Phẩm
10
PHÁP
SƯ
Phẩm này
tuyên bố về những gì mà một vị Pháp sư (vị thầy dạy
Pháp) phải biết và phải thực hành “Sư” ở đây không
giới hạn cho các Tỳ-kheo mà có nghĩa là bất kỳ người
nào tận lực truyền bá kinh Pháp Hoa, bất kể Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni,
hoặc tín đồ tại gia, nam hay nữ.
Bấy giờ
đức Thế Tôn, qua Bồ-tát Dược Vương, nói với tám mươi
ngàn vị Đại sĩ rằng: “Dược Vương, Ông có thấy trong
chúng hội này vô số chư Thiên, Long vương, A-tu-la, Người
và không phải người (phi nhân), cũng như các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni,
nam nữ cư sĩ, những người cầu tìm chứng ngộ với nhiều
cấp độ tâm khác nhau không ? Tất cả những chúng sanh như
những vị này đây, nếu họ được nghe chỉ một bài kệ
hay chỉ một câu của kinh Diệu Pháp Liên Hoa và ngay cả bằng
một niệm hoan hỷ thì Ta cũng sẽ thọ ký cho tất cả họ
rằng họ sẽ đạt Chánh đẳng Chánh giác”.
Nếu chúng
ta ưa thích chỉ một bài kệ hay chỉ một câu của kinh Pháp
Hoa bằng chỉ một niệm mà chúng ta không trở nên tốt hơn
trước kia thì cũng chỉ vô ích mà thôi. Sự bảo đảm rằng
chúng ta sẽ thành Phật phụ thuộc vào kết quả tu tập suốt
một thời gian dài. Thế thì tại sao đức Phật bảo rằng
Ngài sẽ thọ ký cho bất cứ ai chỉ bằng một niệm mà ưa
thích chỉ một bài kệ hay chỉ một câu của kinh Pháp Hoa
? Đấy là vì cái tâm mà người ta khởi lên do sự ưa thích
kinh Pháp Hoa bằng chỉ một niệm sẽ trở thành hạt giống
của việc đạt Phật vị. Ta phải không ngừng nuôi dưỡng
hạt giống này, làm cho nó mọc mầm bằng cách chăm lo tưới
nước, khiến cho nó lớn lên, đâm hoa và kết trái. Tuy nhiên,
khi chúng ta hiểu rằng chúng ta được bảo đảm sẽ thành
Phật nếu chúng ta chỉ nghe một bài kệ, một câu của kinh
Pháp Hoa và chỉ bằng một niệm hoan hỷ nó, thì chúng ta sẽ
cảm thấy được khích lệ gấp bội. Cách hiểu như thế
là một khích lệ lớn lao cho chúng ta trong thời buổi tệ
hại này. Đức Phật nhằm trỏ điều này như sau: “Hơn nữa,
sau khi Như Lai tịch diệt, có người nào nghe dù chỉ một
bài kệ hay chỉ một câu của kinh Diệu Pháp Liên Hoa và dù
chỉ bằng một niệm thích thú thì Ta cũng thọ ký họ sẽ
thành Chánh Đẳng Giác”.
Lời dạy
sau đây của đức Phật chủ yếu nhằm trỏ đến thời mạt
pháp mà chúng ta đang sống: “Lại như có người thọ trì,
đọc tụng, thuyết giảng, sao chép dù chỉ một câu trong kinh
Diệu Pháp Liên Hoa, và nhìn kinh bằng sự tôn kính như kinh
là đức Phật, và cúng dường kinh theo đủ mọi cách, cũng
như chắp tay kính ngưỡng kinh,thì này Dược Vương, nên biết
rằng những người này vốn đã đảnh lễ mười vạn ức
đức Phật và đã phát đại nguyện vào thời chư Phật này;
do đó , vì thương tưởng đến hết thảy chúng sanh, họ sinh
ra tại đây, trong cõi người”.
NĂM HẠNH
CỦA CÁC PHÁP SƯ:
Thọ trì
kinh (juji, thọ nhận và trì giữ), đọc tụng kinh (doku-ju,
đọc và tụng), giải thuyết kinh (gesetsu, giảng nói), thư
tả kinh (shosha, sao chép) được gọi là năm hạnh (năm điều
thực hành) của các Pháp sư (goshu hosshi, ngũ chủng Pháp sư).
