Phẩm
7
HÓA
THÀNH DỤ
Đức Phật
dùng ba phương pháp thuyết giảng. Thứ nhất là phương pháp
lý thuyết, hay “pháp thuyết” (hossetsu). Nếu pháp được
trình bày theo cách này mà người nghe nhận thấy khó hiểu
thì Ngài dùng phương pháp gợi ý, gọi là “tỷ thuyết”
(hi-setsu). Nếu người nghe vẫn không thể nắm bắt được
ý nghĩa thực sự của lời dạy, Ngài dùng phương pháp “nhân
duyên thuyết (innen-setsu), tức là thuyết giảng bằng câu chuyện
tiền thân của một vị Phật trong quá khứ. Kinh Pháp Hoa dùng
cả ba phương pháp này, khiến mọi người thuộc mọi căn
tính có thể hiểu được giáo lý.
Phẩm 7 “Hóa
Thành Dụ” (Ẩn dụ về Thành phố Huyễn hóa) thuộc loại
thuyết giảng bằng nhân duyên (nhân duyên thuyết). Phẩm này
khởi đầu bằng sự thuyết giảng về mối liên hệ giữa
đức Phật và chư đệ tử của Ngài từ quá khứ xa xôi nhất
đến hiện tại.
Ở phần
cuối của phẩm 6, đức Thế Tôn dạy: “Giờ đây Ta sẽ
tuyên bố về nhân duyên của Ta và của các Ông trong các đời
trước. Tất cả các Ông hãy nghe cho kỹ !” Mở đầu bằng
sự nhắc nhở như thế, đức Thế Tôn lại nói với các Tỷ-kheo:
“Trong thời quá khứ xa xăm, có một đức Phật tên là Đại
Thông Trí Thắng Như Lai, quốc độ của Ngài tên là Hảo Thành
và thời kiếp tên là Đại Tướng. Từ khi đức Phật ấy
nhập diệt, vô lượng thời gian đã trôi qua. Giả như đất
trên toàn thế giới này được một người xay thành mực,
và người ấy đi qua một ngàn xứ ở hướng Đông, rồi làm
rơi một giọt nhỏ như hạt bụi; lại nữa, người ấy đi
qua một ngàn xứ khác, để rơi một giọt mực khác. Giả
như người ấy cứ tiếp tục như thế cho đến khi làm hết
mực làm bằng đất này. Các Ông có thể tính được số
xứ mà người ấy đã đi qua không ? Tất cả các xứ này,
các nhà số học hay đệ tử của họ có thể biết chỗ tận
cùng hay các giới hạn của chúng mà biết số lượng được
chăng ?”
“Một ngàn
xứ” nói theo cách nói ngày nay là tất cả các thiên thể
trong vũ trụ. Hãy tưởng tượng rằng một giọt mực nhỏ
bằng một hạt bụi được để rơi trên một ngôi sao, và
sau khi qua một ngàn ngôi sao, một giọt mực khác lại được
rơi xuống.
Khi được
hỏi họ nghĩ thế nào, các Tỷ-kheo đều cùng trả lời: “Thưa
không, bạch Thế Tôn ! Chúng con không thể nào biết số lượng
ấy được”.
Đức Thế
Tôn gật đầu và dạy tiếp: “Này các Tỷ-kheo ! Giả như
tất cả các xứ này (các ngôi sao) mà người ấy đã đi qua,
những nơi người ấy để rơi một giọt và những nơi người
ấy không để rơi, được xay nghiền thành bụi, và hãy cho
một hạt bụi là một kalpa (kiếp)(1). Các Ông có thể
tưởng tượng phải cần thời gian bao nhiêu để xay toàn bộ
vũ trụ này thành bụi chăng ? Thời gian từ khi đức Phật
Đại Thông Trí Thắng nhập diệt đến nay còn vượt quá số
thời gian ấy đến vô lượng, vô hạn năm. Do năng lực Như
Lai trí của Ta, Ta quán sát thời gian ấy chỉ như ngày hôm
nay mà thôi.”
Đức Phật
dùng sự so sánh đất được xay nghiền thành mực như thế
để khiến các đệ tử của Ngài hiểu rõ ý niệm về sự
lâu dài vô tận của vĩnh cửu. Ý niệm về vĩnh cửu hay vô
hạn sẽ không đến với chúng ta nếu chúng ta không thể thiết
lập được một tiêu chuẩn của giới hạn. Dù cho chúng ta
ngước nhìn bầu trời trong không có mây, chúng ta cũng không
có ý niệm về sự vô hạn này. Nhưng chúng ta nhìn thấy một
làn mây nhỏ cao tít trên trời, chúng ta cảm thấy một cái
gì đó về sự vô hạn của bầu trời. Chúng ta cảm thấy
sự vô cùng khi chúng ta nhìn lên bầu trời sao vào ban đêm
và hiểu rằng những vì sao mà chúng ta thấy xa trái đất
hàng triệu năm ánh sáng.
Ý NGHĨA CỦA
“NGÀY HÔM NAY”:
Lời nói
của đức Phật, “Ta quán sát thời gian ấy chỉ như ngày
hôm nay mà thôi” gợi cho chúng ta rằng đời người là vô
hạn. Đức Phật gợi ý cho chúng ta hiểu rằng đời sống
của chúng ta vẫn tương tục từ quá khứ vô hạn đến tương
lai vô cùng; “ngày hôm nay” không hiện diện riêng lẻ mà
giống như một hố sâu hay một chỗ cạn của dòng đời vô
tận. Nếu chúng ta làm ô nhiễm thân và tâm của ngày hôm
nay thì chúng ta phải chịu một ảnh hưởng xấu ở những
khúc thấp của dòng đời vô hạn. Nếu chúng ta làm thanh tịnh
thân và tâm của ngày hôm nay thì chúng ta tạo được một
thay đổi tốt đẹp ở chỗ thấp đàng kia của chính dòng
này.
Trước khi
bàn tiếp về phẩm này, chúng ta cần hiểu rằng do từ sự
quán sát tư duy mà đức Thế Tôn dạy, “Ta quán sát thời
gian ấy chỉ như ngày hôm nay mà thôi”, và rồi Ngài kể
chuyện về cuộc đời của một vị Phật quá khứ. Lặp lại
giáo lý này bằng kệ, đức Thế Tôn dạy tiếp: “Thọ mạng
của đức Phật Đại Thông Trí Thắng Như Lai là năm trăm
bốn mươi vạn ức(1) na-do-tha(2) kiếp (kalpa)(3). Khởi đầu,
khi đức Phật này ngồi trên đài trí tuệ, Ngài đã phá Ma
quân, dù Ngài sắp chứng đắc vô thượng Bồ-đề, các Phật
pháp vẫn chưa hiển hiện ở Ngài. Cứ thế, khoảng một trăm
ngàn năm Ngài ngồi kiết-già, thân tâm bất động, nhưng các
Phật pháp vẫn chưa hiển hiện ở Ngài.
“Bấy giờ
chư Thiên của các cõi trời Đế Thích (Indra)(4) trải cho đức
Phật Đại Thông Trí Thắng một tòa sư tử cao năm do-tuần(5)
dưới một cây Bồ-đề. Khi chư Thiên thỉnh cầu đức Phật
ấy ngồi lên tòa này để chứng Vô thượng Bồ-đề, Ngài
liền ngồi lên đó, hoan hỷ thể theo thỉnh cầu của họ.
Ngay sau khi Ngài ngồi trên tòa này, các Thiên vương cõi Phạm
thiên làm mưa hoa trời xuống tòa. Một ngọn gió thơm thỉnh
thoảng khởi lên quét sạch hoa úa và rải hoa tươi xuống.
Cứ mãi như thế suốt một trăm ngàn năm, đức Phật được
cúng dường. Trong khi ấy, để cúng dường đức Phật trong
suốt một trăm ngàn năm cho đến khi Ngài nhập diệt, chư
Thiên thuộc Tứ thiên vương(1) gõ trống trời và tấu nhạc
trời suốt một trăm ngàn năm”.
Miêu tả
trên đây tỏ rõ rằng chư Thiên tha thiết mong cầu đức Phật
Đại Thông Trí Thắng đạt Toàn Giác và rằng chư vị tôn
thờ, kính ngưỡng đức Phật này. Hình ảnh ngọn gió thơm
quét sạch những hoa úa và rải xuống hoa tươi trỏ ý rằng
niềm mong mỏi, sự tôn thờ và kính ngưỡng của chư Thiên
đối với đức Phật ấy vẫn tiếp tục mãi.
“Này các
Tỷ-kheo ! Sau khoảng thời gian rất nhiều năm, đức Phật
Đại Thông Trí Thắng đạt được Phật pháp và sự Toàn
Giác đã hiển lộ ở Ngài. Trước khi đức Phật ấy xuất
gia, Ngài có mười sáu người con trai, người lớn nhất tên
là Trí Tích. Mỗi người con đều có những loại giải trí
khác nhau và sống cuộc đời hạnh phúc, nhưng khi nghe cha của
họ đã thành tựu sự Chứng ngộ Toàn hảo, họ từ bỏ những
thứ mà họ quý trọng và đến thăm đức Phật, các bà mẹ
khóc lóc đi theo họ mà không chút hy vọng họ sẽ trở lại
nhà.
“Ông
nội của họ là Chuyển Luân Vương cùng các cháu, các đại
thần và nhiều thần dân theo họ đến chỗ đức Phật Đại
Thông Trí Thắng. Sau khi cúng dường đức Phật ấy bằng nhiều
cách, họ phủ phục, đặt đầu trên bàn chân Ngài mà đảnh
lễ Ngài, và sau khi nhiễu quanh Ngài, chắp tay, nhất tâm, họ
ngưỡng nhìn đức Phật và ca ngợi Ngài bằng kệ. Họ bạch
rằng: "Dù rằng giờ đây Ngài là Phật, xưa kia Ngài cũng
là thường nhân như chúng con, và sau khi đã tu tập vô số
năm, nay đã thành Phật để cứu độ tất cả các chúng sanh,
Ngài mang sắc tướng thiêng liêng. Nay thấy như vậy, ngay cả
chúng con, những thường nhân cũng có hy vọng sẽ thành Phật
nhờ sự tu tập của mình. Chúng con được may mắn và hoan
hỷ vui mừng. Tất cả các chúng sanh đang đau khổ và không
có người dẫn đạo; họ không biết con đường chấm dứt
khổ đau, không biết làm sao cầu tìm giải thoát. Những con
đường xấu của họ càng ngày càng gia tăng.
"Nhưng nay
đức Phật đã thoát khỏi mọi ảo tưởng và đạt được
trạng thái tâm thức tối thắng và an tịnh. Ngài đã nêu
một tấm gương tốt cho chúng con khiến chúng con cùng với
chư Thiên và loài Người sẽ nhận được Phật pháp và đạt
chứng ngộ. Đây là điều may mắn lớn lao nhất mà chúng
con đã đạt được. Do đó,tất cả chúng con đều hiến dâng
đời mình cho Ngài, bậc Tối Thắng. Xin Ngài hãy dẫn dắt
chúng con". Thế rồi tất cả mười sáu vị vương tử này,
sau khi đã ca tụng đức Phật bằng kệ, nài xin Ngài chuyển
Pháp luân: "Xin Ngài hãy giảng pháp cho tất cả cc chúng sanh"“.
