Phẩm
15
TÙNG
ĐỊA DÕNG XUẤT
Phẩm này
gồm hai điểm quan trọng đặc biệt. Thứ nhất, đức Thế
Tôn dứt khoát từ chối nhiều vị Bồ-tát từ các quốc độ
khác đến cõi Ta-bà, xin được hợp tác với Ngài giáo hóa
tất cả các chúng sanh ở đây. Thứ hai, Ngài bảo với nhiều
Bồ-tát từ dưới đất nhảy vọt lên (tùng địa dõng xuất)
rằng làm như thế là bổn phận của họ.
Chư Bồ-tát
từ dưới đất nhảy vọt lên có nghĩa là những người đã
có nhiều khổ đau và lo lắng trong suốt cuộc đời, đã tích
chứa công hạnh trong một môi trường bất thuận lợi như
thế và đã đạt trí tuệ khi đang sống cuộc sống bình thường.
Những người như thế đã tự mình kinh nghiệm và vượt qua
nhiều khổ đau và lo lắng, có năng lực thực sự. Quả thực
họ có năng lực giáo hóa người khác.
Đức Phật
đã giao phó cõi Ta-bà cho các Bồ-tát từ dưới đất vọt
lên, điều này dạy chúng ta rằng thế giới mà chúng ta đang
sống cần phải được làm cho thanh tịnh và bình an bằng
nỗ lực của chính chúng ta, những người đang cư ngụ trong
thế giới và rằng chúng ta nên thể hiện hạnh phúc trong
đời sống của chúng ta bằng nỗ lực của chính mình. Chúng
ta có trách nhiệm về việc tạo ra cõi Tịnh Độ tại nơi
chúng ta sống. Chúng ta nên tạo ra hạnh phúc của mình bằng
nỗ lực của chính mình - thật là một giáo lý đầy thuyết
phục và tích cực biết bao!
Chính đức
Phật Thích-ca-mâu-ni cũng đã trải qua một quá trình khổ
như thế và cuối cùng đạt Trí tuệ Tối thượng. Ở điểm
này, Phật giáo khác biệt rõ rệt với các tôn giáo khác.
Dù rằng các tôn giáo đều có giáo lý tốt đẹp, không có
bằng chứng rõ rệt nào về một trường hợp khác, theo đó
người sáng lập một tôn giáo lại đạt sự toàn giác của
riêng mình và thiết lập tôn giáo của riêng mình. Một số
tôn giáo tuyên bố rằng người sáng lập các tôn giáo ấy
do Thượng đế gởi đến. Một số tôn giáo khác tuyên bố
rằng Thượng đế mặc khải cho người sáng lập hay rằng
Thượng đế từ trên trời xuống cõi đời này.
Không như
những tôn giáo ấy, giáo lý Phật giáo là cái chân lý mà
đức Thích-ca-mâu-ni, vị đã sinh ra là một con người như
tất cả chúng ta và đã kinh qua sự khổ đau, lo lắng của
con người, đã mong cầu giác ngộ, đã tu khổ hạnh và đã
đạt Tuệ sau sáu năm nỗ lực tâm linh. Cái quá trình đạt
chứng ngộ của Ngài có thể được thấy rõ ràng. Do đó,
chúng ta có thể tin rằng cuối cùng, chắc chắn chúng ta sẽ
đạt giác ngộ tối thượng, chỉ cần chúng ta theo giáo lý
của đức Phật và đi theo con đường như thế. Cũng chắc
chắn rằng vì đây là giáo lý phát xuất từ đất (cuộc
sống thực sự) nên chúng ta, những kẻ đang thực sự sống
trên đời này có thể theo giáo lý này được. Phẩm 15 nhấn
mạnh điểm này.
Một điểm
quan trọng khác là sự giới thiệu Bổn Pháp - giáo lý của
đức Bổn Phật - ở nửa sau của phẩm. Sự khác nhau giữa
đức Phật xuất hiện trong lịch sử (Shakubutsu - Tích Phật)
và đức Bổn Phật (Hombutsu) đã được giải thích ở trang
35-36. Nửa đầu của phẩm 15 được định nghĩa như là phần
giới thiệu về Bổn Pháp, và nửa sau của phẩm 15, toàn bộ
phẩm 16 và nửa đầu của phẩm 17 là phần chính. Như thế,
phẩm 15 chiếm một vị trí chủ chốt trong việc chia kinh Pháp
Hoa và chúng ta nên đọc phẩm này một cách cẩn thận và
chú tâm.
