Phẩm
6
THỌ
KÝ
Như đã được
giải thích, “thọ ký” (nói trước cho biết) nghĩa là đức
Phật đảm bảo với chúng ta rằng “Các người chắc chắn
sẽ thành Phật”. Thuật ngữ “thọ ký” (juki) gồm ba ý
nghĩa rất quan trọng và tinh tế mà chúng ta cần hiểu. Điểm
quan trọng thứ nhất là đức Phật Thích-ca-mâu-ni không nói
“Các người là Phật”, mà nói “Các người sẽ thành Phật”.
Theo như đức Phật nhìn thấy, tất cả các chúng sanh đều
có Phật tính, và bất cứ chúng sanh nào cũng nhất định
sẽ trở thành một vị Phật. Nhưng nếu đức Phật chỉ nói:
“Các người là Phật” thì sự khẳng định này sẽ bị
các thường nhân hiểu nhầm nghiêm trọng. Có thể họ sẽ
theo lời nói ấy mà hiểu rằng họ đã toàn hảo như Phật
trong khi họ đang còn ở trạng thái ảo tưởng, và sẽ có
ý tưởng rằng họ có thể thành Phật mà chẳng cần một
cố gắng nào, giống như họ đang bước lên cầu thang vậy.
Sự thọ
ký mà đức Phật ban cho thường được so sánh với một giấy
phép nhập trường, và sự so sánh này khá đúng. Đấy không
phải là một văn bằng mà chỉ là một giấy phép nhận cho
học. Sự đảm bảo này nghĩa là “các vị đã đỗ kỳ thi
nhập học của trường đại học cao nhất, trường sẽ dẫn
các vị đến học vị Phật quả. Nếu các vị học ở đây
vài năm, chắc chắn các vị sẽ tốt nghiệp và sẽ thành
Phật”. Có được sự đảm bảo này, sau này các thường
nhân phải tu tập nhiều hơn nữa và bao giờ cũng phải nỗ
lực mạnh hơn để thực hiện mục đích ấy.
Thật là
điều sung sướng cho các thường nhân khi được chấp nhận
vào trường đại học của đức Phật - được đức Phật
thọ ký, “Các người sẽ thành Phật”. Trong phẩm 3 của
kinh Pháp Hoa, ngài Xá-lợi-phất là vị Thanh văn đầu tiên
được đức Phật thọ ký và tự nhiên là tất cả đại
chúng chứng kiến ngài Xá-lợi-phất được thọ ký như thế
thì vô cùng hỷ lạc.
Niềm hỷ
lạc của đại chúng cũng là niềm hỷ lạc của chúng ta.
Chúng ta đã được chấp nhận vào trường đại học của
đức Phật; chúng ta sẽ còn hiểu rõ sự việc này hơn nữa
khi chúng ta bàn về phẩm 8 “Ngũ Bách Đệ tử Thọ ký”
(năm trăm vị đệ tử được thọ ký), và phẩm 9 “Thọ
Học, Vô học nhân Ký”(Thọ ký cho các vị còn phải học,
tức hữu học; và các vị không còn phải học, tức vô học).
Những ai chân thành tin kinh Pháp Hoa và thành tín tu tập tinhthần
của kinh thì vốn đã được chấp nhận vào trường đại
học phổ quát cao nhất, trường của Phật vị. Biết như
thế, chúng ta cảm thấy tự hào biết bao và cuộc đời ta
trở nên đáng giá biết bao !
Niềm vui
và sự tự hào tự nhiên tuy thế vẫn không bao giờ đưa đến
sự tự mãn. Nếu chúng ta làm cho cảm giác này thành niềm
vui cá nhân của chúng ta mà thôi thì điều ấy sẽ vô nghĩa.
Đây là điểm quan trọng thứ hai của sự thọ ký của đức
Phật. Ở cuối phần kệ thứ hai của phẩm 6, các ngài Mục-kiền-liên,
Tu-bồ-đề, Ca-chiên-diên và những vị khác cùng nói: “Kính
bạch bậc Đại Hùng, Thế Tôn Ngài bao giờ cũng muốn
làm an tịnh thế giới; Xin hãy ban thọ ký cho chúng con,...”
Điều mà chư vị đang nói là: “Đức Phật luôn luôn mong
muốn làm cho tất cả mọi người trên thế giới cảm thấy
an ổn. Chúng con cũng mong được thành Phật và mong được
làm cho họ sống an lạc. Xin hãy thọ ký cho chúng con”. Các
vị ấy không muốn nói rằng chỉ riêng họ được cứu độ
và được thành Phật hay chỉ riêng họ thành Phật và được
an lạc trong tâm. Mục đích cuối cùng của chư vị là làm
cho hết thảy mọi người trên thế giới được hạnh phúc.