Ở đây chúng ta gặp nhóm từ
“Chuyển
Pháp luân” (làm quay bánh xe Pháp). Trong trường hợp này Pháp
có nghĩa là giáo lý về chân lý. Một khi giáo lý được giảng,
thì giáo lý sẽ được truyền từ người này đến người
khác không ngừng, như một bánh xe quay. Do đó trong Phật giáo,
sự thuyết giảng chân lý được gọi là “Chuyển Pháp luân”.
Rồi bằng
một giọng trịnh trọng hơn, đức Phật nói với các Tỷ-kheo:
“Khi đức Phật Đại Thông Trí Thắng đạt Toàn Giác, mỗi
Phật độ trong năm trăm vạn ức Phật độ ở mọi phương
đều rung động theo nhiều cách khác nhau; ngay cả những chỗ
tối giữa các cõi này, nơi mà ánh sáng tháng tám của mặt
trời và mặt trăng không thể chiếu tới, cũng trở thành
sáng rỡ hết. Tất cả các chúng sanh ở trong đó đều trông
thấy nhau được và đồng thanh kêu lên "Tất cả các chúng
sanh này từ đâu mà bỗng đến đây ?"“.
GIẢI THOÁT
KHỎI ĐỊA NGỤC CÔ ĐỘC:
Các từ trên
cần được giải thích. Ở những nơi nào mà giáo lý đức
Phật chưa được truyền đến, người ta cứ tranh chấp nhau
và không thể mở rộng tâm mình. Dù cha con hay anh chị em sống
chung với nhau, mỗi người đều sống tách biệt trong thâm
tâm của mình. Họ sống cô độc vì ngoài họ, họ không có
ai để nương tựa. Nhưng một khi Phật pháp truyền đến,
hết thảy họ đều có thể trở thành bè bạn. Một người
vốn đã cô đơn nay bỗng trở nên hạnh phúc, chung quanh có
nhiều bạn tốt.
“Lại nữa,
các cung điện của chư Thiên trong tất cả các cõi này rung
động theo nhiều cách khác nhau và một ánh sáng lớn chiếu
rọi khắp nơi, tràn đầy mọi cảnh giới, vượt trội ánh
sáng của cõi trời. Thế rồi, ở phương Đông, tất cả các
cung điện của các cõi trời Phạm thiên trong nhiều quốc
độ được chiếu sáng rực rỡ gấp đôi ánh sáng bình thường.
Và mỗi vị Thiên vương cõi Phạm thiên đều suy nghĩ: "Do
nhân duyên gì mà dấu hiệu này xuất hiện, khiến các cung
điện của chúng ta giờ đây được chiếu rạng mà xưa nay
chưa từng có ?" Rồi các vị vua cõi Phạm thiên ấy đến
gặp nhau mà bàn luận về sự việc này. Bấy giờ trong hội
chúng ấy có một vị Đại Phạm thiên vương tên là Cứu
Nhứt Thiết dùng kệ nói với chúng Phạm thiên như sau: "Tại
sao dấu hiệu này xuất hiện với ánh sáng chói lọi mà trước
kia chưa từng được thấy trong tất cả các cung điện của
chúng ta ? Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu. Phải chăng một
vị Thiên có đức lớn đang sanh ? Phải chăng một vị Phật
xuất hiện ở đời? Tại sao ánh sáng lớn này chiếu khắp
vũ trụ?"
“Thế rồi
các Phạm thiên vương từ nhiều quốc độ, mỗi vị cùng
với dãy cung điện của mình, mỗi vị mang một cái túi đựng
đầy thiên
hoa, cùng nhau về phía Tây để tìm hiểu dấu hiệu ấy. Tại
đấy họ nhìn thấy đức Phật Đại Thông Trí Thắng tại
đạo trường dưới cội Bồ-đề, ngồi trên tòa sư tử,
chung quanh có chư Thiên, người và phi nhân đang kính ngưỡng
Ngài. Và họ trông thấy mười sáu vị vương tử của đức
Phật đang nài xin Ngài chuyển Pháp luân. Bấy giờ tất cả
các Phạm thiên vương sụp mình xuống đất dưới chân đức
Phật, nhiễu quanh Ngài hàng trăm, hàng ngàn lần và rải thiên
hoa vào Ngài. Hoa
mà họ rải
dâng cao như núi Tu-di và hoa cũng được dâng cho cây Bồ-đề
của đức Phật. Sau khi dâng hoa, mỗi vị đệ trình
cung điện
của mình lên đức Phật và bạch: "Vì lòng từ bi đối với
chúng con và vì lợi ích cho chúng con, xin hãy hạ cố nhận
cung điện mà chúng con dâng !"“
Đảnh lễ
đức Phật bằng một sự cúng dường tượng trưng cho sự
tôn thờ và tri ân đức Phật. Biểu từ “hoa cũng được
dâng cho cây Bồ-đề của đức Phật” có một ý nghĩa rất
sâu xa. Cây này che ánh nắng nóng cho đức Phật trong khi Ngài
Thiền định. Mảnh đất dưới cây Bồ-đề là một chỗ
thiên nhiên để đạt chứng ngộ tối thượng. Vì thế, những
ai tín tâm đối với đức Phật cũng kính ngưỡng cây Bồ-đề
đã che chở Ngài và kính ngưỡng chỗ đất dưới cây này,
nơi Ngài đã ngồi khi chứng ngộ.
“Bấy giờ
tất cả các vua trời Phạm thiên đang ở trước đức Phật,
nhất tâm đồng thanh tán thán Ngài bằng kệ ý như sau:
"Một đức
Thế Tôn xuất hiện trên đời này thật là hy hữu và chúng
ta thật khó gặp được Ngài. Ngài toàn hảo với vô lượng
công đức và có thể cứu độ tất cả. Là vị Đạo sư
lớn của Trời và của Người, Ngài có lòng từ bi và dẫn
dắt hết thảy các chúng sanh trên đời. Tất cả các chúng
sanh trong vũ trụ nghe giáo lý của Ngài và được Ngài hộ
trì. Chúng con từ các cõi trời, từ bỏ niềm hỷ lạc của
Thiền định thâm sâu mà đến đây để phụng sự đức Phật.
Cung điện của chúng con được trang hoàng rực rỡ là quả
báo cho đời trước của chúng con. Nay chúng con xin dâng các
cung điện ấy lên Thế Tôn và mong Ngài từ bi thọ nhận"“.
SÁNG TẠO
LÀ NIỀM VUI TRONG ĐỜI NGƯỜI:
Điểm chủ
yếu ở đây là các vị Thiên vương từ bỏ niềm vui của
Thiền định thâm sâu mà từ cõi trời đến cõi người cốt
để nghe đức Phật thuyết pháp.Đ iểm quan trọng này nằm
ở cốt lõi giáo lý của kinh PhápHoa.
Một cuộc
đời xứng đáng không phải là chỉ trải qua một cuộc sống
bình an, tĩnh lặng mà chính là sự sáng tạo một cái gì đó
tốt đẹp. Khi một người nỗ lực trở thành một người
tốt hơn do tu tập thì sự tận lực này là sự sáng tạo
về điều tốt. Khi người ấy làm điều gì vì lợi ích của
người khác thì đây là sự sáng tạo một tiêu chuẩn cao
hơn của sự thiện lành. Các nghệ thuật là sự sáng tạo
về cái đẹp, và tất cả các nghiệp vụ lương thiện đều
là sự sáng tạo nhiều loại năng lực có ích cho xã hội.
Sự sáng
tạo chắc chắn cũng mang theo với nó sự đau khổ, khó khăn.
Tuy nhiên, người ta nhận thấy cuộc đời đáng sống khi người
ta nỗ lực vì điều gì thiện. Một người nỗ lực để
trở nên một người tốt hơn một chút và làm lợi ích cho
người khác nhiều hơn một chút - nhờ sự nỗ lực tích cực
như thế, chúng ta có thể cảm thấy niềm vui sâu xa trong đời
người.
Nếu trong
một tuần chúng ta sống trong một thế giới mà chúng ta không
gặp những khó khăn và không có niềm vui sáng tạo một cái
gì đó thì chúng ta sẽ chán chường thế giới ấy. Nếu chúng
ta không nhàm chán cái thế giới như thế thì điều này chứng
tỏ rằng vốn từ căn bản, chúng ta có tính lười biếng.
Những người
như thế bị chìm đắm trong ảo tưởng, và dù cho họ có
lên được một cõi trời thì bất cứ lúc nào họ cũng có
thể rơi ngay vào cõi tu-la (shura) hay cõi địa ngục (jigoku).
Dù chư Thiên
đã đạt được trạng thái tâm và thân bình an, hễ chừng
nào có một người đang đau khổ mà nếu chư vị lưu tâm
cứu giúp người ấy khỏi khổ và nếu chư vị tích cực
tu tập để giúp chư Phật nhằm cứu vớt tất cả các chúng
sanh thì chư vị sẽ lên đến cõi của chư Phật (Bukkai, Phật
giới), cảnh giới cao nhất của các chúng sanh. Đấy là vì
cả đến chư Thiên cũng nỗ lực nhằm phục vụ người khác,
khiến họ hạnh phúc và cứu họ khỏi khổ đau. Trong những
hành động từ bi và trong cuộc sống sáng tạo như thế, chư
vị cảm thấy một niềm vui sâu đậm và đây là con đường
đưa chư vị đến sự giác ngộ của chư Phật.
Như được
minh họa ở sơ đồ về mười cảnh giới của các chúng sanh
(Jikkai, thập giới) ở trang 230, con đường để vào cõi Phật
(Phật giới) khởi từ cõi người (ningen-kai, nhân giới). Chính
nhằm liên hệ đến điểm này mà ngài Nichiren bảo, “Tu tập
một trăm năm ở cõi Tịnh Độ không bằng tu tập một ngày
ở cõi bất tịnh.” Nếu chư Thiên không tiếp tục xuống
cõi người mà thực hành việc cứu tất cả các chúng sanh
khỏi khổ đau thì chư vị không thể thành Phật. Vì thế,
tất cả các Phạm thiên vương rời khỏi cõi trời an tịnh
và mong được thọ nhận Phật pháp thiết tha đến nỗi chư
vị lìa bỏ cung điện, tức cuộc sống an tịnh của mình.
Thế rồi
các Phạm thiên vương từ mọi phương tụ hội lại và tất
cả đều cùng nêu một thỉnh cầu lên đức Phật. Như ở
đây, những miêu tả tương tự thường được lặp lại trong
các kinh. Nhưng như đã nói trước đây, khi tụng kinh, sự
lặp đi lặp lại một cách thiết tha là quan trọng nhất.
KỆ KẾT
THÚC BẰNG CÁC LỜI NGUYỆN:
Ở cuối
phần kệ thứ mười bốn của phẩm này có những dòng sau
đây: “Nguyện sao công đức này / Tỏa rộng khắp tất cả
/ Chúng con cùng chúng sanh / Thảy đều thành Phật đạo !”.
