Phẩm
9
THỌ
HỌC, VÔ HỌC NHƠN KÝ
Phẩm này
ghi lại việc đức Phật thọ ký rằng hai đại đệ tử của
Ngài là A-nan (Ananda) và La-hầu-la (Rahula) sẽ đạt Chánh Giác,
cũng như thọ ký cho các đệ tử khác. Ngài A-nan là em họ
của đức Phật, em của Đề-bà-đạt-đa (Devadatta), vị này
ban đầu là đệ tử của đức Phật về sau rời bỏ Ngài
và thậm chí tìm cách giết Ngài. Không như Đề-bà-đạt-đa,
Ngài A-nan là một người trung hậu, trở thành đệ tử của
đức Phật khi đang còn nhỏ. Ngài được gọi là “A-nan,
thị giả của đức Phật” vì ngài đi theo, săn sóc và hầu
hạ đức Phật như là một đệ tử được cưng yêu cho đến
khi đức Phật nhập diệt.
La-hầu-la
là con trai của đức Phật, được sinh ra trước khi đức
Phật xuất gia. Đức Phật muốn ngài La-hầu-la có tính thiện
lành, gọi ngài ra khỏi cung điện và đưa ngài vào nhóm đệ
tử. Để tránh cho ngài La-hầu-la khỏi biết mình có địa
vị là con trai của đức Phật, đức Phật giao ngài cho ngài
Xá-lợi-phất, một trong mười đại đệ tử, coi sóc.
Từ “học”
(gaku) ở tựa đề của chương này trỏ cái trạng thái một
người phải trải qua việc tu tập, trong khi “vô học” (mugaku)
trỏ cái tình trạng một người không còn phải trải qua việc
tu tập và khỏi phải học hành.
Thấy nhiều
vị A-la-hán được thọ ký rằng sẽ được Toàn Giác, ngài
A-nan và ngài La-hầu-la là hai vị đệ tử trực tiếp cuối
cùng của đức Phật chưa được thọ ký, cảm thấy bị bỏ
sót và buồn bã. Họ nghĩ: “Nếu chúng ta được báo trước
về tương lai thì chúng ta sẽ sung sướng biết bao !” Do đó,
họ đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đến trước đức Phật,
đảnh lễ dưới chân Ngài và cùng bạch rằng: “Bạch Thế
Tôn ! Hãy thọ ký cho chúng con. Chúng con chỉ tin tưởng vào
đức Như
Lai. Chúng con được hết thảy các cõi đều biết tới và
thừa nhận, gồm chư Thiên, loài Người và Ma quỷ. A-nan luôn
luôn là thị giả của Ngài, hộ trì Pháp bảo, và La-hầu-la
là con của đức Phật. Nếu đức Phật thấy thuận tiện
để thọ ký rằng chúng con sẽ đạt Chánh Giác, thì mong ước
của chúng con sẽ được thành tựu và hy vọng của nhiều
người sẽ được thỏa”.
Bấy giờ
hai ngàn đệ tử gồm những vị hữu học và vô học đều
đứng dậy khỏi chỗ ngồi, vạch áo vai phải, đến trước
đức Phật, nhất tâm chắp tay ngưỡng nhìn đức Thế Tôn
mà xin cho ngài A-nan và ngài La-hầu-la được như nguyện, rồi
xếp hàng đứng đấy.
Thấy thế,
đức Thế Tôn vốn đã có ý định thọ ký cho từng vị trong
hai vị đại đệ tử này, bảo ngài A-nan rằng ngài sẽ đảnh
lễ sáu mươi hai đức Phật, hộ trì Pháp bảo và cuối cùng
đạt Toàn Giác. Đức Phật trao cho ngài danh hiệu Sơn Hải
Tuệ Tự Tại Thông Vương Như Lai và gọi quốc độ ngài là
Thường Lập Thắng Phan.