Khi đức
Thế Tôn giảng xong phẩm “An Lạc Hạnh” vô số Bồ-tát
từ các quốc độ khác đến đã đứng lên giữa đại chúng,
chắp tay đảnh lễ và bạch đức Phật: “Bạch Thế Tôn
! Nếu đức Phật cho phép chúng con, sau khi Ngài nhập diệt,
siêng năng, nỗ lực hộ trì, đọc tụng, sao chép và tôn thờ
kinh này trong cõi Ta-bà, thì chúng con sẽ phổ giảng kinh này
trong cõi này”.
Liền đó,
đức Phật trả lời dứt khoát với chúng Bồ-tát: “Thôi
đủ rồi ! Này các Thiện nam tử ! Các Ông không cần phải
hộ trì kinh này. Tại sao ? Vì trong thế giới Ta-bà của Ta
quả thực có rất nhiều Bồ-tát và mỗi Bồ-tát này lại
có rất nhiều tùy tùng. Những vị này, sau khi Ta nhập diệt,
có thể hộ trì, đọc tụng và phổ giảng kinh này”.
Sau
khi đức Phật nói như thế, thế giới Ta-bà chấn động,
và ở giữa xuất hiện vô số Bồ-tát. Tất cả các Bồ-tát
này có thân sắc vàng mang các tướng tốt như đức Phật.
Chư vị vốn ở trong không gian vô tận bên dưới cõi Ta-bà.
Nghe âm thanh giảng pháp của đức Thích-ca-mâu-ni, từ bên
dưới họ tuôn vọt lên.
Chư vị Bồ-tát
này vốn không ở tại trái đất mà ở trong không gian vô
tận bên dưới thế giới Ta-bà, từ dưới đất mà ra rồi
lên tới hư không. Sự việc này có một ý nghĩa sâu xa. Chư
vị Bồ-tát này là những người đã thoát khỏi ảo tưởng
trong đời trước nhờ giáo lý của đức Phật. Vì thế, họ
đã ở trong khoảng không gian vô tận. Nhưng khi nghe đức Phật
tuyên bố rằng Ngài sẽ giao cõi Ta-bà này cho họ giáo hóa
thì họ vào trong đất, tức là trong cõi Ta-bà này, kinh qua
khổ đau ở đây và tu tập tinh cần rồi đạt cái trạng
thái tâm thức của Bồ-tát. Do đó họ lên tới hư không sau
khi từ đất tuôn ra. Dù các vị Bồ-tát này đã thoát khỏi
ảo tưởng trong đời trước, họ tình nguyện trải qua những
khổ đau, lo lắng trong cõi Ta-bà này nhằm cứu vớt con người
ở đây, tận lực để đạt trí tuệ và giảng giáo lý cho
người khác. Như đã ghi nhận trước đây, đây là một quá
trình rất quan trọng; không hoàn tất một nỗ lực như thế,
họ không thể thực sự đạt được sức thần thông để
cứu độ con người trong cõi Ta-bà.
Một số
vị Bồ-tát này là những người cai quản các hội chúng lớn,
mỗi vị lãnh đạo một đoàn tùy tùng mà họ giáo huấn;
một số vị lãnh đạo vô số tín đồ và một số khác thì
lãnh đạo ít hơn; cũng có những vị chỉ một mình, tu tập
riêng biệt. Khi vô số Bồ-tát này từ dưới đất tuôn lên,
tất cả đều lên đến Tháp Bảy Báu giữa không trung, tại
đó đức Như Lai Đa Bảo và đức Phật Thích-ca-mâu-ni đang
ngồi. Khi đến, các vị đảnh lễ và ca ngợi hai đức Phật
bằng những bài ca của Bồ-tát theo đủ thể cách. Rồi họ
đứng sang một bên, hoan hỷ nhìn lên hai đức Thế Tôn. Họ
tiếp tục ca ngợi chư Phật như thế trong năm mươi tiểu
kiếp. Trong suốt thời gian này đức Phật Thích-ca ngồi im
lặng, bốn chúng cũng im lặng, nhưng nhờ thần lực của đức
Phật, năm mươi kiếp đối với đại chúng có vẻ như chỉ
nửa ngày.