Đây gọi là “kệ kết thúc bằng các lời nguyện” vì không
phải chỉ những người tu tập kinh Pháp Hoa mà mọi tín đồ
Phật giáo đều tụng nó như là một bài kệ kết thúc thời
kinh. Người ta bảo rằng tinh thần của đại nguyện và sự
tu tập của người Phật tử có thể được tóm trong ít dòng
ngắn ngủi này. Nhoùm từ “công đức này” nghĩa là “công
đức phụng sự chư Phật”. Điều này không có nghĩa là
các vị vua cõi trời Phạm thiên muốn được nhận phần báo
đáp vì họ đã dâng trình các cung điện cho chư Phật. Dĩ
nhiên chư Phật cũng chẳng để ý gì đến việc sở hữu
các thứ vật chất. Phụng sự đức Phật bằng cách dâng
hoa và lễ vật là một sự biểu lộ lòng tôn kính và biết
ơn của chúng ta đối với Ngài. Nhưng điều quan trọng nhất
là phụng sự đức Phật bằng cách tu tập, tức là thực
hành Phật đạo sau khi từ bỏ cái tự kỷ của chúng ta, tức
cái “tiểu ngã”. Thời kinh mà chúng ta tụng trước các
bàn thờ Phật là một trong những thực hành của chúng ta
trong đó chúng ta quên cái tiểu ngã, từ bỏ nó và tận tụy
duy chỉ nhằm theo đuổi Phật đạo. Do đó, thời kinh của
chúng ta cũng là một cách hữu hiệu để phụng sự đức
Phật.
Không nên
phụng sự đức Phật mà chỉ nhằm được an tịnh tâm và
cuộc sống thuận lợi. Chúng ta cần thành tâm mong ước rằng
công đức của việc thực hành phụng sự đức Phật nhằm
hồi hướng cho tất cả các chúng sanh. Vì bài kệ kết thúc
bằng các lời nguyện có ý nghĩa sâu xa như thế nên chúng
ta chớ chỉ học thuộc lòng suông mà phải tụng đọc nó
một cách thiết tha đúng như đại nguyện của chúng ta, những
người Phật tử.
Khi đức
Như Lai Đại Thông Trí Thắng chấp nhận lời thỉnh cầu của
chư vị Phạm thiên vương và của mười sáu vị vương tử
của Ngài, Ngài dạy họ học thuyết Tứ Thánh đế theo ba
cách thuyết giảng.
Ba cách thuyết
giảng là “thị chuyển” hay ji-ten (nêu trỏ Tứ Thánh đế);
“khuyến chuyển”, hay kan-ten (khuyến khích tu tập Tứ Thánh
đế), và “chứng chuyển”, hay shò-ten (chứng kiến hay thể
nghiệm rằng đức Phật đã thành tựu Tứ Thánh đế). Vì
đức Như Lai đã thuyết Tứ Thánh đế theo ba cách nên kinh
dạy: “Đức Như Lai Đại Thông Trí Thắng liền ba lần chuyển
Pháp luân mười hai phần” (tam chuyển thập nhị hành Pháp
luân). Sau đó Ngài giảng chi tiết về Pháp Mười hai Nhân
duyên (jùni-innen, Thập nhị nhân duyên), một trong những giáo
lý căn bản của đức Phật.
LUẬT MƯỜI
HAI NHÂN DUYÊN: NGOẠI DUYÊN KHỞI.
Luật (hay
Pháp) này, còn gọi là học thuyết Dây xích mười hai mắt
của nhân duyên, dạy rằng tất cả các hiện tượng trong
đời này luôn luôn biến đổi, xuất hiện và biến mất,
và dạy rằng tất cả mọi biến đổi đều căn cứ trên
một luật tắc đã thiết lập. Dù tất cả mọi sự vật
biến đổi, luật tắc này vẫn cố định.
Nó được
gọi là Pháp Mười hai Nhân duyên vì luật tắc được chia
thành mười hai giai đoạn. Tuy nhiên, bằng cách chỉ hạn chế
luật này vào con người thì chúng ta dễ hiểu nó hơn là cùng
một lúc áp dụng nó vào tất cả các hiện tượng.
Đức Phật
giảng luật Mười hai Nhân duyên một cách chi tiết cho ngài
A-nan trong kinh Trường A-hàm (Dirghagàma-sutra, Jò-agon-gyò). Luật
này điều định sự phát triển về thân thể con người cũng
như những biến đổi trong tâm con người. Sự phát triển
về thân được gọi là “nguyên nhân bên ngoài” (gai-engi,
ngoại duyên khởi), những biến đổi về tâm được gọi
là “nguyên nhân bên trong” (nai-engi, nội duyên khởi). Luật
giải thích quá trình sinh ra, lớn lên, già và chết của một
người dưới ánh sáng của ba giai đoạn hiện hữu quá khứ,
hiện tại, vị lai. Đồng thời, nó cũng nêu trỏ thể cách
biến đổi của tâm người, phương pháp căn bản để thanh
tịnh tâm và gỡ bỏ những ảo tưởng khỏi tâm.
Mười hai
mắt xích hay giai đoạn là 1. vô minh (mumyò, không hiểu biết),
2. hành (gyò, hành động), 3. thức (shiki, sự biết), 4. danh
sắc (myò-shiki, các chức năng tâm thức và vật chất), 5.
lục nhập (rokunyu, năm giác quan và ý), 6. xúc (soku, sự tiếp
xúc), 7. thọ (ju, cảm), 8. ái (ai, sự ưa thích), 9. thủ
(shu, sự nắm chấp), 10. hữu (u, sự hiện hữu), 11. sanh (shò,
sự sanh ra), 12. lão tử (rò-shi, sự già và chết). Trước
hết chúng ta sẽ giải thích sự phát triển và những biến
đổi của thân thể con người, tức ngoại duyên khởi.
Mắt xích
thứ nhất của Mười hai Nhân duyên là vô minh. Trước khi
được cha mẹ thọ thai, không có gì được biết và được
cảm nhận. Khi cái tinh linh vô minh nhập thai người mẹ qua
hành động giao phối giới tính, thức được tạo thành. Thức,
sự biết, nghĩa là “cái gì đó đang sống”. Ở đây, cái
gì đó như một con người - một bào thai - được tạo thành,
dù nó còn chưa đầy đủ. Khi cái thức chưa đầy đủ thành
hình dần dần, nó phát triển thành danh sắc (các chức năng
tâm linh và vật chất). “Danh” nghĩa là một hữu thể phi
vật chất, tinh thần hay linh hồn, và “sắc” trỏ một hữu
thể vật chất, tức là thân thể con người. “Danh sắc”
nghĩa là thân thể con người với một linh hồn.
Khi danh sắc
(tâm và thân) lớn lên, nó phát triển năm giác quan (mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân) và ý, nhờ đó chúng ta cảm nhận sự
hiện hữu của các sự vật. Vào lúc này, chúng ta còn ở
trong tử cung của người mẹ và chưa được đầy đủ. Giai
đoạn này được gọi là lục nhập vì các chức năng của
tâm và thân ta sắp chia thành sáu giác quan khác nhau.
Chúng ta sinh
vào trong thế giới này ở giai đoạn lục nhập. Khi chúng
ta được hai hay ba tuổi, lục nhập đã đầy đủ và cảm
tính được phát triển. Tức là chúng ta có thể phân biệt
hình dáng, màu sắc, âm thanh, mùi, vị và cảm giác vật lý,
v.v... giai đoạn này gọi là xúc.
Khi cảm tính
này được phát triển sâu hơn, những cảm giác ưa thích và
không ưa thích tự nhiên sẽ phát triển. Giai đoạn này được
gọi là thọ. Những cảm giác này trở nên rõ ràng ở độ
tuổi sáu hay bảy. Khi giai đoạn này phát triển, ái được
tạo thành. “Ái” trỏ đến nhiều thứ, nhưng ở đây chúng
ta giới hạn ý nghĩa của nó về thân thể con người và chỉ
xem nó có nghĩa là sự yêu thương về đối tính. Khi tình
yêu đối với giới tính phía kia trở nên mạnh hơn thì ta
sẽ có sự mong muốn được sở hữu người có giới tính
khác ta. Đây là thủ. Sau đó chúng ta đi vào đời sống vợ
chồng; giai đoạn này là hữu. Theo dòng thời gian, con cái
được sanh ra như là hậu quả tự nhiên của đám cưới của
chúng ta. Đây là sinh. Khi đã đến giai đoạn này, chúng ta
sẽ bị tấn công bằng đủ mọi cách bởi những khổ đau
theo đúng nghĩa của chúng. Giai đoạn này cứ tiếp diễn suốt
cuộc đời và cuối cùng chúng ta đi đến lão tử (tuổi già
và sự chết).
Những nghiên
cứu lâm sàng của các bác sĩ ngày nay chứng tỏ rằng suốt
chín tháng từ lúc thọ thai cho đến khi một hài nhi được
sinh ra, thân thể, mà khởi đầu giống như một con a-míp đã
trải qua hết mọi giai đoạn tiến hóa đã xảy ra trước
khi đạt đến hình tướng con người như con người ngày nay.
Nói một cách khác, ngay cả con người đã tiến hóa của ngày
nay cũng ở trong một trạng thái giống như con a-míp của hai
tỷ năm trước đây khi anh ta được mang thai trong tử cung
của người mẹ. Khi sự việc này được so sánh với luật
Mười hai Nhân duyên mà đức Phật dạy, chúng ta không thể
không thán phục việc đức Phật đã giảng đúng như các
nghiên cứu của các nhà khoa học của thế kỷ thứ hai mươi
mà ta được biết.
LUÂN HỒI:
Điều gì
xảy ra cho chúng ta sau khi chết ? Phật giáo dạy rằng trong
một thời gian nào đó, chúng ta vẫn ở trong trạng thái hiện
hữu trung gian (chù-u, trung hữu) trong cõi đời này sau khi chết,
và khi hết thời gian này, tùy theo nghiệp mà chúng ta đã chất
chứa trong đời trước, chúng ta sẽ tái sanh vào một cõi
khác thích ứng. Phật giáo cũng chia cõi khác này thành mười
cảnh giới sau đây: Địa ngục (jigoku), Ngạ quỷ (gaki), Súc
sanh (chikashò), A-tu-la (shura), Người (ningen, nhân), Trời (tenjò,
thiên), Thanh văn (shòmon), Duyên giác (engaku), Bồ-tát (Bosatsu)
và Phật (Butsu).
Nếu chúng
ta chết trong một trạng thái chưa giác ngộ thì linh hồn của
chúng ta sẽ trở lại trạng thái vô minh trước kia, sẽ tái
sinh trong sáu cõi (rokudò, lục đạo) của ảo tưởng và khổ
đau, và cuối cùng sẽ đi đến già và chết qua mười hai
giai đoạn đã được bàn trên đây. Và chúng ta sẽ lập lại
cái vòng này cho đến tận cùng của thời gian. Sự lặp lại
mãi của sinh và tử này được gọi là luân hồi (rinne). Nhưng
nếu chúng ta làm thanh tịnh linh hồn mình bằng cách nghe Phật
pháp và tu Bồ-tát đạo, thì trạng thái vô minh sẽ bị tiêu
trừ và linh hồn chúng ta có thể tái sinh trong một cõi tốt
đẹp hơn. Biểu từ “đoạn tận nhân duyên” nhằm trỏ
trạng thái này.
NGHIỆP:
Ở đây chúng
ta sẽ bàn về karma hay nghiệp (gò) để giúp chúng ta hiểu
rõ hơn về luật Mười hai Nhân duyên. Một cách vắn tắt,
“karma” hay “nghiệp” nghĩa là “hành vi”. Tất cả mọi
“hành vi” ta làm đều tạo thành nghiệp. Bất cứ hành vi
nào bao giờ cũng có một kết quả theo sau. Tất cả những
gì của chúng ta vào lúc này đều là kết quả của nghiệp
mà chúng ta đã tạo ra trong quá khứ. Ví dụ, sự việc anh
đang đọc cuốn sách này là kết quả của những nguyên nhân
và điều kiện (nhân duyên) đã xảy ra do bởi sự tích tập
các hành vi khác nhau trong quá khứ. Có thể nói cái hiện tượng
rằng các kết quả của các hành động gây ra một sự lưu
tồn gọi là sự “báo ứng” (hò, báo).