Trước khi
có Phật giáo, Bà-la-môn giáo đã nảy nở ở Ấn Độ. Bà-la-môn
giáo có hơn sáu mươi trường phái, tất cả cứ tranh luận
và phê phán nhau. Theo lệ thông thường thì một cái phan (cờ)
chiến thắng được dựng lên ở cổng ngôi đền của một
giáo sĩ Bà-la-môn khi vị này đã đánh bại đối thủ trong
một cuộc tranh cãi về tôn giáo. Thường Lập Thắng Phan,
tên quốc độ của Sơn Hải Tuệ Tự Tại Thông Vương Như
Lai, là bằng cớ rằng giáo pháp mà đức Như Lai này thuyết
giảng là tối thắng nhất trong tất cả các giáo pháp.
Thế rồi
đức Phật báo trước như sau: “Thọ mạng của đức Phật
ấy sẽ là vô lượng ngàn vạn ức a-tăng-kỳ kiếp. Giáo
pháp của Ngài sẽ trụ trong cõi của Ngài gấp đôi thọ mạng
của Ngài. Đức Phật này sẽ được tôn vinh và công đức
của Ngài sẽ được vô lượng đức Phật ở khắp mọi cõi
ca ngợi”. Bấy giờ, vì đức Phật đã thọ ký cho ngài A-nan,
một vị Thanh văn, bằng những lời ân cần hơn những lời
thọ ký cho các vị đại Bồ-tát, tám ngàn Bồ-tát trong chúng
hội mới
khởi sự thực hành Bồ-tát đạo bèn ấp ủ nghi ngờ về
điều ấy. Đức Thế Tôn biết chư Bồ-tát này đang nghĩ
gì, bèn bảo chư vị rằng: “Này các Thiện nam tử, Ta cùng
A-nan vào thời Không Vương Phật, cùng lúc hoài bão ý nghĩ
về Chánh Giác. Nhưng giữa chúng ta có sự khác nhau về cách
thực hành giáo lý. A-nan thì cứ mãi thích học, trong khi Ta
tận lực tinh tấn. Vì thế, Ta đã đạt Toàn Giác trong khi
A-nan do kết quả của các đời trước mà trở thành đệ
tử của Ta ở đời này, đã hộ trì Pháp của Ta cũng như
sẽ hộ trì Pháp bảo của chư Phật trong tương lai và sẽ
giáo huấn và đưa chúng Bồ-tát đến viên mãn. Đấy là bổn
nguyện của ông ấy, dù tất cả các ông có thể nghĩ rằng
ông ấy phải là một Thanh văn vì hình như ông cứ mãi vui
thú học tập. Do đó, ông ấy nhận sự thọ kýnày”.
Sự khác
biệt mà đức Phật vạch ra trong thể cách thực hành của
Ngài và trong thể cách của ngài A-nan là một điểm rất quan
trọng. Đức Phật dạy rằng, để đạt Toàn Giác, người
ta phải thực hành bằng cách noi gương đức Phật. Thực hành
lợi ích cho kẻ khác là tầm cao nhất của tôn giáo, như đức
Phật nêu rõ ở đây.
Vì ở đây
có xuất hiện thuật ngữ “bổn nguyện” (hongan) nên cần
giải thích từ “nguyện” (gan) được dùng trong Phật học.
BỔN NGUYỆN:
Ngày nay người
ta dùng từ “nguyện” một cách dễ dãi, nhưng từ này theo
nghĩa thật sự của nó không phải là từ được dùng một
cách hời hợt. “Nguyện” nghĩa là thiết lập lý tưởng
của chính mình và tận lực để thực hiện lý tưởng ấy.
Không cần nói, theo quan điểm của Phật giáo, lý tưởng của
chúng ta là làm lợi lạc cho kẻ khác. Ước vọng đạt được
Phật vị chỉ có thể trở thành một nguyện nếu chúng ta
nuôi dưỡng nó cho mục đích cứu độ những người khác
khỏi khổ đau. Một nguyện nhằm cho mục đích đặc biệt
là làm lợi ích cho kẻ khác thì được gọi là “bổn nguyện”
của người Phật tử.