Đây là điểm quan trọng nhất. Chúng ta phải hiểu rằng ý
định thực sự của chư vị đệ tử này khi tha thiết cầu
xin đức Phật thọ ký rằng họ sẽ thành Phật nằm trong
sự việc họ muốn đạt được giải thoát và năng lực như
thế để có thể làm cho người khác hạnh phúc. Nếu chúng
ta không nhận thức rõ điều này thì có thể chúng ta có ấn
tượng sai lầm rằng họ chỉ cầu xin đức Phật sự chứng
ngộ và an lạc tâm linh cho riêng họ mà thôi.
Điểm quan
trọng thứ ba của sự thọ ký của đức Phật là các đệ
tử của đức Phật vốn đã phải hiểu rằng họ sẽ thành
Phật nhờ các giáo lý mà đức Phật đã giảng cho họ. Do
đó, một số người tự hỏi tại sao những vị đệ tử
này cứ khăng khăng cầu xin đức Phật thọ ký. Đây là chỗ
khác biệt giữa tôn giáo và tri thức. Phật giáo là một giáo
lý mà chúng ta có thể hiểu bằng lý luận. Về tri thức,
ta có thể hiểu một sự vật nào đó bằng lý luận là đủ,
nhưng trong tôn giáo, hiểu bằng lý luận suông mà thôi thì
không đủ. Khi được hiểu, tri thức phải truyền cảm hứng
cho con người. Nó phải phát sinh ra niềm tin và niềm tin sẽ
tự nhiên khiến cho người ta muốn hành động vì lợi ích
của những người khác và của xã hội nói chung.
Khi sự hiểu
biết phát triển thành sự phục vụ xã hội và những người
khác thì chúng ta có thể gọi đó là niềm tin hay tôn giáo.
Một tôn giáo thực sự thì có loại năng lực này. Cảm hứng,
nền tảng của năng lực này do đâu mà có ? Cảm hứng không
do lý thuyết mà có nhưng do sự tiếp xúc của tinh thần một
người với tinh thần của người khác. Khi chúng ta gặp một
người có tư chất cao và lắng nghe lời người ấy nói thì
tâm chúng ta sẽ cảm thấy hoan hỷ. Chúng ta quyết tâm noi
gương người ấy dù có phải hy sinh tính mạng. Khả năng
cho chúng ta quyết định như thế là sự vĩ đại của đức
Thích-ca-mâu-ni như là vị Phật Hóa thân. Khi chúng ta xem lời
dạy của đức Phật Thích-ca-mâu-ni, mà chúng ta tôn xưng là
vị chúng sanh lý tưởng, là chân lý phổ quát thì chúng ta
sẽ nhận được một năng lực lớn lao vượt qua ngoài sự
hiểu biết suông và cho chúng ta sức mạnh và nâng cao chúng
ta.
Đây là lý
do tại sao các đệ tử của đức Phật thiết tha muốn nghe
Ngài dạy: “Các người sẽ thành Phật” trực tiếp từ
miệng của Ngài. Lời ấy là một khích lệ lớn hơn cả sự
ủng hộ của mười triệu người. “Xin Ngài dạy cho chúng
con một lời ! Nếu Ngài nói điều gì với chúng con, chúng
con sẽ hiến mình cho giáo lý của Ngài và sẽ theo giáo lý
ấy đến cùng. Chúng con sẽ không bao giờ bỏ bê việc tu
tập. Vì vậy xin Ngài hãy dạy cho chúng con một lời!” Các
vị đệ tử cầu xin đức Thích-ca-mâu-ni như vậy.
Thái độ
chân chất và tin tưởng này biểu lộ niềm tin thực sự.
Thể cách cầu xin của các vị đệ tử ấy là một tấm gương
tốt cho cuộc sống tôn giáo của chúng ta, cho nên, chúng ta
cần nhớ kỹ nó. Sự hiểu biết giáo lý của đức Phật
do đọc sách và nghe giảng thì còn nông cạn. Nếu chúng ta
không có cái cảm giác được truyền cảm hứng hay cảm giác
lao thẳng vào đôi cánh tay đại từ bi của đức Thích-ca-mâu-ni
thì sự hiểu biết của chúng ta sẽ không tạo nên sức mạnh
để cứu độ những người khác cũng như tự cứu độ mình.
Thờ tượng đức Phật và niệm tên kinh Pháp Hoa không chỉ
là sự thờ thần tượng và niệm thần chú suông. Mục đích
của những hành động này không gì khác hơn là hòa mình vào
tâm của đức Thích-ca-mâu-ni là vị mà ta tôn xưng làm vị
Đạo sư, bậc cha mẹ và qua Ngài mà hòa mình với sự đại
cứu độ của đức Bổn Phật.
Nếu chúng
ta nhớ kỹ ba điểm cơ bản này của sự thọ ký của đức
Phật khi đọc phẩm 6 thì chúng ta có thể hiểu rõ giáo lý
của đức Phật trong phẩm này. Bây giờ chúng ta hãy chuyển
sang kinh văn của phẩm này.