Nghiệp thì
phức tạp và nghiêm túc. Các hành vi của chúng ta, tuy nhỏ
nhặt, cũng để lại những dấu vết về vật lý, tâm lý
và về hoàn cảnh. Những dấu vết để lại trong tâm ta gồm
ký ức, tri thức, thói quen, trí tuệ và tính chất. Những
dấu vết này được tạo nên bởi sự chất chứa kinh nghiệm
và hành vi suốt một thời gian dài. Những dấu vết mà các
hành vi của chúng ta để lại trên thân thể của chúng ta
thì được nhận thấy, chẳng hạn, khi ăn uống khó tiêu sẽ
đưa đến bệnh. Những dấu vết này cũng được nhận thấy
khi một số bài tập thể dục thích hợp rèn luyện thân thể
chúng ta và tạo nên thể trạng của chúng ta. Những dấu vết
vật lý này dễ thấy rõ đến nỗi bất cứ ai cũng có thể
nhận ra được chúng.
Những thái
độ tâm lý của chúng ta cũng để lại những dấu vết trên
thân thể chúng ta. Rõ nhất là những dấu vết trên mặt chúng
ta. Có cái vẻ gì đó thấp kém hay u tối trên mặt một người
kém trí dù người ấy có thể đẹp trai. Một người thường
giận dữ thì có một vẻ hung tợn. Một người có lòng
từ ái, có kiến thức, có đức hạnh và ảnh hưởng thì
hình như có cái gì đó tươi mươi, sáng sủa và đáng trọng,
dù chính các đặc điểm này của người ấy không đặc biệt
nổi bật. Đây chính là điều mà Abraham Lincoln ám chỉ khi
ông bảo: “Một người hơn bốn mươi tuổi cần cảm thấy
có trách nhiệm về vẻ dáng của mình.”
Một phần
các dấu vết của các hành vi của ta để lại trong tâm ta
ở trên bề mặt của tâm ta; đó là ký ức, tri thức, thói
quen và tính chất. Phần kia của các dấu vết trong tiềm thức,
trong chỗ sâu kín của tâm ta. Hơn nữa, tất cả những ảnh
hưởng của thế giới bên ngoài mà chúng ta vô tình mang lấy,
gồm cả những kinh nghiệm mà chúng ta đã có trước khi được
sanh ra (thật thế, từ lúc khởi thỉ của loài Người), đều
chìm sâu trong tiềm thức. Nghiệp bao gồm tất cả những thứ
ấy. Dù nghiệp đã được định nghĩa một cách đơn giản
là các hành vi, thực ra, nghiệp trỏ đến sự tích tập tất
cả những kinh nghiệm và hành vi của ta từ lúc khởi sinh
loài Người và cả trước lúc ấy nữa. Đây được gọi
là “nghiệp của đời trước” (shuku-gò, túc nghiệp).
Sự hoạt
động của nghiệp này gọi là “năng lực của nghiệp”
(gò-riki, nghiệp lực).
Năng lực
này có thể được giải thích đúng đắn nhờ hiểu được
sự vận hành của cái tâm tiềm thức. Ngay cả những điều
mà loài Người đã kinh nghiệm hàng trăm ngàn năm trước đây
vẫn lưu lại trong bề sâu của tâm ta, cũng như những ảnh
hưởng mạnh hơn nhiều của những hành vi và thái độ tâm
thức của tổ tiên ta lưu lại.
“Nghiệp
của đời trước” mà Phật giáo dạy còn sâu xa hơn nữa,
vì nó gồm cả nghiệp mà đời sống của chính ta đã tạo
nên qua sự tái diễn sanh và tử từ quá khứ vô định cho
đến hiện tại.
Ý nghĩa về
nghiệp dạy ta điều gì ? Có nhiều người nghĩ rằng: “Tôi
chẳng bao giờ yêu cầu cha mẹ tôi sinh tôi vào cõi đời này”
hoặc “Tôi không chịu trách nhiệm về những gì tôi đang
là, vì mọi sự gồm trí óc, bản tính, thể trạng của tôi
mang bản chất của cha mẹ tôi”.
Những ý
tưởng như thế có vẻ hợp lý nửa vời, nhưng chúng không
hoàn hảo. Quả thật, cha mẹ hay ông bà phải có trách nhiệm
về một nửa bản chất của con cháu, nhưng nửa kia là trách
nhiệm của chính con cháu. Như thế là vì một nửa cái tôi
hiện tại phải là kết quả của nghiệp mà ông bà cha mẹ
đã tạo nên, nửa kia là kết quả của nghiệp mà một người
tự tạo ra trong các đời trước của mình. Hơn nữa, cái
tôi đang hiện hữu sau thời thơ ấu của một người là kết
quả của nghiệp mà chính người ấy đã tạo ra trong đời
này. Cho nên, trách nhiệm của các bậc cha mẹ rất giới hạn.
Ý niệm về
nghiệp dạy rõ cho chúng ta rằng một người gặt lấy những
quả mà mình đã gieo. Giả thử hiện tại chúng ta không hạnh
phúc; chúng ta có thể mất bình tĩnh và tỏ ra bực bội nếu
chúng ta gán sự bất hạnh của chúng ta cho người khác. Nhưng
nếu chúng ta xem nỗi bất hạnh hiện tại là kết quả của
các hành vi của chính chúng ta trong quá khứ thì chúng ta có
thể chấp nhận nó và nhận trách nhiệm về nó.
Ngoài sự
chấp nhận ấy, hy vọng về tương lai sẽ tuôn tràn mạnh
mẽ trong tim ta: “Tôi càng tích tập nghiệp thiện thì tôi
sẽ càng hạnh phúc và trong tương lai, tôi sẽ càng nhận quả
báo tốt hơn”. Chúng ta không nên chỉ giới hạn ý niệm
này trong các vấn đề của đời người trong thế giới này.
Chúng ta cũng có thể cảm thấy hy vọng về những dấu vết
cuộc đời chúng ta sau khi chết. Đối với những người không
biết Phật pháp, không có gì kinh khủng bằng cái chết. Mọi
người đều sợ nó. Nhưng nếu chúng ta thực sự hiểu ý
nghĩa của nghiệp quả thì chúng ta có thể giữ bình tĩnh
khi đối diện với cái chết vì chúng ta có thể có hy vọng
ở cuộc đời sau.
Khi ta không
chỉ nghĩ đến mình, mà nhận ra rằng nghiệp do những hành
vi của chính mình tạo ra sẽ gây một ảnh hưởng đến con
cháu ta thì tự nhiên ta sẽ nhận thấy có trách nhiệm về
hành vi của ta. Ta cũng sẽ hiểu rằng chúng ta là các bậc
cha mẹ, phải giữ một thái độ tốt trong đời sống hàng
ngày để có một ảnh hưởng (quả báo) thuận lợi đến
con cái chúng ta. Ta sẽ cảm thấy rõ ràng rằng ta phải nói
năng đúng đắn với con cái và nuôi nấng chúng cho thích đáng
trong tình thương yêu.
Từ “nghiệp
quả” thường được hiểu như là một cái gì tiêu cực,
nhưng đấy là do bởi cách dạy dỗ sai lầm về ý niệm này.
Chúng ta
cần xem xét ý niệm nghiệp quả theo một cách tích cực và
tiến bộ.
LUẬT MƯỜI
HAI NHÂN DUYÊN: NỘI DUYÊN KHỞI
Kế đến,
chúng ta sẽ xét luật Mười hai Nhân duyên về mặt phát triển
và biến đổi của tâm con người.
Vô minh, mắt
xích đầu tiên của nội duyên khởi của luật này, là không
có cái nhìn đúng (chánh kiến) về cuộc đời hay thế giới,
hoặc không để ý đến chánh kiến ngay cả khi người ta biết
chánh kiến. Do vô minh (ngu muội), người ta cứ mãi hoài làm
những điều sai lệch với sự thật (luật phổ quát): đây
là những hành (các hành động). Trong trường hợp này, “hành”
phải được hiểu không những chỉ là các hành động của
chính mình mà còn là sự tích tập tất cả các hành động
mà người ta đã kinh qua từ quá khứ xa xôi như đã nói khi
bàn về nghiệp.
Thức là
năng lực căn bản hay chức năng mà nhờ đó con người phân
biệt các sự vật. Tất cả các trạng thái của năng lực
hay chức năng này được quyết định bởi sự chất chứa
kinh nghiệm và các hành vi trong quá khứ của người ta, tức
là, do nghiệp mà người ta đã tạo nên.
Như đã nêu
trên, danh sắc nghĩa là các chức năng tâm thức (danh) và vật
chất (sắc). Danh nhằm trỏ một hữu thể phi vật chất, linh
hồn hay tinh thần, và sắc nhằm trỏ một hữu thể vật chất,
thân thể người ta. Ghép cả hai lại, “danh sắc” trỏ sự
hiện hữu của chúng ta. Chính nhờ thức mà chúng ta có thể
có một ý niệm mơ hồ về sự hiện hữu của chúng ta. Mệnh
đề “Thức là nguyên nhân của danh sắc” trong kinh Pháp
Hoa diễn tả điều ấy.
Lục nhập
nghĩa là chức năng của sáu giác quan: mắt (thấy), tai (nghe),
mũi (ngửi), lưỡi (nếm), thân (xúc chạm) và ý, nhờ đó
chúng ta nhận thức sự hiện hữu của các sự vật được
cảm nhận qua năm giác quan này.
Dù chúng
ta nhận biết đến sự hiện hữu của chính chúng ta (danh
sắc) qua thức, sự nhận biết này còn quá mơ hồ để thiết
lập một tri thức thực sự. Nhưng rồi khi năm chức năng
thấy, nghe, ngửi, nếm và xúc chạm phát triển, và đồng
thời ý mà nhờ đó chúng ta nhận thức sự hiện hữu của
các sự vật được cảm giác qua năm chức năng này sẽ trưởng
thành. Bấy giờ chúng ta mới có năng lực phân biệt các sự
vật một cách rõ ràng. Giai đoạn này gọi là xúc.
1.VÔ MINH
(mumyo; ảo tưởng), giao phối dục của
cha mẹ, quá khứ
2.
HÀNH (gyò)
3.
THỨC (shiki)lúc thọ thai , hiện tại
4.DANH SẮC
(myò-shiki; các chức năng
tâm thức và vật chất), sự phát triển sau
khi thọ thai ,
5.LỤC NHẬP (rokunyu;
năm giác quan và ý),sự phát triển của sáu cơ
quan này trong tử cung,
6.XÚC (soku), giai đoạn của trẻ
em
hai hay ba tuổi,
7.THỌ (ju), giai đoạn của trẻ
em
sáu hay bảy tuổi,
8.ÁI (ai; sự yêu thương
về đối tính), giai đoạn của thanh niên
mười bảy hay mười tám tuổi,
9.THỦ (shu; ham
muốn về đối tính), trạng thái tâm thức của
thanh niên,
10.HỮU (u; sở hữu
đối tính), hôn nhân,
11.