TỔNG NGUYỆN:
Trong Phật
giáo có hai loại nguyện: “tổng nguyện” (sògan) và “biệt
nguyện” (betsugan). “Tổng nguyện” nghĩa là cái nguyện
chung đối với tất cả mọi người. Ước vọng chung của
mọi Phật tử là học giáo lý của đức Phật và dập tắt
các ảo tưởng. Ước vọng của họ cũng là làm lợi ích
cho kẻ khác qua việc đạt ngộ. Ước vọng này được gọi
là tổng nguyện. Tổng nguyện lại được chia làm bốn phần
, gọi là bốn đại nguyện của Bồ-tát (shi-gu-sei-gan, tứ
hoằng Thánh nguyện). Bốn đại nguyện này được giải thích
ở trang 365).
BIỆT NGUYỆN:
Một biệt
nguyện, trái với tổng nguyện, là một nguyện được nêu
tùy theo tính chất, khả năng và nghề nghiệp cá nhân của
một người. Ví dụ: Vì tôi là một họa sĩ có tài, tôi sẽ
cố sức làm sao để làm cho thế giới này đẹp bằng cách
vẽ những bức tranh đẹp; vì tôi có tài âm nhạc, tôi sẽ
dùng âm nhạc để khiến người ta thanh thản lòng; vì tôi
là một nông gia, tôi sẽ phục vụ xã hội bằng cách tận
lực tạo ra những vụ gặt tốt nhất; vì tôi là một thương
gia, tôi sẽ
phục vụ
các khách hàng bằng cách cung cấp các hàng hóa rẻ tiền và
tốt đẹp đến mức tối đa. Đây là những ví dụ tốt về
biệt nguyện.
Ngoài tổng
nguyện là cứu độ hết thảy chúng sanh, mỗi đức Phật
có biệt nguyện riêng của chính Ngài, như bốn mươi tám nguyện
của đức Như Lai A-di-đà và năm trăm đại nguyện của đức
Như Lai Thích-ca-mâu-ni. Thêm vào tổng nguyện là nguyện chung
đối với tất cả chúng ta, người của thế giới này, chúng
ta cần hình thành biệt nguyện riêng của chúng ta hoặc những
lời nguyện trong suốt đời chúng ta. Khi làm việc để thành
tựu ước nguyện như thế, ta khám phá giá trị của đời
người và làm phong phú cuộc sống hằng ngày của ta. Phật
giáo không những chỉ dạy ta lý tưởng vĩnh cửu và lớn
lao của con người mà còn dạy lý tưởng của con người trong
cuộc sống hàng ngày. Cả hai lý tưởng ấy đều là giáo
lý rất sâu xa và rất thâm thiết.
Dĩ nhiên,
chỉ nguyện ước suông thì chẳng ích lợi gì; chúng ta phải
làm việc để thành tựu những ước nguyện ấy. Chúng ta
chớ bao giờ nên ước nguyện bằng một thái độ thờ ơ.
Một khi chúng ta đã tuyên bố các ước nguyện trong tâm, chúng
ta phải nỗ lực và kiên định đủ để thành tựu các ước
nguyện ấy với bất cứ giá nào. Nếu chúng ta cứ giữ được
thái độ tâm thức như thế thì chắc chắn chúng ta có thể
hoàn thành các ước nguyện.
Nhiều người
nghĩ rằng các sự việc không bao giờ xảy ra như chúng ta
mong muốn. Nhưng điều này là sai lầm. Nếu tâm chúng ta được
tập trung vào các ước nguyện suốt một thời gian dài thì
những ước nguyện nhất định cuối cùng sẽ được thành
tựu. Nếu các ước nguyện ấy được thực hiện trong đời
này thì chúng sẽ được thực hiện trong đời sau. Một ước
vọng tha thiết làm phát sinh năng lực lớn lao. Khi chúng ta
cứ liên tục nỗ lực để tập trung tâm mình vào cả điều
mà người ta nghĩ rằng hầu như là không thể được, thì
sự nỗ lực như vậy sẽ tạo ra một kết quả làm cho điều
có vẻ không thể được trở thành có thể được. Ước
nguyện của người ta nhất định sẽ được đạt nếu người
ta có một niềm tin kiên cố và nỗ lực liên tục để thực
hiện ước nguyện ấy.
Đức Thế
Tôn sau khi đã thọ ký cho ngài A-nan, bèn thọ ký cho ngài La-hầu-la.
