc nhảy từ chỗ này sang chỗ
nọ.
BA THÂN CỦA
ĐỨC PHẬT:
Đức Thế
Tôn thấy chư Bồ-tát ba lần thỉnh cầu, liền nói với chư
vị rằng: “Tất cả các vị hãy chăm chú nghe về năng lực
thần thông bí mật vi diệu của Như Lai.”
Từ “bí
mật” không có nghĩa là cái gì đó được giấu kín mà là
cái gì sâu xa đến nỗi khó thăm dò. Năng lực vô biên của
thực thể Như Lai, là thứ khiến mọi sự sống, ảnh hưởng
đến tất cả các chúng sanh. Không có cái gì có thể hoàn
toàn ngăn ngại được ảnh hưởng của năng lực này. Cái
năng lực ảnh hưởng rộng rãi đến mọi sự này là cái
gọi là năng lực thần thông của đức Như Lai. “Bí mật”
là nhằm trỏ thực thể của đức Như Lai, và “năng lực
thần thông” nghĩa là hành tác từ bi của đức Như Lai.
Ở đây,
đức Như Lai được chia làm hai phần: thực thể của Ngài
và hành tác của Ngài. Không có cái gì được thành tựu thỏa
đáng nếu cả hai thứ năng lực bổn nguyên và sự thể hiện
đều không viên mãn. Nhiều người thích phô bày sự “thể
hiện” của mình, tức là, cách thức hành tác của họ. Nhiều
công ty, hội đoàn cũng khuyến khích các thành viên của mình
theo như thế. Tuy nhiên, lối phô trương về sự thể hiện
như thế không bao giờ mang kết quả giá trị theo ý nghĩa
thực sự vì “hành tác” của họ không phát xuất từ những
khả năng thực sự của họ mà từ những hoạt động “hư
ngụy”, hời hợt của họ. Do đó, chẳng bao lâu các hoạt
động của họ sẽ cạn kiệt đi như một cái giếng cạn
bị khô. Đồng thời, dù cho năng lực nguyên gốc của người
ta có mạnh mẽ thế nào đi nữa, nó cũng sẽ không tạo ra
kết quả nào nếu không có sự thể hiện theo sau nó. Một
lượng nước ngầm vô cùng lớn cũng vô dụng trong đời sống
hằng ngày của ta nếu nó không phun ra thành suối hoặc nếu
ta không bơm nó ra khỏi lòng đất.