SANH (shò), sanh con,vịlai
11.GIÀ, CHẾT (rò-shi;
khổ đau xảy ra), sầu,, bi,, khổ,, ưu,, não,
LUẬT MƯỜI
HAI NHÂN DUYÊN
Có hai cách
giải thích chính về giai đoạn này. Một số người cho rằng
đây là giai đoạn trước khi chúng ta cảm nhận sự ưa thích
hay sự không ưa thích và được gọi là xúc vì tâm chúng
ta chỉ mới tiếp xúc với các sự vật. Một số người khác
bảo rằng xúc nghĩa là giai đoạn thức, danh sắc và lục
nhập đạt được sự liên hệ đưa đến sự phát triển
rõ rệt về các chức năng của ý. Tạm gác những ý kiến
có tính cách kinh viện ấy, chúng ta chỉ cần hiểu rằng xúc
trỏ cái giai đoạn ý thức của chúng ta có thể phân biệt
các sự vật một cách rõ ràng. Với sự phát triển tâm thức
như thế, những cảm giác về khổ, vui, thích và không thích
được tạo nên. Đây là thọ.
Khi những
cảm giác như thế xuất hiện, sự ái đối với các sự vật
tự nhiên sinh khởi. Ái ở đây nghĩa là sự ràng buộc mà
ý nghĩa có hơi khác với tình yêu như thường được dùng.
Nói một cách khác, đây là một trạng thái tâm thức có sự
ưa chuộng và nắm lấy những gì nó thích. Khi chúng ta
có lòng ái đối với thứ gì đó thì chúng ta cố gắng nắm
lấy nó. Trái lại, chúng ta cố gắng tránh những gì chúng
ta xem là phiền chán hay không đáng ưa. Trạng thái này của
tâm thức gọi là thủ.
Thủ đưa
đến nhiều cảm giác, ý niệm, xác quyết khác nhau. Đây là
hữu, nghĩa là cái tâm phân biệt. Do bởi cái tâm phân biệt
này mà đối với nghịch, đấu tranh xảy ra giữa mọi người,
và đời người như là khổ đau hiển lộ ra đấy. Cuộc đời
như thế của con người được gọi là sanh. Sống một cuộc
đời khổ đau như thế, tuổigià đến trước khi người ta
biết nó, và cuối cùng người ta đối mặt với cái chết.
Đời người
phát triển theo cách như thế, khiến cho nguyên nhân cơ bản
của một cuộc sống khổ đau là sự vô minh căn gốc.
Khổ đau xảy ra vì người ta không biết cái quy luật áp dụng
vào mọi sự vật và không có chánh kiến về thế giới và
cuộc đời; ngay cả khi biết đến nó, người ta cũng bỏ
qua đi. Nếu con người thoát khỏi sự vô minh này và đặt
tâm mình theo hướng của quy luật thì những hành vi (sự thực
hành) của con người sẽ được định hướng đúng đắn.
Khi tâm được đặt vào con đường đúng thì những khổ đau
của người ta trên đời này sẽ biến mất, và tất nhiên
người ta sẽ đạt được sự an tịnh của tâm.
Đây là
hệ quả mà luật Mười hai Nhân duyên mang lại.
Tóm lại,
luật Mười hai Nhân duyên dạy rằng con người sanh ra như
một con người bình thường do bởi vô minh của đời trước.
Luật cũng dạy rằng nếu con người đoạn tận vô minh trong
cõi này thì cái hình thức căn bản của đời sống như đã
định sẽ được hiển lộ trong đời sống tương lai. Ở
đây chúng ta không nên giới hạn ý nghĩa của “đời sống
tương lai” vào cái đời sống khi chúng ta tái sinh sau khi
chết mà đúng hơn, nên xem nó là đời sống ở phía trước
chúng ta trong tương lai. Nếu chúng ta từ bỏ cái vô minh căn
bản và đặt tâm mình vào hướng của luật này thì một
tương lai sáng sủa trong lành sẽ mở ra phía trước chúng
ta. Chừng nào mà ta chưa làm như thế thì đời ta sẽ bị
kèm theo bởi khổ đau, dù cho ta có thể giàu sang, dù cho ta
có thể đạt nhiều danh vọng, và tâm ta sẽ xoay chuyển theo
con đường của sáu cõi ảo tưởng. Sáu cõi ở đây nhằm
trỏ các trạng thái của tâm như đã được giải thích ở
phẩm 2 của kinh Vô Lượng Nghĩa.
Qua luật
Mười hai Nhân duyên, chúng ta đã xét sự phát triển theo chiều
dọc của đời sống (ông bà cha mẹ, chúng ta, con cháu chúng
ta; hoặc chúng ta trong đời trước, trong thế giới hiện tại
và trong thế giới tương lai). Tuy nhiên, vấn đề là tâm và
đời sống con người không chỉ gồm những quan hệ dọc như
thế. Cả hai cũng bị ảnh hưởng bởi những quan hệ ngang,
tức là, bởi những nối kết phức tạp với toàn bộ xã
hội.
Ý niệm về
mười cõi, sáu cõi của người thường và bốn cõi của bậc
Thánh (các cõi của Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát và chư Phật),
phát triển thành giáo lý Nhất niệm Tam thiên, tức Ba ngàn
Cảnh giới trong Một Tâm niệm (ichinen-sanzen).
NHẤT NIỆM
TAM THIÊN:
Học thuyết
này thành lập cái tinh yếu Ma-ha Chỉ Quán, một tác phẩm
gồm hai mươi quyển trong đó ngài Thiên Thai Trí Giả của
Trung Hoa đã hệ thống hóa các giáo lý khác nhau gồm trong
kinh Pháp Hoa. Đây là giải thích mới của ngài về kinh Pháp
Hoa. Ngài Nichiren xem học thuyết Nhất niệm Tam thiên của ngài
Trí Giả như là tinh yếu của Phật pháp.
Trong quyển
hai của tác phẩm Kaimoku-shò (Luận về người Mở Mắt), ngài
Nichiren ca ngợi học thuyết này như sau:
“Nếu con
người không đạt Phật quả nhờ giáo lý Nhất niệm Tam thiên
thì sự chứng Niết-bàn hay thành Phật của con người sẽ
không bằng một cái tên suông”. Trong quyển một tác phẩm
ấy, ngài cũng ca ngợi học thuyết này như sau: “Chính học
thuyết Nhất niệm Tam thiên của tông Thiên Thai xuất hiện
để là con đường đưa con người đến Phật quả”. Ngài
Nichiren đặc biệt ca ngợi học thuyết này tất cả mười
tám lần trong tác phẩm của ngài.
Giáo lý Nhất
niệm Tam thiên là gì ? Như đã nêu trên, tâm ta xoay chuyển
không ngừng trong sáu cõi địa ngục (sân hận), ngạ quỷ
(tham dục), súc sanh (vô minh), A-tu-la (tranh chấp), người (bình
thường), và trời (hoan hỷ). Như thế, khổ đau của chúng
ta cứ tiếp tục không cùng.
Tuy nhiên,
một thường nhân đôi khi cũng lên đến cấp độ của bốn
cảnh giới của hàng Thánh giả. Người ấy ấp ủ lòng ham
muốn học tập cách sống đúng đắn (Thanh văn), mà thể hội
nó một cách trực giác từ kinh nghiệm của mình (Duyên giác)
và mong được sống vì lợi ích của con người và xã hội
(Bồ-tát). Nhưng cũng hiếm khi người ấy đạt được một
trạng thái tâm thức của lòng từ bi tuyệt đối khiến người
ấy hoàn toàn quên mình. Hẳn là một đại sự nếu người
ấy có thể duy trì mãi một trạng thái tâm thức như thế.
Nhưng chẳng bao lâu tâm người ấy quay trở lại tâm của
một thường nhân không hề có sự tiến bộ dài lâu.
THẬP GIỚI
HỖ CỤ:
Tâm mỗi
người có mười cảnh giới, sáu của thường nhân, bốn của
Thánh nhân. Mười cảnh giới này cũng hiện hữu trong tâm
của chư Thiên nữa. Mười cảnh giới hiện hữu trong tâm
mọi người một trong mười cảnh giới. Đây là Thập giới
hỗ cụ (jikkai-gogu), hay “mười cảnh giới hiện hữu có
mặt trong nhau”.
Những chúng
sanh trong cõi địa ngục hay a-tu-la cũng có được hạt giống
Phật tính dù hạt giống này rất kém phát triển. Học
thuyết Nhất niệm Tam thiên dạy rằng ngay cả những người
đang ở trong trạng thái tâm thức như thế cũng có khả năng
đạt Phật quả và dạy rằng cơ hội giải thoát có thể
được tìm thấy ở khắp nơi. Nói một cách khác, học thuyết
này dạy rõ rằng lòng từ bi của đức Phật trải rộng cho
hết thảy chúng sanh. Mặt khác, ngay cả khi một người nghĩ
rằng mình đã hiểu và đã thoát khỏi những ràng buộc của
ảo tưởng và khổ đau, nhờ học tập học thuyết này, người
ấy sẽ trở nên có thể suy nghĩ về những hạt giống của
ảo tưởng đang tồn tại của mình và sẽ mong được tận
tụy nhiều hơn vào việc tu tập củamình.
Mỗi cảnh
giới trong mười cảnh giới thì hiện hữu trong tâm mọi người
trong một trong mười cảnh giới. Mười nhân cho mười là
một trăm. Một trăm cái tâm xuất hiện theo mười cách theo
như học thuyết Mười sự Như thế, tức Thập Như thị (jù-nyoze).
THẬP NHƯ
THỊ:
Học thuyết
này gồm mười từ mở đầu bằng “như thị”: “như thị
tướng” (nyoze sò), “như thị tính” (nyoze shò), “như thị
thể” (nyoze tai), “như thị lực” (nyoze-riki), “như thị
tác” (nyoze sa), “như thị nhân” (nyoze in), “như thị duyên”
(nyoze en), “như thị quả” (nyoze ka), “như thị báo” (nyoze
hò), và “như thị bổn mạt cứu cánh đẳng” (nyoze hommatsu
kukyò-tò). Học thuyết này làm hiển lộ chân lý sâu xa nhất
về sự hiện hữu của tất cả các sự vật trong vũ trụ,
được gọi là nguyên lý về Thực tính của Mọi Hiện hữu
(Shohò jussò; chư Pháp thực tính). Khoa học hiện đại đã
phân tích các chất thể vật lý đến mức độ các hạt hạ
nguyên tử. Nhưng nguyên lý Thực tính của Mọi Hiện hữu
còn sâu xa hơn sự phân tích ấy rất nhiều, mở rộng cả
đến cõi tâm thức nữa.
Từ như (nyo)
của Hán ngữ nghĩa là chân như (shinnyo), tức là “cái gì
hằng cố và bất biến” Như thị (nyoze) nghĩa là “như thế”
hay “như vậy” và cũng có nghĩa là “một cách nhất định”,
“không hư bại”, hay “không lầm lạc”.
Sự hiện
hữu của tất cả các sự vật (chư pháp) nhất định có
sắc tướng. Đây gọi là “như thị tướng”. Cái gì có
một sắc tướng thì nhất định có một bản tính. Đây gọi
là “như thị tính”. Cái gì có một bản tính thì nhất
định có một chất thể. Đây gọi là “như thị thể”.