Đây là những thực hành quan trọng nhất đối với những
ai muốn truyền bá kinh Pháp Hoa. Sự miêu tả về năm hạnh
này của các Pháp sư là yếu tố đầu trong bảy yếu tố
cơ bản được nêu trong phẩm “Pháp Sư”.
Trong năm
hạnh của Pháp sư, “thọ trì” (juji) được gọi là “thắng
hạnh” (shògyo, hạnh tinh chuyên), trong khi bốn hạnh kia gọi
là “trợ hạnh” (jogyò,hạnh trợ thêm). Sở dĩ chúng ta
phải tách riêng “thọ trì” như là thắng hạnh vì đây
là hạnh quan trọng và căn bản nhất trong năm hạnh, không
có nó thì bốn hạnh kia chỉ có ý nghĩa nhỏ nhặt . “Thọ”
(ju) trỏ sự tin tưởng sâu sắc vào giáo lý của đức Phật
và “trì” (ji) nghĩa là gắn bó chặt chẽ với niềm tin
ấy.
“Độc”
(doku), hạnh đầu tiên trong các trợ hạnh, nghĩa là thực
sự đọc kinh, hạnh này bao gồm sự đọc lớn tiếng, đọc
im tiếng và chăm chú lắng nghe người khác đọc kinh.
“Tụng”
(ju) nghĩa là đọc thuộc lòng kinh. Hạnh này gồm sự lặp
lại các câu trong kinh mà chúnh ta đã học thuộc lòng và sự
lặp lại bằng tâm thức về ý
nghĩa của
chúng. Giáo lý sẽ bắt rễ sâu đậm trong tâm ta nhờ cứ
lặp lại sự đọc thuộc lòng.
“Giải
thuyết” (gesetsu) nghĩa là giảng ý nghĩa của kinh cho người
khác. Đây là vừa hạnh cần thiết cho việc truyền bá pháp
và vừa là một hạnh nhằm
lợi ích
cho chính chúng ta. Giảng pháp cho người khác là điều khó
khăn đối với chúng ta, và vì thế, chúng ta phải nghiên cứu
kinh mãi hoài. Trong khi
giảng cho
người khác, điều thường xảy ra là chúng ta phải suy nghĩ
về sự thiếu niềm tin và nhận thức của chính mình.
“Thư
tả” (shosha) nghĩa là chép kinh bằng tay. Hạnh này gồm hai
ý nghĩa. Một là sự thực hành truyền bá giáo lý và hai là
sự thực hành nhằm làm sâu đậm niềm tin và nhận thức
của chúng ta. Trước khi kỹ thuật in ấn được phát minh,
việc chép tay kinh Pháp Hoa là rất cần thiết để phổ biến
kinh. Trong thời hiện đại, chúng ta phải truyền bá giáo lý
bằng cách sử dụng những phương tiện tốt nhất về in ấn,
phim ảnh, đĩa ghi âm, máy thu băng và các phương tiện thính
thị khác. Ý nghĩa đầu tiên về “thư tả” (sao chép) đã
được mở rộng theo cách ấy. Tuy nhiên, hạnh thư tả không
nên chỉ được giới hạn ở ý nghĩa đầu tiên mà thôi.
Khi ta sao chép cẩn thận từng câu kinh bằng cái tâm tĩnh lặng
và tập trung thì tinh thần của kinh sẽ bắt rễ vững chắc
trong cả thân lẫn tâm ta. Sao chép kinh theo nghĩa này vẫn là
một hạnh quan trọng.
Đức Phật
dạy tiếp: “Này Dược Vương, nếu có ai hỏi Ông rằng loại
chúng sanh nào sẽ thành Phật trong các đời sau thì Ông nên
nêu rõ cho họ rằng đấy là những người chắc chắn sẽ
thành Phật trong các đời sau. Vì sao ? Nếu các thiện nam,
thiện nữ của ta thọ trì, độc tụng, giải thuyết và thư
tả dù chỉ một câu trong kinh Pháp Hoa và cúng dường kinh
này theo nhiều cách khác nhau, cũng như chắp tay kính ngưỡng
kinh, thì những người này sẽ được tất cả các cõi kính
ngưỡng và vì Ông đảnh lễ chư Như Lai nên Ông cũng nên
đảnh lễ họ”.