BỐN ĐẠI
NGUYỆN CỦA VỊ BỒ-TÁT:
Bấy giờ
bốn chúng cũng nhờ thần lực của đức Phật mà thấy được
chư Bồ-tát đầy khắp vô số quốc độ. Trong chúng Bồ-tát
này có bốn vị Đạo sư: Thượng Hạnh (Jògyò), Vô Biên Hạnh
(Mukengyò), Tịnh Hạnh (Jògyò) và An Lập Hạnh (Anryùgyò).
Như đã giải
thích khi bàn về nguyện (gan) ở phẩm 9, tổng nguyện (Sògan)
mà những người tu Phật đạo cần phát tâm gồm bốn đại
nguyện của vị Bồ-tát (Shi gu-seigan); tứ hoằng thệ nguyện)
như sau đây, mỗi đại nguyện được trỏ bằng một trong
bốn vị đại Bồ-tát nêu trên.
1.
Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ (Shùjò muhen seigan-do): Dù
chúng sanh là vô lượng, tôi nguyện cứu họ (An Lập Hạnh).
2.
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn (Bonnò mushù seigan-dan):
Dù phiền não là vô tận, tôi nguyện đoạn tận phiền não
(Tịnh Hạnh).
3.
Pháp môn vô hạn thệ nguyện học (Hòmon mujin seigan-gaku): Dù
giáo lý của đức Phật là vô hạn, tôi nguyện học các giáo
lý ấy (Vô Biên Hạnh).
4.
Phật đạo vô thượng thệ nguyên thành (Butsudò mujò seigan-jò):
Dù chân lý đức Phật là tối thượng, tôi nguyện đạt được
chân lý ấy (Thượng Hạnh).
Bốn đại
nguyện căn bản này được đại diện bởi bốn vị Bồ-tát
trên. Ngược lại, có thể nói bốn vị Bồ-tát ấy tượng
trưng cho những lời nguyện căn bản của tất cả Phật tử.
Mỗi vị
đứng trước đại chúng của mình, bốn vị Bồ-tát này chắp
tay ngưỡng nhìn đức Phật Thích-ca-mâu-ni
và hỏi
Ngài: “Bạch đức Thế Tôn ! Ngài có ít bệnh, ít lo, Ngài
có bình an chăng ? Những vị được Ngài cứu độ có sẵn
sàng nhận giáo lý của Ngài không ? Họ có làm cho Thế Tôn
mệt nhọc không?”
Bấy giờ
đức Thế Tôn nói với đại chúng Bồ-tát rằng: “Này các
Thiện nam tử ! Như Lai được bình an, ít bệnh, ít lo. Các
chúng sanh này dễ cải hóa và Ta không mệt nhọc. Tại sao
? Vì tất cả các chúng sanh này đã được Ta giáo huấn từ
nhiều đời, đã tôn thờ, kính ngưỡng chư Phật trong quá
khứ, đã vun trồng thiện căn. Tất cả các chúng sanh này
mới nhìn thấy Ta và nghe Ta giảng đều chấp nhận giáo lý
một cách thành tín và nhập vào Như Lai trí, ngoại trừ những
người trước đây đã tu học Tiểu thừa. Những người như
thế, Ta nay cũng đã khiến họ nghe kinh này và nhập vào Phật
trí”.
Dù đức
Phật đã già và đã gặp nhiều khó khăn khi giảng Pháp để
giáo hóa tất cả chúng sanh, Ngài cũng không cảm thấy đây
là một gánh nặng hay cho đây là khó khăn. Từ thái độ của
Ngài, chúng ta có thể cảm nhận một cách sinh động lòng
từ bi vô hạn của Ngài.
Bấy giờ
các vị đại Bồ-tát này nói kệ như sau:
“Thiện
lành ! Thiện lành thay !