Cái gì có một chất thể thì nhất định có năng lực. Đây
gọi là “như thị lực”. Khi nó có năng lực, nhất định
nó tạo ra nhiều chức năng hướng ngoại khác nhau. Đây gọi
là “như thịtác”. Vô số vật thể có hình thể hiện hữu
trong vũ trụ. Vì thế, các chức năng hướng ngoại của chúng
có liên hệ hỗ tương với tất cả các sự vật. Không có
cái gì trong vũ trụ là một hiện hữu riêng lẻ không có
liên hệ gì với các sự vật khác. Tất cả các sự vật
đều có nhưng liên quan phức tạp với nhau. Chúng phụ thuộc
lẫn nhau và qua tác động hỗ tương của chúng, chúng tạo
ra nhiều hiện tượng khác nhau. Nguyên nhân tạo ra những hiện
tượng như thế được gọi là “như thị nhân”.
Dù có một
nguyên nhân, nguyên nhân ấy cũng không tạo ra kết quả nếu
nó không tiếp xúc với một cơ hội hay điều kiện nào đó.
Chẳng hạn, lúc nào cũng có hơi nước trong không khí như
là nguyên nhân chủ yếu của sương. Một cơ hội hay điều
kiện như thế được gọi là “như thị duyên” (nguyên nhân
thứ yếu như thế). Khi một nhân (nguyên nhân chủ yếu) gặp
một duyên (nguyên nhân thứ yếu) thì một hiện tượng, tức
kết quả, được tạo nên. Đây gọi là “như thị quả”.
Một kết
quả không chỉ tạo ra một hiện tượng mà còn để lại
một dấu vết hay tồn dư nào đó. Ví dụ, kết quả của
việc hình thành sương sẽ gây một cảm giác thích thú cho
một người ưa cái thể cách sương tạo ra trên các ô kính
cửa sổ, trong khi cũng kết quả ấy lại gây một cảm giác
bực bội cho một người khác, có những vụ mùa bị hư hại
vì sương. Cái chức năng để lại một dấu vết hay tồn
dư được gọi là “như thị báo”.
Hẳn nên
giải thích kỹ hơn về nhân, duyên, quả và báo. Giả như
một người nhường chỗ ngồi của anh ta trên tàu cho một
bà lão. Trong tâm ý anh, anh sở hữu, như là nhân, cái năng
lực mong được tử tế đối với người khác. Khi cái nhân
như thế (nguyên nhân chủ yếu) tiếp xúc với một duyên (nguyên
nhân thứ yếu), ở đây là sự việc anh ta thấy một bà lão
đang lảo đảo trong khi đang cố đứng trên tàu, cái nhân
này tạo ra cái kết quả là anh nhường chỗ ngồi cho bà ta.
Sau đó anh cảm thấy thanh thản và nghĩ rằng “Ta đã làm
điều thiện”. Đây là báo (sự báo đáp). Sự báo đáp này
phát sinh từ trong tâm người ta hoặc từ bên ngoài. Sự báo
đáp đến với ta trước, và đây là sự báo đáp quan trọng
nhất.
Chín như
thị nêu trên xảy ra liên tục trong xã hội và trong cái tổng
thể là vũ trụ. Chúng liên hệ với nhau một cách phức tạp,
khiến cho trong hầu hết trường hợp, con người không thể
phân định được cái nào là nhân, cái nào là quả. Nhưng
các như thị này không bao giờ không vận hành theo quy luật
của chân lý phổ quát và không người nào, không sự vật
nào và không chức năng nào thoát khỏi quy luật này. Mọi
sự vật đều vận hành theo luật Thập Như thị, từ tướng
cho đến báo, tức là từ đầu cho đến cuối. Đây là ý
nghĩa của “như thị bổn mạt cứu cánh đẳng” (tổng thể
cơ bản rốt ráo từ đầu đến cuối).
Tất cả
các pháp kể cả con người, và những liên hệ giữa các pháp
với nhau, điều này được thiết lập bởi quy luật gọi
là Thực tính của Toàn bộ Hiện hữu (Chư pháp thực tính).
Một trăm
cõi nêu trên đây vận hành theo mười cách mà luật Thập
Như thị nêu tỏ. Mười nhân một trăm là một ngàn; do đó
một trăm cái tâm có một ngàn chức năng.
BA THÀNH PHẦN
CỦA THẾ GIỚI:
Chúng ta đã
bàn về cái tâm của một cá nhân, nhưng chúng ta phải luôn
luôn nghĩ đến một cá nhân trong quan hệ với xã hội vì
không ai sống tách biệt với xã hội. Phật giáo dạy chúng
ta rằng có ba cách suy nghĩ về xã hội. Thứ nhất là ngũ
uẩn thế giới (go'on seken), hay thế giới trong đó một cái
tâm cá nhân gây một ảnh hưởng đến những người khác,
nói một cách khác, hoàn cảnh chung quanh theo nghĩa hẹp. Thứ
hai là chúng sanh thế giới (shuyò seken), hay thế giới mà các
chúng sanh ở đấy được coi là một thành phần. Nói một
cách tổng quát, đây là một xã hội hay một quốc gia. Thứ
ba là quốc độ thế giới (kukudo seken), hay thế giới gồm
nhiều xã hội hay nhiều quốc gia. Thế giới này thường được
xem là toàn bộ thế giới.
Tất cả
chúng ta tạo thành một phần của ba loại thế giới này,
mà cả ba cùng hiện hữu dù chúng ta muốn hay không muốn.
Một ngàn nhân ba là ba ngàn; như thế, mọi liên hệ trong ba
thành phần này của thế giới (tam thiên, sanzen) gồm trong
một thoáng ý nghĩ hay một niệm (nhất niệm, ichinen) của
một người trong đời sống hằng ngày của người ấy.Do
đấy mà có thuật ngữ Nhất niệm Tam thiên (ichinen sanzen)
tức Ba ngàn Thế giới trong Một Tâm.
Giả sử
ý tưởng sau đây đã xảy ra trong tâm một người: “Một
người đang tiến về phía tôi. Anh ta có một bộ mặt thật
đáng chán !”. Lại giả sử ý niệm sau đây được lóe trong
tâm một người: “Những bông hoa trên hàng rào đẹp biết
bao !” Khi chúng ta phân tích ý tưởng này, chúng ta nhận thấy
rằng ý tưởng này xảy ra bao gồm những ảnh hưởng dọc
đối với tâm chúng ta từ quá khứ xa xăm đến hiện tại
và những ảnh hưởng ngang của con người, xã hội và tất
cả những thứ khác trên thế giới này.
Ý tưởng
này cũng bao gồm bản tính cá nhân của người ta là thứ
đẩy đưa người ta rơi vào địa ngục hay trở thành một
vị Phật. Sự chán ghét bộ mặt của một người cũng là
một phần của cái bản tính đẩy đưa ta đến Phật quả,
cũng như sự lĩnh hội vẻ đẹp của một bông hoa cũng là
một phần của cái bản tính đẩy đưa ta rơi vào địa ngục.
Điều này có vẻ lạ kỳ, nhưng thực ra nó hoàn toàn tự
nhiên. Nếu sự chán ghét bộ mặt của một người phát triển
thành thành sự mong muốn đấm vào mặt anh ta thì ta sẽ rơi
ngay vào cái trạng thái tâm thức địa ngục. Nhưng nếu ta
nghĩ rằng “Ta cảm giác như thế là do ta thiếu tu tập. Ta
cảm thấy chán ghét vì ta có hạt giống chán ghét trong tâm.
Ta phải tu tập nhiều hơn để loại bỏ hạt giống (ảo tưởng)
này”, thì
ta sẽ đạt được trạngthái tâm thức của sự tự chứng
(Duyên giác).
Hơn nữa,
nếu một người quyết chắc rằng “Một người có bộ mặt
như thế chắc chắn phải có vấn đề lớn nào đó về cá
nhân ảnh hưởng đến đời sống hằng ngày của anh ta; ta
có bổn phận phải phổ biến Phật pháp thật rộng rãi để
đừng có ai mang một ấn tượng như thế”, thì người này
ở trong trạng thái tâm thức của một vị Bồ-tát và có
khả năng trở thành một vị Phật.
Khi ta nghĩ,
“Những bông hoa trên hàng rào đẹp biết bao !” thì sự
hâm mộ trong sáng của ta về vẻ đẹp của chúng phản ánh
cái trạng thái tâm thức của một vị Thánh là vị đã hòa
hợp với trời và đất . Nhưng nếu ta nghĩ, “Ta sẽ hái
một cành để mang về nhà và đặt nó trên bàn viết của
ta”, thì ta khởi sự rơi vào cõi ngạ quỷ (tham dục). Nếu
ta tức giận mà nghĩ rằng, “Không biết thằng cha kia giàu
đến mấy mà có được cái hàng rào đẹp vây quanh nhà hắn
như thế. Hẳn là hắn đang sống nhàn nhã trong khi ta phải
cứ húc đầu làm việc hồng hộc. Quỷ tha ma bắt hắn đi
!”, thế là ta đã hoàn toàn rơi vào cõi địa ngục.
HỌC THUYẾT
LÝ THUYẾT VỀ NHẤT NIỆM TAM THIÊN:
Vấn đề
nêu lên là chúng ta phải xét xem học thuyết Nhất Niệm Tam
Thiên như thế nào. Khi chúng ta hiểu học thuyết này chỉ
về mặt lý thuyết thôi thì nó không thể phát sinh cái khả
năng cứu người khác cũng như cứu chính chúng ta. Đây gọi
là học thuyết Lý thuyết về Nhất Niệm Tam Thiên (ri no ichinen-sanzen).
Không cứu độ người khác, chúng ta vô tình làm nô lệ cho
lý thuyết triết học của học thuyết này và có thể bị
ám ảnh bởi ý nghĩa về muôn vàn mối quan hệ mật thiết
trong mỗi hành động của chúng ta nhiều đến nỗi, có thể
nói, chúng trở thành bị tê liệt thần kinh. Chúng ta phải
chấp nhận học thuyết này bằng một thái độ rộng lượng,
lạc quan và tích cực.
Học thuyết
Nhất Niệm Tam Thiên dạy chúng ta rằng chúng ta có vô lượng
khả năng tiến lên hay lùi xuống. Nếu chúng ta quyết định
thực hành giáo lý của đức Phật thì chúng ta có thể tiến
lên vững vàng. Thứ nữa, học thuyết này khiến chúng ta hiểu
rõ rằng trong toàn vũ trụ, không có cá nhân nào hiện hữu
tách biệt với toàn thể và rằng tất cả mọi sự vật đều
có quan hệ lẫn nhau như những mắt lưới. Chỉ riêng sự
giải thoát cá nhân thì không phải là sự giải thoát thực
sự.
HỌC THUYẾT
THỰC HÀNH VỀ NHẤT NIỆM TAM THIÊN:
Khi chúng
ta hiểu hai giáo lý này không chỉ về lý thuyết mà cả bằng
sự thâm sâu của tấm lòng thì chúng ta không thể không nâng
mình lên và tu tập để giúp đỡ những người khác. Đây
gọi là học thuyết Thực hành về Nhất Niệm Tam Thiên (ji
no ichinen-sanzen). Nếu chúng ta không thông suốt học thuyết
Nhất Niệm Tam Thiên theo cách như thế thì học thuyết này
không trở thành một học thuyết sinh động.