Đức Phật
cứ giảng mãi về điều này. Do sự lặp lại thường xuyên
như vậy, chúng ta có ấn tượng sâu sắc về việc đức Phật
xem điều ấy quan trọng vô cùng. Chúng ta nên đặc biệt học
đoạn sau đây để có thể tụng thuộc nó: “Nếu các thiện
nam tử, thiện nữ nhân này, sau khi ta nhập diệt, âm thầm
giảng cho một người dù chỉ một câu trong kinh Pháp Hoa, thì
Ông nên biết rằng những người này là sứ giả của Như
Lai (Như Lai sứ), do Như Lai gửi tới để thực hiện các công
hạnh của Như Lai (Như Lai sự). Huống chi những người trong
các đại chúng thuyết giảng rộng rãi cho những người khác
thì công đức lớn biết chừng nào !”
Đoạn này
bao gồm điểm thiết yếu thứ hai được nêu ở phẩm 10.
Những ai tu tập kinh Pháp Hoa thì buổi sáng, buổi tối phải
ghi nhớ những lời kinh này trong tâm.
Kế đến,
đức Phật dạy như sau: “Này Dược Vương ! Nếu có kẻ
xấu nào do ác tâm suốt trọn một kiếp đứng trước đức
Phật mà không ngừng phỉ báng đức Phật, thì tội của người
ấy vẫn còn nhẹ, nhưng nếu có ai dù chỉ bằng một lời
ác, lăng mạ những cư sĩ hay Tỳ-kheo đọc tụng kinh Pháp
Hoa, thì tội của người này cực trọng”.
Đoạn này
và đoạn sau bao gồm điểm thiết yếu thứ ba của phẩm này:
“Này Dược Vương, ở nơi nào kinh này được giảng, hay
đọc, hay tụng, hay chép, hay các bản kinh được lưu giữ
thì người ta nên dựng tháp(1) bằng thất bảo, tháp cần
được làm cao, rộng và đẹp. Nhưng không cần phải chứa
Xá-lợi Phật trong đó. Vì sao ? Vì trong kinh này có toàn thân
của Như Lai”.
Ý NGHĨA THỰC
SỰ CỦA VIỆC TÔN THỜ:
Qua lời nói
trên, đức Phật dạy chúng ta rằng tôn kính Pháp là quan trọng
hơn nhiều so với việc thờ phượng các thần tượng. Những
gì Ngài dạy là: Tuy một người có thể phỉ báng đức Phật,
tội lỗi của người ấy cũng còn nhẹ. Không cần phải cất
giữ Xá-lợi của đức Phật trong các chùa tháp. Sự tôn thờ
lớn lao nhất dành cho đức Phật là tu tập kinh Pháp Hoa, và
tội lỗi nặng nhất là lăng mạ các cư sĩ hay Tỳ-kheo tu
tập kinh này.
Tuy nhiên,
chúng ta phải cẩn thận trong lối hiểu giáo lý này. Nghĩ
rằng nếu chúng ta phỉ báng đức Phật hay chúng ta chẳng
cần biết đến Xá-lợi của đức Phật thì cũng chẳng sao
cả; nghĩ như thế sẽ là một sai lầm lớn. Đức Phật Thích-ca
là một con người vĩ đại đã để lại giáo pháp quý báu
cho chúng ta, và vì thế chúng ta không thể tôn sùng Ngài quá
đáng. Chúng ta tôn thờ hình tượng của đức Phật để tỏ
lòng biết ơn vô hạn đối với đức Phật, người đã để
lại cho chúng ta giáo pháp quý báu. Như được nêu nhiều lần
trong cuốn sách này, việc thờ tượng Phật là nhằm làm sâu
đậm lòng tôn kính của chúng ta đối với đức Phật như
là một lý tưởng mà chúng ta mong được lần hồi tiến đến.
Hơn nữa,
qua hình tượng đức Thích-ca-mâu-ni là Phật lịch sử, chúng
ta tôn thờ đức Như Lai Thích-ca-mâu-ni và đức Phật Bổn
Nguyên, tức là Pháp do Ngài giảng dạy. Tôn thờ hình ảnh
của đức Phật không phải là sự tôn thờ thần tượng.
Tôn thờ thần tượng là cái ý tưởng nhìn chính sự vật
như là đối tượng của sự tôn thờ, tin tưởng, ví dụ,
nếu người ta tôn thờ một đối tượng nào đó thì người
ta sẽ được lành bệnh, sẽ hết khổ, sẽ được như nguyện.