Đức Phật đặt cho ngài La-hầu-la danh hiệu là Đạo Thất
Bảo Liên Hoa Như Lai (vị Phật bước trên các Hoa sen gồm
bảy thứ quý). Ngài bảo rằng ngài Ra hu la sẽ đảnh lễ
chư Phật nhiều bằng các vi trần của mười thế giới, luôn
luôn trở thành trưởng tử của các đức Phật ấy giống
như giờ đây vậy. Ngài cũng tiên thuyết về sự đẹp đẽ
của quốc độ của Đạo Thất Bảo Liên Hoa Như Lai, thọ
mạng của Ngài, v.v... cũng như của đức Sơn Hải Tuệ Tự
Tại Thông Vương Như Lai.
Thế rồi
đức Thế Tôn muốn trùng tuyên giáo lý này, bèn nói bằng
kệ như sau:
“Khi
Ta là thái tử,
La-hầu là
con trưởng.
Nay Ta thành
Phật đạo,
La-hầu là
Pháp tử
Trong các
đời tương lai,
Gặp
vô lượng ức Phật,
Ông sẽ
là trưởng tử,
Một lòng
cầu Phật đạo.
Mật hạnh
La-hầu-la
Chỉ riêng
Ta biết được.
Nay tỏ cho
mọi người:
La-hầu con
trưởng Ta
Vô lượng
ngàn vạn ức
Công đức
không kể xiết,
An trụ trong
Phật pháp,
Ông cầu
Đạo tối thượng”.
MẬT HẠNH:
Bài kệ gây
xúc động này cho ta thấy tình thương của đức Phật, một
vị Đạo sư, một đấng Từ phụ. Nghe đức Phật dạy “Mật
hạnh La-hầu-la / Chỉ riêng ta biết được”, hẳn là ngài
La-hầu-la phải sung sướng vô cùng ! Mật hạnh nghĩa là khi
người ta thành tựu điều gì, người ta không để lộ cho
người khác biết bằng vẻ bên ngoài hay thể cách của mình
mà đến với người khác như một người bình thường và
dẫn dắt họ một cách tự nhiên theo đường hướng tốt
hơn. Điều này cũng giống nguyên lý nửa bước mà ngài Phú-lâu-na
đã nêu dẫn. Dù ngài La-hầu-la đã đạt đến trình độ
tâm thức cao vời, ngài vẫn không tỏ lộ dấu hiệu nhỏ
nào về điều ấy, trái lại vẫn thầm lặng hướng dẫn
người ta một cách kín đáo. Chỉ có đức Phật Thích-ca-mâu-ni
là vị thầy, người cha mới biết sự thật về ngài La-hầu-la.
Đối với ngài, sự xác nhận của đức Phật hẳn là niềm
vui mừng gấp bội.
Tại sao các
đại đệ tử như A-nan và La-hầu-la lại được đức Phật
thọ ký sau các đệ tử khác ? Chúng ta có thể ức đoán rằng
đức Phật suy luận theo cách sau đây: Ngài A-nan luôn luôn
là thị giả của đức Phật trong khi ngài La-hầu-la là con
của đức Phật. Như thế, cả hai vị đều là các đệ tử
gần gũi nhất của đức Phật vốn tỏ ra là nhằm vì lợi
ích của những chúng sanh kém trí. Có cái nhìn thích đáng
về hoàn cảnh đặc biệt của hai vị đệ tử này là hoàn
cảnh ấy có thể gây trở ngại hơn là giúp ích cho sự tu
tập của họ, và để khai thị điều này cho tất cả các
chúng sanh, đức Phật cố ý trì hoãn việc thọ ký cho hai
vị đại đệ tử này.