Ngài Nichiren
đã giảng học thuyết Nhất Niệm Tam Thiên theo ý nghĩa cao
nhất. Ngài triển khai giáo lý của ngài từ học thuyết này,
nhưng cuối cùng, ngài vượt khỏi cách hiểu lý thuyết và
nhận ra rằng đối với các Phật tử, học thuyết này cần
phải đưa đến niềm tin và sự thực hành. Thật vậy, nếu
chúng ta có thể thông hiểu học thuyết Lý thuyết, chúng ta
cần biết rằng chúng ta phải lo toan khi nào còn một người
trên thế giới đang khổ đau. Không như sự lo lắng của một
thường nhân, đây là một sự lo lắng lớn, sự lo lắng của
đức Phật. Đây là ý nghĩa của biểu đề “Khi các chúng
sanh bị bệnh thì đức Phật đau đớn”. Đây cũng là ý
nghĩa của lời ngài Nichiren “Dù thực tế Nichiren không khóc,
nhưng Nichiren vẫn luôn tuôn nước mắt lo lắng cho những người
khác”.
Nếu chúng
ta phải lo lắng về điều gì, chúng ta nên có sự lo lắng
như của đức Phật và ngài Nichiren. Sự lo lắng như thế
khích lệ và làm cho chúng ta thấy rằng cuộc đời đáng sống.
Sau khi mọi sự được nói và được làm, không còn công việc
nào trên đời này có giá trị hơn sự cứu độ những người
đang khổ đau. Cải tiến các chúng sanh là công việc cao quý
nhất. Tâm thức của chính chúng ta đã tham gia vào công việc
này dù nhỏ nhoi như chúng ta - chỉ riêng cái tâm thức này
cũng làm sáng đời ta.
Bây giờ
chúng ta hãy trở lại phần chính văn của phẩm 7. Đức Phật
giảng tiếp như sau: “Đức Phật Đại Thông Trí Thắng giảng
Pháp Tứ Thánh đế và Pháp Thập nhị Nhân duyên giữa chư
Thiên, Người và tất cả đại chúng. Vô số vị không còn
bị ảnh hưởng bởi các hiện lượng biến đổi chung quanh
(luật vô thường); tâm chư vị đã thoát khỏi các lầm lạc
và chư vị không bị dao động vì bất cứ thứ gì ở chung
quanh, bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu. Cũng thế, ở
lần giảng Pháp thứ hai, thứ ba và thứ tư, đức Phật Đại
Thông Trí Thắng nêu lại Pháp Tứ Thánh đế và Pháp Thập
nhị Nhân duyên, và vô số chúng sanh đều đạt cùng một
trạng thái tâm [sự chứng ngộ của Tiểu thừa].
“Bấy giờ,
mười sáu vị vương tử thấy rằng vô số người đã thoát
khỏi các ảo tưởng, bèn rời bỏ gia đình và trở thành
Sa-di ('Sràmanera)(1) có các quan năng sắc bén, thông tuệ, minh
mẫn. Khi họ dần dần nhận được các giáo lý, họ trở
nên thông suốt. Họ hiểu được rằng mỗi giáo lý Tứ Thánh
đế và Thập nhị Nhân duyên là một con đường dẫn họ
đến giáo lý Đại thừa và rằng họ phải học giáo lý Đại
thừa và thực hành Bồ-tát đạo để đạt sự chứng ngộ
thực sự của đức Phật. Họ thỉnh cầu đức Phật Đại
Thông Trí Thắng giảng cho họ giáo lý về sự Toàn Giác [sự
chứng ngộ tối thượng của đức Phật]. Thế rồi các thần
dân của Chuyển luân Thánh vương cũng xin được xuất gia,
vua liền chấp thuận.
“Thế rồi
đức Phật Đại Thông Trí Thắng, theo thỉnh cầu của các
Sa-di, suốt hai vạn kiếp trôi qua, trước sự hiện diện của
nhiều đệ tử của Ngài, gồm Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cư sĩ,
đã giảng kinh Đại thừa tên là Diệu Pháp Liên Hoa, Pháp
mà chư Bồ-tát được giáo huấn và là Pháp được chư Phật
hộ niệm”.
Nhóm từ
“Pháp mà chư Bồ-tát được giáo huấn” nghĩa là “Pháp
dạy về Bồ-tát đạo”, và nhóm từ “Pháp được chư Phật
hộ niệm” ngụ ý rằng người ta không thể giảng Pháp một
cách cẩu thả, vì đức Phật hộ niệm Pháp (tức trông nom
và gìn giữ trong tâm). Cả hai biểu từ đều nhằm trỏ Diệu
Pháp Liên Hoa (Hoa sen của Pháp vi diệu).
Đức Phật
dạy tiếp: “Khi Ngài giảng kinh này, tất cả mười sáu vị
Sa-di, chỉ vì sự Toàn Giác, đều thọ trì, tu tập, thâm nhập
kinh và thuyết giảng kinh cho những người khác. Trong khi kinh
này đang được thuyết giảng, ngoài mười sáu vị Bồ-tát
Sa-di, trong đại chúng Thanh văn cũng có những người tin tưởng
và nhận rõ kinh, nhưng phần lớn các chúng sanh khác thì nuôi
dưỡng nghi ngờ rối rắm, quyết chắc rằng họ không thể
có khả năng thành Phật.
“Đức Phật
thuyết giảng kinh này trong tám ngàn kiếp. Khi đã thuyết giảng
xong, Ngài vào một căn phòng vắng lặng mà nhập Thiền định
trong tám mươi bốn ngàn kiếp. Bấy giờ mười sáu vị Bồ-tát
Sa-di biết rằng đức Phật đã nhập định, các vị nghĩ
đến những gì sẽ xảy ra nếu các vị không thay mặt đức
Phật để giảng Pháp. Mỗi vị bước lên một Pháp tòa và
tùy theo khả năng của những người nghe mà thuyết giảng
rộng cho họ về kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Mỗi vị chỉ bày,
thuyết dạy, làm lợi lạc, làm hoan hỷ họ, khiến họ phát
triển tâm đưa đến sự Toàn Giác”.
Ở đây,
tưởng cũng cần giải thích ngắn gọn về nhóm từ “chỉ
bày, thuyết dạy, làm lợi lạc, làm hoan hỷ họ”. Các từ
này trỏ thứ tự của sự giảng Pháp. Trước hết, phải
chỉ bày cái ý nghĩa tổng quát của việc dạy người. Rồi
khi biết rằng họ đã sanh lòng mong mỏi nhập vào giáo lý
thì phải dạy ý nghĩa sâu xa của giáo lý. Kế đến, thấy
rằng họ đã hiểu giáo lý thì phải đưa họ đến việc
thực hành và đạt lợi ích của giáo lý. Cuối cùng, phải
làm sao để làm cho họ hoan hỷ mà thọ trì giáo lý.
Đức Phật
dạy tiếp: “Đức Phật Đại Thông Trí Thắng xuất định
sau khi tám mươi bốn ngàn kiếp trôi qua, Ngài bước lên Pháp
tòa và yên lặng ngồi trên đó.”
“Ngài nói
với toàn thể đại chúng rằng: "Thật hiếm có những Bồ-tát
Sa-di như mười sáu vị này, linh lợi về các quan năng và
sáng suốt về trí tuệ. Họ đã đảnh lễ vô số đức Phật,
vẫn luôn tu tập đạo hạnh với chư Phật này, đã thọ trì
Phật trí, và đã khai thị Phật trí cho các chúng sanh, khiến
các chúng sanh nhập vào Phật trí. Tất cả các ông hãy luôn
thân cận và cúng dường họ. Tại sao ? Vì nếu các ông làm
như thế thì tất cả những người đang ở trong trạng thái
tâm thức của Thanh văn, Duyên Giác và Bồ-tát đều sẽ đạt
Toàn Giác !"”.
Thế rồi
đức Phật nói với tất cả các Tỳ-kheo rằng: “Mười sáu
vị Bồ-tát này vui thích giảng kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Vô
số các chúng sanh được chư Bồ-tát này giáo hóa, tái sanh
kiếp này sang kiếp khác, tất cả đều theo như Bồ-tát này
mà nghe Pháp, tất cả đều tin và nhận hiểu Pháp. Vì thế,
họ gặp được bốn vạn ức đức Phật, Thế Tôn và đến
nay vẫn không dứt”.
Một số
người cho rằng vì phẩm này chỉ là bài giảng thứ bảy
của đức Phật trong Kinh Pháp Hoa và đức Phật Thích-ca-mâu-ni
chưa giảng hết kinh, cho nên nếu Ngài bảo rằng đức Phật
Đại Thông Trí Thắng và mười sáu vị Bồ-tát đã giảng
Kinh Pháp Hoa trong thời quá khứ thì quả là kỳ quặc. Sở
dĩ có ý nghĩ sai lầm này là do người ta nghĩ rằng kinh Diệu
Pháp Liên Hoa là nhan đề của kinh đặc biệt này, như nhan
đề của một quyển sách.
“Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa” thực sự nhằm trỏ ý niệm sau đây: “Chân
lý tối linh diệu ở trong tâm của các thường nhân đang sống
trong thế giới lầm lạc này nhưng không bị ô nhiễm vì các
ác hạnh của họ, giống như hoa sen không bị ô nhiễm vì
bùn mà trong đó nó mọc lên, và chân lý này đưa họ đến
Phật quả. Chân lý ấy luôn luôn là một; không thể nào chia
nó ra thành hai hay ba. Do đó nếu đức Phật Thích-ca-mâu-ni
bảo rằng đã có lần đức Phật Đại Thông Trí Thắng cùng
mười sáu vị Bồ-tát ấy giảng kinh Pháp Hoa thì đấy là
điều hoàn toàn tự nhiên. Chân lý đã hiện hữu rõ ràng
từ quá khứ vô lượng trước khi đức Phật Thích-ca-mâu-ni
xuất hiện ở thế gian, và sự chứng ngộ được thể hiện
bởi một vị thực sự giác ngộ không thể hiện hữu bên
ngoài cái chân lý duy nhất. Do đấy mà không có gì đáng ngạc
nhiên khi đức Phật bảo rằng hàng trăm ngàn người đã giảng
về chân lý trong các đời trước của họ. Từ lời nói như
thế của đức Phật, ta có thể thâu nhận rõ ràng ý định
của Ngài nhằm khiến người ta thông hiểu rằng chân lý là
một.
Rồi đức
Phật dạy: “Này các Tỳ-kheo ! Hãy nghe kỹ lời Ta ! Giờ
đây Ta nói với các Ông một vấn đề rất quan trọng: Mười
sáu Sa-di ấy đều đạt Toàn Giác, và giờ đây họ đang thuyết
Pháp ở khắp mọi xứ, và khắp mọi hướng”. Sau đó Ngài
nêu danh hiệu và quốc độ của từng vị Phật. Vị Phật
thứ chín có danh hiệu quen thuộc: “Một trong hai đức Phật
ở phương Tây tên là A-di-đà...” Nhưng đức Như Lai A-di-đà
không đảm trách việc giáo huấn chúng ta ở trong thế giới
này.
Đức Phật
tuyên bố: “Vị thứ mười sáu chính là Ta, đức Phật Thích-ca-mâu-ni,
đã thành tựu Vô thượng Bồ-đề trong cõi Ta-bà”. Trước
tiên, Ngài tiết lộ ở đây lịch sử của chính Ngài và nguyên
nhân của sự chứng ngộ sau cùng của Ngài.