Có đủ thứ khác biệt trong đời, giữa sự tôn thờ thực
sự và sự tôn thờ thần tượng.
Đức Phật
dạy tiếp: “Nên biết, người nào đọc và tụng kinh Pháp
Hoa là người ấy đã tự trang nghiêm mình bằng sự trang nghiêm
của đức Phật, và do đó được đức Như Lai mang trên vai
Ngài”. Thật vậy, hình ảnh một người chăm chú đọc và
tụng kinh Pháp Hoa rất trang trọng và đẹp đẽ, giống như
hình ảnh của một vị Phật. Quan sát tướng mạo người
ấy bằng con mắt siêu trần, ta sẽ thấy hình như người
ấy được nhuộm màu của vàng ròng.
Sự việc
chư Phật sẽ luôn luôn hộ trì một người như thế được
xác định như sau: “Sau khi Như Lai diệt độ, những ai có
thể sao chép, cất giữ, đọc, tụng, thờ và giảng kinh [Pháp
Hoa] cho người khác, sẽ được Như Lai khoác áo của Ngài
cho họ. Những người ấy sẽ ở cùng với Như Lai và Như
Lai đặt bàn tay lên đầu họ”.
Lời trên
được đức Phật thường xuyên lặp lại nêu tỏ rằng chúng
ta phải biết rõ giáo lý kinh Pháp Hoa là vi diệu biết bao
và việc tu tập kinh Pháp Hoa của chúng ta là hoàn toàn phù
hợp với ý định của đức Như Lai biết bao ! Dù cho chúng
ta có gặp phải những khó khăn nào, sự ngược đãi nào,
đức Như Lai cũng hứa chắc chắn sẽ hộ trì chúng ta.
Đức
Phật đã nêu lời hứa đầy phấn kích, hỷ lạc như sau đây
với chúng ta trong đời ác trược này: “Vì một người tu
tập kinh Pháp Hoa thì đáng tôn kính
như một
vị Phật nên chắc chắn đức Phật hộ trì người ấy”.
Đức Phật cũng tuyên bố: “Tại sao một người tu tập kinh
Pháp Hoa thì đáng tôn kính? Đấy là vì
kinh này
là kinh tối thượng trong tất cả các kinh mà Ta đã giảng”.
Hai lời khẳng định này là điểm thiết yếu thứ tư của
phẩm này.
Cho đến
đây là phần giải thích về những công đức mà người tu
tập kinh Pháp Hoa đạt được. Tiếp theo đây là phần nhấn
mạnh về thái độ tâm thức mà người ấy phải tu tập.
Thái độ tâm thức này được chia làm ba phần chính, phù
hợp với lời dạy sau đây của đức Phật.
Đức Phật
nói với ngài Dược Vương rằng: “Ta thuyết giảng vô lượng
ngàn vạn ức kinh, hoặc đã thuyết giảng, hoặc nay đang thuyết
giảng, hoặc sẽ thuyết giảng trong tương lai: trong tất cả
kinh ấy, kinh Pháp Hoa là kinh khó tin nhất, khó hiểu nhất.
Này Dược Vương ! Kinh này là kho báu kỳ bí, thiết cốt của
hết thảy chư Phật, không nên phân phát hay chuyển giao cho
mọi người một cách khinh suất. Kinh này được chư Phật,
Thế Tôn hộ trì, vốn chưa bao giờ được khai thị và thuyết
giảng. Trong khi Như Lai còn tại thế, kinh này cũng đã làm
sinh khởi nhiều ghen ghét, đố kỡ; huống chi sau khi Ngài nhập
diệt !”
Trước hết,
đức Phật dạy rằng Ngài thuyết giảng vô lượng ngàn vạn
ức kinh, hoặc đã thuyết giảng, hoặc nay đang thuyết giảng,
hoặc sẽ thuyết giảng trong tương lai, trong các kinh ấy, kinh
Pháp Hoa này là khó tin nhất và khó hiểu nhất. Lý do khiến
kinh này khó tin nhất và khó hiểu nhất là giáo lý căn bản
của kinh Pháp Hoa dạy rằng mọi người đều thành Phật tùy
theo sự tích góp tu tập của mình, đấy là điều khó tin
và khóhiểu.