Chúng ta không
nên nghĩ rằng vì hai vị đệ tử này là thân cận nhất của
Ngài nên đức Phật chần chờ trong việc thọ ký cho họ vì
xét rằng những người khác trong giáo đoàn của Ngài có thể
nghĩ thế này thế nọ. Đức Phật Thích-ca-mâu-ni không phải
là một người có tâm địa nhỏ nhen như thế. Ngay như ngài
A-nan là vị luôn luôn theo hầu hạ đức Phật, cũng thường
không thể phân biệt được một bên là sự vĩ đại của
vị thầy mình với ngôi vị là đức Phật và sự vi diệu
của Phật pháp và một bên là đức Phật với tư cách là
một con người; và vì thế ngài A-nan sẽ gặp khó khăn trong
việc tôn kính đức Phật bằng cái tâm thuần khiết như các
vị đệ tử khác. Về mối liên hệ giữa cha và con thì vấn
đề cũng như vậy. Tuy rằng một người cha có thể là một
vĩ nhân, người con ruột của ông sẽ nhận thấy khó mà đối
xử với cha mình bằng cùng một sự kính trọng như sự kính
trọng của những người ngoài. Đức Phật đã dạy rằng
đối với một người luôn luôn theo hầu hạ một vĩ nhân
thì điều này có thể trở thành một trở ngại cho việc
tu tập của người ấy nếu người ấy không vạch rõ một
lằn ranh trong tâm giữa những vấn đề chung và riêng. Dù
ngài A-nan và ngài La-hầu-la bị đặt trong một hoàn cảnh
rất tế nhị, hai vị vẫn luôn đối xử kính cẩn, và cách
cư xử của họ là bằng chứng cho đức hạnh cao vời của
họ.
Điều khó
khăn nhất đối với chúng ta là dẫn dắt những người thân
cận nhất của chúng ta - vợ, chồng, con trai, con gái, cha mẹ
chúng ta - đến Phật pháp. Nếu chỉ hướng dẫn họ bằng
lời nói thì có thể không bao giờ chúng ta thành công hoàn
toàn. Chúng ta không có cách nào khác ngoài việc gây ảnh hưởng
đối với họ qua việc thực hành của chúng ta trong đời
sống hằng ngày. Nếu tánh hạnh của chúng ta thường là ti
tiện và ích kỷ, chỉ tốt trong những
trường
hợp hiếm hoi, thì nó sẽ không ảnh hưởng đến người khác.
Nếu ta không luôn luôn nêu gương tốt cho các thành viên của
gia đình mình thì họ không thể theo chúng ta. Đức Phật Thích-ca
đang trỏ đến điều này trong lời dạy củaNgài.
Bấy giờ
đức Thế Tôn nhìn vào hai ngàn vị hữu học (đang cần phải
học) và vô học (không cần phải học nữa), các vị đều
có tâm nhu hòa, an tịnh, đang nhất tâm ngưỡng trông đức
Phật. Đức Phật bảo ngài A-nan: “Ông có thấy hai ngàn vị
hữu học và vô học này chăng ?”. Ngài A-nan bạch: “Vâng,
con có thấy họ”. Lời đáp của ngài A-nan có nghĩa rằng
“Vâng, trông họ thật là tuyệt diệu” để đáp lại câu
hỏi của đức Phật ý rằng “Ông thấy họ như thế nào?”
Đây là điều gọi là mặc khế (ngầm thông hiểu) trong câu
hỏi và lời đáp giữa đức Phật và ngài A-nan.
Thế rồi
đức Phật thọ ký cho hai ngàn vị này như sau: Nếu họ đảnh
lễ vô lượng đức Phật, tôn thờ, kính ngưỡng chư vị
và hộ trì Pháp bảo thì cuối cùng, trong cùng một lúc ở
khắp các quốc độ ở mọi phương, mỗi vị đều thành một
vị Phật có cùng danh hiệu là Bảo Tướng Như Lai (vị Phật
có tướng tốt đẹp). Thế rồi, nghe lời thọ ký của đức
Phật, hai ngàn vị hữu học và vô học ấy vô cùng hoan hỷ,
hết lòng tạ ơn đức Phật mà nói bằng kệ như sau:
“Kính
bạch đức Thế Tôn !
Đèn sáng
của Trí tuệ !
Nghe tiếng
Ngài thọ ký,
Chúng con
đầy hoan hỷ
Như được
tưới cam lồ”.
Dù ngắn, đây
là một bài kệ nổi tiếng. Nó chứa đầy một ý nghĩa thật
sâu đậm, lòng biết ơn và sự kính ngưỡng đức Phật mà
chúng ta nên đọc tụng hàng ngày.