Chúng ta phải
lưu ý đến lời tuyên bố rằng Thích-ca-mâu-ni là vị Phật
đã đạt Toàn Giác trong cõi Ta-bà. Chỉ đức Phật là vị
Đạo sư vĩ đại của con người ở cõi Ta-bà này. Ở đây,
chúng ta phải nhớ lại con người Thích-ca-mâu-ni như là vị
Phật lịch sử quan trọng và độc tôn đối với chúng ta.
Đức Như
Lai Thích-ca-mâu-ni, đức Phật Bổn Nguyên (Bổn Phật), như
là nguyên nhân đầu tiên của đức Phật Hóa hiện (Hóa Phật)
này, là đức Phật của vô thỉ vô chung, xuất hiện ở mọi
nơi, vào mọi lúc trong vũ trụ. Hai đức Phật này vốn là
một, nhưng ý nghĩa lại khác nhau. Nếu không hiểu điều này
thì chúng ta sẽ không thể nắm được lời dạy sau đây của
đức Thích-ca-mâu-ni.
Đức Phật
giảng tiếp: “Này các Tỳ-kheo, khi chúng Ta còn là Sa-di, mỗi
chúng Ta đều giảng dạy và giáo huấn vô số chúng sanh, và
những ai đã nghe Ta giảng Pháp đều đạt Toàn Giác. Trong
những chúng sanh này, một số vẫn còn ở cấp độ Thanh văn.
Ta vẫn mãi giáo huấn họ về sự Toàn Giác, khiến cho tất
cả họ sẽ nhờ Pháp này mà dần dần đi vào Phật đạo.
Đây là vì Phật trí vốn có ý nghĩa sâu xa, khó tin và khó
hiểu khi được giảng ngay về Phật trí. Do đó, từ ý nghĩa
cạn của giáo lý này, người ta dần tiến đến ý nghĩa sâu.
Tất cả các chúng sanh này, vô số như cát sông Hằng, đã
được Ta giáo huấn lúc bấy giờ, này các Tỳ-kheo, chính
là các Ông, và sẽ là các Thanh văn đệ tử của Ta trong các
cõi thời vị lai sau khi Ta nhập diệt”.
Quan niệm
của chúng ta về đức Phật sẽ lầm lẫn nếu chúng ta không
hiểu sự khác nhau giữa đức Như Lai Thích-ca-mâu-ni như là
đức Phật lịch sử và đức Như Lai Thích-ca-mâu-ni như là
đức Phật Bổn Nguyên. Sự khác nhau này sẽ được giải
thích kỹ càng ở phẩm 16, “Như Lai Thọ Lượng” (Sự sống
[vĩnh cửu] của đức Như Lai)
Đức Phật
dạy tiếp: “Sau khi Ta nhập diệt, sẽ có những đệ tử
của Ta không nghe kinh, không biết và không hiểu con đường
mà chư Bồ-tát theo đuổi, sẽ nhờ các công đức của chính
mình mà mang ý niệm về tịch diệt và nhập vào điều mà
họ tưởng là Niết-bàn. Nhưng dù họ có thể đi đến những
cảnh vức nào khác, Ta cũng sẽ vẫn là Phật dù mang nhiều
danh hiệu khác nhau. Những người này, dù mang ý niệm tịch
diệt và nhập vào điều mà họ gọi là Niết-bàn, tại các
cảnh vức này họ cũng vẫn mong cầu Phật trí và sẽ được
nghe kinh này. Chỉ nhờ vào Phật thừa họ mới đạt được
Niết-bàn thực sự.
Không có
thừa nào ngoài giáo lý phương tiện của Như Lai”.
Đây là một
giáo lý rất quan trọng, Phật vị, tức là sự đạt đến
trạng thái tâm thức lý tưởng như là một người, không
thể thể nghiệm bằng sự tu tập chỉ trong suốt một đời
hay trong đời sau của ta. Một số người có thể thành Phật
trong đời này, nhưng những người như thế vốn đã tu tập
Phật đạo trong nhiều đời trước. Như đã nói nhiều lần
trước đây, vì đời sống của con người là vĩnh cửu, dù
cho con người không thể đạt được trạng thái tâm thức
của một vị Phật trong đời này, nhưng nếu người ta cứ
tiếp tục nghe Phật pháp trong các đời sau và hiến mình cho
con đường cứu độ người khác của Bồ-tát thì người
ta sẽ có thể thành Phật. Đối với một người đã tiếp
xúc được với Phật đạo trong đời này, một nguyên nhân
thứ yếu (duyên) của sự đạt Phật quả được tạo nên.
Một người có thể thành tựu hoàn toàn việc thực hành Bồ-tát
đạo trong đời này thì người ấy vốn đã đi qua cái trạng
thái tâm thức của Thanh văn hay Duyên giác trước kia rồi.
Đối với người đã có thể gặp gỡ kinh Pháp Hoa, một nguyên
nhân thứ yếu của sự đạt Phật quả trong tương lai đã
được nảy sinh. Vì thế, người ấy cần thọ trì kinh này
liên tục cho đến khi chết và cả sau đó nữa.
“Này các
Tỳ-kheo, Như Lai không sống trên đời này đến vô lượng.
Sau khi thuyết giảng tất cả các giáo pháp, vào một lúc nào
đó, Ngài sẽ lìa thế gian mà nhập Niết-bàn. Khi Ngài tự
biết thời Niết-bàn đã đến và hội chúng đã thanh tịnh,
vững vàng trong niềm tin và nhận thức, thông suốt Không Pháp
và thâm nhập Thiền định, Ngài sẽ tụ hội tất cả các
Bồ-tát và Thanh văn mà giảng kinh này cho họ.
“Trên
đời không còn thừa thứ hai nào đưa đến tịch diệt; chỉ
có một Phật thừa Duy nhất để đạt đến tịch diệt. Phương
tiện của Như Lai thâm nhập vào bổn tánh của tất cả chúng
sanh và biết rằng các chúng sanh đang miệt mài với những
thú vui nhỏ nhặt và bị ràng buộc vào ngũ dục. Ngài vì
họ mà khéo léo giảng về Niết-bàn cho họ, khiến họ có
thể gỡ bỏ các ảo tưởng và đạt sự an tịnh tâm thức.
Đây là giáo lý thích hợp nhất đối với những người ở
cấp độ như thế, và nếu họ nghe giáo lý này thì họ sẽ
tin tưởng mà thọ nhận. Để các Ông dễ hiểu hơn, này các
Tỳ-kheo, ta sẽ kể cho các Ông nghe Ẩn dụ sau đây”.
ẨN DỤ VỀ
THÀNH PHỐ ĐƯỢC HÓA HIỆN:
Thế rồi
đức Phật kể một ẩn dụ về Thành phố được Hóa hiện,
ẩn dụ thứ tư trong bảy ẩn dụ trong kinh Pháp Hoa. Nội dung
ẩn dụ này như sau. Giả như có một vùng đáng sợ, rộng
năm trăm do-tuần, một con đường nguy hiểm, khó khăn chạy
qua vùng ấy, cách xa trú xứ của người. Giả như có một
đoàn người, gồm những kẻ đi chậm chạp và những người
thiếu kiên nhẫn, đã mệt mỏi trên đường đi, bèn nói với
người dẫn đạo:
“Chúng
ta kiệt sức hoàn toàn và sợ hãi. Chúng ta không thể đi xa
hơn nữa; đường trước mặt còn xa; chúng ta hãy quay trở
về”.
Người dẫn
đạo vốn nổi tiếng về sự khéo léo trong việc dẫn dắt
người ta theo nhiều trường hợp, nghĩ rằng: “Những người
này thật đáng thương. Sao họ lại có thể bỏ đi một kho
tàng lớn như thế khi nó đang ở trong tầm tay, mà lại muốn
quay trở về ? Họ cần phải kiên nhẫn thêm chút nữa”.
Nghĩ thế, người ấy hóa hiện một thành phố rộng hơn ba
trăm do-tuần ở giữa con đường nguy hiểm ấy và nói với
đoàn người: “Đừng sợ và đừng quay trở về. Đây là
một thành phố lớn mà các ông cố thể nghỉ ngơi và thoải
mái. Nếu các Ông vào thành phố này thì các Ông sẽ được
nghỉ ngơi ngay; và nếu sau đó các Ông có thể tiến tới
chỗ Kho báu thì cứ đi tiếp”.
Thế rồi
đoàn người mệt mỏi ấy rất vui mừng mà tiến nhập vào
thành phố được hóa hiện ấy. Khi người dẫn đạo nhận
thấy đoàn người đã được nghỉ ngơi hoàn toàn, ông ta
làm cho thành phố được hóa hiện ấy biến mất và nói với
họ: “Này các Ông, tất cả hãy tiến lên, chỗ Kho báu ở
gần đây. Ta vừa hóa hiện thành phố này chỉ để cho các
Ông nghỉ ngơi trong đó mà thôi”.
Người dẫn
đạo khích lệ đoàn người như thế, và sau cùng ông thành
công trong việc dẫn họ đến chỗ Kho báu.
Sau khi kể
xong ẩn dụ này cho các Tỳ-kheo, với khẳng định mở đầu
“Như Lai cũng vậy”, đức Phật liền giải thích ý nghĩa
của ẩn dụ này. Là vị Đạo Sư vĩ đại, đức Như Lai đã
làu biết những phiền não, xấu ác, hiểm nguy và cái quá
trình triền miên mà các chúng sanh phải thoát khỏi. Nếu họ
chỉ nghe Phật thừa Duy nhất thì họ sẽ không muốn nhìn
thấy đức Phật, cũng không mong được đến với Ngài. Họ
sẽ nhụt chí và nghĩ: “Phật đạo quá trường viễn; phải
chịu khổ nhọc lâu dài và tinh cần mạnh mẽ mới có thể
đạt cứu cánh”. Đức Phật biết rằng họ nhụt chí và
kém trí nên bằng phương tiện thiện xảo trong lúc họ đang
tiếp tục con đường, nhằm giúp cho họ một chỗ nghĩ ngơi,
bèn giảng về hai cấp độ Niết-bàn, tức là sự chứng ngộ
của Thanh văn và sự chứng ngộ của Duyên giác. Khi người
ta đã đạt được sự an tịnh tâm như thế, đức Phật bèn
khiến họ tiến đến sự chứng ngộ tối thượng, Phật thừa
Duy nhất (Nhất Phật thừa). Dù chỉ có một Phật thừa Duy
nhất chứ không có thừa nào khác, Ngài vẫn nói đến hai
thừa, Thanh văn và Duyên giác để cho họ chỗ nghỉ ngơi trên
đường, cũng giống như người dẫn đạo để cho đoàn người
nghỉ ngơi, đã hóa hiện ra một thành phố lớn và sau khi
đoàn người đã nghỉ ngơi, nói với họ:
“Chỗ Kho
báu ở gần đây; thành phố này không phải là thật đâu,
đấy chỉ là do ta hóa hiện ra thôi”. Dù hai thừa đều linh
diệu như là những tầng bậc (phương tiện thiện xảo) dẫn
chúng sanh đến Phật thừa Duy nhất, chúng ta cũng từ ẩn
dụ này mà nhận ra rằng chúng ta không nên cứ ở trong giai
đoạn hai thừa này.
Phẩm 7 chấm
dứt bằng một đoạn kệ trong đó đức Phật trùng tuyên
giáo lý này.