Chúng ta có
thể hiểu kinh Pháp Hoa trên lý thuyết, nhưng lối hiểu này
có thể bị lay chuyển vì bất cứ một nghịch chuyển nào
đó trong hoàn cảnh của chúng ta. Người có thể tự đáy
lòng hiểu và tin kinh là người nhạy bén về tâm linh đối
với giáo lý và chín muồi trong việc mang quả của nghiệp
đã được tích tập trong các đời trước. Vì thế, chúng
ta phải liên tục nỗ lực để nắm bắt giáo lý của kinh
Pháp Hoa một cách sâu đậm hơn và phải kiên nhẫn thọ trì
kinh bất kể mọi nghi ngờ mà chúng ta có thể có trong tâm
hay mọi phỉ báng, ngược đãi mà chúng ta có thể phải chịu
từ bên ngoài.
Thứ hai,
đức Phật dạy rằng được chứa sâu trong tâm của hết
thảy chư Phật và không nên phân phát, chuyển giao một cách
khinh suất cho người ta. Như đã nói ở phẩm 3, cả ở đây
nữa, điều quan trọng nhất là chúng ta chớ hiểu lầm lời
dạy này của đức Phật có nghĩa rằng chúng ta không nên
giảng kinh cho người khác.
Thứ ba, đức
Phật tuyên bố: “Kinh này được chư Phật hộ trì, và Ta
chưa từng khai thị và thuyết giảng kinh này cho người ta
trong đời. Và trong khi Ta còn tại thế, kinh này cũng đã làm
sinh khởi nhiều ghen ghét, đố kỡ, huống chi sau khi Ta nhập
diệt !”
Một số
người có thể nghĩ rằng kể cũng kỳ lạ khi giáo lý vi diệu
này lại có thể phải chịu sự ghen ghét, đố kỡ, nhưng
thực ra chẳng có gì là kỳ lạ, vì khi nào một giáo lý tốt
hơn được giảng hay được tin thì những người tin vào một
giáo lý kém hơn sẽ có khuynh hướng đố kỡ nó và bị nó
bác bỏ, loại trừ. Những người khác thì coi thường giáo
lý ấy khi họ không biết gì về nội dung của nó. Còn một
số người khác thì phản bác một giáo lý tốt mà cho rằng
đấy là dị giáo và ngược đãi nó. Khi đức Phật Thích-ca,
Chúa Jesus Christ, và ngài Nichiren bắt đầu thuyết giảng giáo
lý của mình, chư vị đều bị kẻ thù tấn công và phải
chịu sự ngược đãi tôngiáo.
Như đã nêu
trước đây, đức Phật hứa với chúng ta: “Dù cho kinh Pháp
Hoa làm sinh khởi nhiều ghen ghét và đố kỡ, hãy cam chịu
như thế và thọ trì, tu tập kinh. Người như thế sẽ được
Như Lai hộ trì và khoác áo của Ngài cho”. Đây là điểm
thiết yếu thứ năm của phẩm này.
ẨN DỤ VỀ
SỰ ĐÀO ĐẤT TRÊN MỘT CAO NGUYÊN:
Kế đến,
đức Phật dạy cho chúng ta qua Ẩn dụ Đào đất ở một
cao nguyên rằng: một người tu tập kinh Pháp Hoa phải nỗ
lực cầu tìm Pháp với niềm hy
vọng và
nhiệt tâm bền bỉ. Một người đang bị khát đến cùng cực
đào đất trên một cao nguyên để tìm kiếm nước. Bao lâu
người ấy còn nhìn thấy đất khô, người ấy biết rằng
nước đang còn ở dưới sâu. Tiếp tục công sức không ngừng,
đến một lúc người ấy thấy đất ẩm, rồi dần dần tiến
đến bùn. Bấy giờ người ấy biết rằng sắp có nước.
Người ấy càng nỗ lực hơn nữa, không nhụt chí, không nghi
ngờ. Chư Bồ-tát cũng giống như thế. Nếu họ không nghe,
không hiểu, không thể quán sát kinh Pháp Hoa này thì họ vẫn
còn cách xa sự Toàn Giác. Nhưng nếu họ nghe, hiểu, suy nghĩ,
và quán sát kinh này thì họ gần
đến Toàn
Giác.