Bậc Đại
Hùng, Thế Tôn !
Tất cả
chúng sanh này
Dễ được
Ngài cải hóa,
Và có thể
đạt được
Trí chư
Phật sâu xa,
Và nghe,
tin, nhận rõ.
Chúng con
chúc mừng Ngài”.
Thế rồi đức
Thế Tôn khen ngợi các vị đại Bồ-tát Thượng thủ này
rằng: “Hay thay, hay thay ! Này các Thiện nam tử ! Các Ông
cứ tùy hỷ chúc mừng Như Lai”.
Thế rồi
Bồ-tát Di-lặc và hội chúng của chư Bồ-tát khác đều suy
nghĩ: “Từ xưa kia, chúng ta chưa bao giờ nhìn thấy hoặc
nghe nói về một chúng đại Bồ-tát từ đất vọt lên, đứng
trước chư vị Thế Tôn, chắp tay đảnh lễ và thỉnh vấn
đức Như Lai”. Bồ-tát Di-lặc muốn giải quyết mối nghi
ngờ của chính ngài, liền chắp tay hỏi đức Phật bằng
kệ:
“Vô
lượng ngàn vạn ức,
Đại chúng
Bồ-tát này,
Chúng con
chưa từng thấy.
Bạch Thế
Tôn, xin giảng,
Chư vị
từ đâu đến,
Tụ tập
để làm gì.
Thân lớn,
có thần lực,
Trí tuệ
không nghĩ bàn,
Chí và niệm
kiên cố
Sức kiên
trì rất lớn,
Chúng sanh
mừng được thấy:
Từ đâu
họ đến đây ?”
Bấy giờ chư
Phật phân thân từ đức Phật Thích-ca, từ vô số quốc độ
ở các nơi khác đến, thiết tha chờ mong đức Phật trả
lời câu hỏi của Bồ-tát Di-lặc. Thế rồi đức Phật Thích-ca
nói với ngài Di-lặc: “Lành thay ! Lành thay ! Này A-dật-đa
!(1) Ông đã khéo hỏi đức Phật về một sự việc lớn lao
như thế. Tất cả các ông hãy nhất tâm mặc chiếc áo giáp
của sự kiên cố, thể hiện một ý chí mạnh mẽ, vì nay
Như Lai muốn khai bày, tuyên bố về trí tuệ của chư Phật,
sức thần thông tối cao của chư Phật, sức sư tử phấn
tấn của chư Phật, và sức uy mãnh lớn lao của chư Phật”.
Thế rồi
đức Thế Tôn muốn trùng tuyên giáo lý này, Ngài nói bằng
kệ rằng Ngài sắp giảng những điều mà trước đây Ngài
chưa từng khai thị và kêu gọi chư Bồ-tát chú tâm lắng
nghe. Sau khi đã nói kệ, Ngài lại nói với Bồ-tát Di-lặc:
“Này A-dật-đa ! Tất cả các đại Bồ-tát này, vô lượng
và vô số, từ dưới đất tuôn vọt lên, và là những vị
mà trước đây Ông chưa từng thấy - Ta ở trong cõi Ta-bà
này, sau khi chứng Toàn Giác đã giáo hóa và dẫn đạo tất
cả các Bồ-tát này, kiểm soát tâm họ, khiến họ hướng
tư tưởng về Đạo”. Đức Phật đã ca ngợi sự việc các
Bồ-tát này đã tu tập nhiều giới hạnh và có đức độ
cao vời.
Thế rồi
Bồ-tát Di-lặc, vô số Bồ-tát và các chúng sanh khác sinh
nghi ngờ, bối rối và ngạc nhiên về sự việc hy hữu này
và suy nghĩ: “Làm thế nào mà đức Thế Tôn, trong một thời
gian quá ngắn ngủi, lại giáo hóa vô lượng, vô số đại
Bồ-tát và khiến họ trú trong Toàn Giác ?” Thế rồi họ
hỏi đức Phật:
“Bạch
đức Thế Tôn, đức Như Lai khi còn là một thái tử, rời
bỏ cung điện của dòng họ Thích-ca, ngồi trên nền đất
bồ-đề không xa thành phố Già-da (Gayà) và đạt Chánh Giác.