Một khi chúng
ta đã biết kinh Pháp Hoa, chúng ta không bao giờ bối rối không
biết làm gì. Nếu chúng ta rời bỏ kinh sau khi chỉ mới tu
tập chút ít, cũng như khởi sự đào đất ở một nơi nào
khác vì không thấy nước xuất hiện ngay, thế là chúng ta
không thể hội kinh, cũng như chúng ta không thể dập tắt
cơn khát bằng cách chỉ đào một chút đất. Ở đây, đức
Phật dạy rằng nếu chúng ta kiên trì nỗ lực để đạt
Chánh Giác, cũng như khi chúng ta vẫn liên tục đào đất,
chắc chắn chúng ta có thể đạt tuệ, giống như chúng ta
có thể đạt tới lớp bùn. Đây là điểm thiết yếu thứ
sáu của phẩm này.
ÁO, TÒA VÀ
NHÀ CỦA NHƯ LAI:
Điểm thiết
yếu thứ bảy và là điểm cuối cùng của phẩm này được
nêu tỏ trong lời dạy sau đây của đức Phật, miêu tả ba
nguyên tắc về áo, tòa và nhà của Như Lai: “Này Dược Vương,
nếu có thiện nam, thiện nữ nào, sau khi Như Lai nhập diệt,
muốn giảng kinh Pháp Hoa cho bốn chúng, thì vị ấy phải giảng
như thế nào ? Việc thiện nam hay thiện nữ ấy sau khi vào
nhà của Như Lai, mặc áo của Như Lai và ngồi trên tòa của
Như Lai, cần phải tuyên bố kinh này rộng rãi cho bốn thính
chúng.
“Nhà của
Như Lai là tấm lòng đại từ bi trong tất cả các chúng sanh;
áo của Như Lai là tấm lòng hòa ái và kiên trì; tòa của
Như Lai là cái Không tính của tất cả các Pháp [cái tinh linh
của tất cả mọi hiện hữu](1). Được thiết lập trong những
thứ này, rồi với cái tâm kiên định đối với chư Bồ-tát
và đối với bốn thính chúng, vị ấy sẽ giảng kinh Pháp
Hoa này”.
Nhà của
Như Lai nghĩa là sở hữu một tấm lòng thật vĩ đại và
từ bi đến nỗi có thể mong cầu cứu độ hết thảy mọi
người, cả tốt lẫn xấu, cả đến những người muốn hại
ta. Tấm lòng từ bi này được ví với ngôi nhà lớn của
đức Như Lai, ngôi nhà mà ai cũng có thể vào được.
Áo của Như
Lai nghĩa là tấm lòng hòa ái và kiên trì khiến người ta
không bao giờ nóng giận vì những kinh nghiệm đắng cay mà
người ta phải trải qua, và cũng không bao giờ bị lay chuyển
vì những lời khen ngợi mà người ta nhận được. Loại tấm
lòng này được ví với áo của Như Lai là áo không bao giờ
nhiễm vì bất cứ ảnh hưởng xấu nào từ bên ngoài. Điều
này có nghĩa là người tu tập kinh Pháp Hoa phải duy trì cái
quyết định mạnh mẽ là phải giảng kinh này.
Tòa của
Như Lai nghĩa là nhìn tất cả các sự vật ngang bằng nhau.
Như đã giải thích ở phẩm 5, điều này trỏ ý rằng dù
những khác biệt giữa tất cả các sự vật được nhận
biết đúng như chính chúng, ta cũng phải nhìn các sự vật
một cách bình đẳng bằng cách vượt lên khỏi sự phân biệt
này. Ví dụ, dù ông Mít kém trí, ông có đôi bàn tay nhanh
nhẹn. Dù cô Xoài không khéo tay, cô ta có đầu óc sáng suốt.
Dù cho sự khác biệt giữa hai người được nhận biết một
cách đúng đắn, cả hai đều được xem là bình đẳng như
là những chúng sanh dưới mắt đức Phật. Nhìn sự vật như
thế là ý nghĩa của “Không tính của tất cả các pháp”
(Cái tinh linh của mọi hiện hữu).
Đức Phật
dạy chúng ta rằng chúng ta phải chân thành giữ ba nguyên tắc
này về đức hạnh của Như Lai và căn cứ vào đó mà kiên
trì giảng kinh PhápHoa.
Phẩm này
không theo hình thức một câu chuyện hay một kịch bản như
các phẩm khác của kinh, mà theo hình thức một bài thuyết
pháp từ đầu đến cuối.