Từ đấy đến nay cũng đã trải hơn bốn mươi năm. Bạch
Thế Tôn! Trong một thời gian quá ngắn ngủi, làm sao Ngài
lại làm được các Phật sự lớn lao, và dùng năng lực của
Phật, công đức của Phật mà giáo huấn vô số Bồ-tát như
thế đạt Toàn Giác ?
“Bạch Thế
Tôn ! Chúng đại Bồ-tát này, dù cho một người đếm họ
suốt vô số năm cũng không đếm dứt hay đếm tới giới
hạn. Tất cả các vị này từ quá khứ xa xưa dưới thời
vô lượng, vô số chư Phật, đã vun trồng thiện căn và thành
tựu Bồ-tát đạo, luôn sống đời cao thượng. Bạch Thế
Tôn ! Sự việc như thế này, người đời khó tin. Cũng như
một người có hình sắc đẹp đẽ, tóc đen, hai mươi lăm
tuổi, chỉ vào những người trăm tuổi mà nói: "Đây là các
con tôi" và cũng như những người trăm tuổi kia cũng chỉ
vào người trẻ ấy mà bảo: "Đây là cha của chúng tôi, đã
sinh ra và nuôi dưỡng chúng tôi". Điều này thật khó tin.
Về phần đức Phật cũng vậy, Ngài quả thực đã đắc Đạo
cách đây không lâu. Thế mà đại chúng Bồ-tát này, trong
suốt vô số ngàn vạn ức kiếp, vì Phật đạo, đã nỗ lực
tinh cần và đã lĩnh hội hết tất cả Phật đạo; chư vị
ấy là kho báu của người và là sự hy hữu cùng tột trong
khắp các cõi.
“Hôm nay
đức Thế Tôn vừa bảo rằng khi Ngài vừa đạt Phật đạo
thì từ đầu Ngài đã khiến họ mong cầu trí tuệ, giáo huấn,
dẫn dắt và khiến họ tiến đến Toàn Giác. Đức Thế Tôn
đã thành Phật cách đây không lâu, thế mà Ngài đã có thể
làm được sự việc lớn lao, công đức này. Dù chúng con
vẫn tin rằng những gì đức Phật phương tiện thuyết giảng
và những lời đức Phật tuyên bố thì không bao giờ hư vọng;
lại nữa, chúng con cũng lãnh hội hết sở tri của đức Phật;
tuy thế, những Bồ-tát mới được giáo hóa mà nghe lời khẳng
định ấy sau khi đức Phật nhập diệt thì họ không tín
thọ và điều này sẽ phát sinh hành động sai lầm gây hư
hoại cho Pháp. Cho nên, bạch đức Thế Tôn, xin Ngài giải
thích rõ lời khẳng định ấy, để gỡ bỏ nghi ngờ của
chúng con và khiến tất cả các thiện nam tử của Ngài trong
đời sau khi nghe điều này cũng sẽ không phát sinh nghi ngờ”.
Thế rồi
ngài Di-lặc lặp lại lời thỉnh cầu của ngài bằng kệ.
Trong phẩm kế tiếp “Như Lai Thọ Lượng” (Khai tỏ về
mạng sống của đức Như Lai), đức Thế Tôn sẽ trả lời
cho chư Bồ-tát một cách chi tiết và soi tỏ cho họ về thực
thể của đức Phật.
Trong bài
kệ của Bồ-tát Di-lặc có các câu sau đây: “Họ học Bồ-tát
đạo / Không nhiễm các việc đời/ Như hoa sen trong nước”.
Những câu này diễn tả lối sống lý tưởng mà đức Phật
dạy cho chúng ta trong kinh Pháp Hoa. Chúng ta không nên rút lui
khỏi xã hội mà nên sống một cuộc đời đẹp đẽ, trong
lành bên trong xã hội. Lý tưởng của kinh Pháp Hoa chính là
làm cho tất cả xã hội trở nên trong lành đẹp đẽ.
Nhan đề Diệu Pháp Liên Hoa Kinh biểu thị lý tưởng này.