Sau khi đọc
bài kệ dài của phẩm 5, đức Thế Tôn nói với đại chúng
như sau: “Đệ tử này của ta là Đại Ca-diếp đã hiểu
giáo lý của đức Phật và đã quyết tâm tu hạnh Bồ-tát
vì mọi người trên đời, trong đời vị lai sẽ đảnh lễ
vô số đức Phật và sẽ thuyết giảng rộng rãi vô lượng
đại Pháp của chư Phật. Khi mang thân cuối cùng, ông ta sẽ
thành một vị Phật tên là Quang Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh
Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng
Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn,
quốc độ tên là Quang Đức, kiếp tên là Đại Trang Nghiêm.
Thọ mạng của đức Phật này sẽ là một trăm hai mươi ngàn
tuổi, Chánh pháp của Ngài sẽ trụ hai trăm ngàn năm trong
đời và Tượng pháp cũng sẽ trụ hai trăm ngàn năm”.
Trước đó,
ngài Ca-diếp bày tỏ niềm xúc động sâu xa và lòng biết
ơn lớn lao đối với giáo lý của đức Phật qua Ẩn dụ
về người con trai cùng khổ, đức Thế Tôn hiểu rằng ngài
Ca-diếp đã hiểu hầu hết giáo lý của Ngài, đã tin tưởng
sâu sắc và thành tựu quyết tâm. Điều này cũng có thể
đã được tỏ lộ trong lời đức Phật nói với ngài Ca-diếp
ở đầu phẩm 5: “Tốt lắm ! Tốt lắm ! Này Ca-diếp, Ông
đã khéo tuyên thuyết công đức thực sự của Như Lai. Các
công đức này quả đúng như Ông nói”.
Khi đức
Phật báo trước sự chứng đạt Phật vị (thọ ký) cho hết
thảy đại chúng, Ngài nêu rõ tên của các vị Phật tương
lai, quốc độ và thời kiếp của chư vị. Ngài ban mười
Phật hiệu cho Tôn giả Ca-diếp, khởi đầu bằng danh hiệu
“Quang Minh Như Lai”. Mười danh hiệu của đức Phật chứng
tỏ rằng Tôn giả gồm đủ năng lực công đức. Do đó, ở
đây đức Phật khẳng định rằng Tôn giả Ca-diếp nhờ tu
tập mà có thể thành Phật như đức Thích-ca-mâu-ni. Tóm lại,
Ngài nêu rõ rằng hễ ai thực sự hiểu được chân lý của
đức Phật thì sẽ trở thành một vị Phật y như Ngài. Từ
điều này, ta biết được rằng đức Phật Thích-ca đã đặt
vào chân lý một giá trị cao vời biết bao !
Đức Phật
giảng tiếp: “Quốc độ của vị ấy là Quang Đức, sẽ
đẹp đẽ, không có rác rưởi, mảnh sành, gai góc và phân
uế; mặt đất bằng phẳng, không có chỗ gập ghềnh, không
có hầm hố hay gò đống, đất bằng lưu ly, được kẻ hàng
bằng các cây báu và dây bằng vàng để định lối đi, được
rải hoa quý, khắp nơi đều thanh tịnh. Trong quốc độ ấy,
vô lượng Bồ-tát tu tập Phật pháp cùng với vô số Thanh
văn. Nơi ấy không có Ma sự, và dù có Ma và Ma dân, chúng
cũng thảy đều hộ trì Phật pháp”.
Miêu tả
này minh họa trạng thái lý tưởng của thế giới. Phân nửa
đầu giống như sự miêu tả một thành phố đẹp trong một
đất nước phát triển cao của thế giới ngày nay, nhưng phần
sau thì lại tạo ấn tượng về một cảnh giới hoàn toàn
đối lập với thế giới ngày nay. Thật vậy, thế giới đã
tiến bộ đáng kể về mặt vật chất trong khi nó chỉ tiến
bộ chậm chạp về mặt tinh thần. Sự miêu tả của đức
Phật nêu tỏ cho chúng ta thấy rằng đây là một thiếu sót
lớn lao của xã hội hiện đại. Nhận ra được điều này,
làm sao chúng ta có thể không cùng nhau quảng bá tinh thần
kinh Pháp Hoa trong đám quần chúng càng đông càng tốt với
quyết tâm mạnh mẽ là thực hiện càng sớm càng tốt ngay
trên đời này cái cảnh giới lý tưởng mà đức Phật đã
nêu trỏ ?
MA VÀ MA SỰ:
Chúng ta phải
nhận rõ lời dạy sau đây của đức Phật: “Nơi ấy không
có Ma sự, và dù có Ma và Ma dân, chúng cũng thảy đều hộ
trì Phật pháp”. “Ma” (Màra) gồm tất cả các chúng sanh
ngăn trở con đường chân chánh. “Ma dân” nghĩa là những
kẻ đi theo Ma. Chúng có năng lực lớn đến nỗi chúng có
thể xuất hiện liên tục trước mắt những người nỗ lực
thực hiện chánh đạo, cám dỗ và quấy rối họ. Ma dân âm
mưu gây trở ngại và hăm dọa những người nỗ lực tu theo
chánh đạo. Chúng có thể giống như một bọn côn đồ hay
lưu manh. Sức mạnh của bài nói và bài viết có ác tâm là
một tên Ma còn lớn hơn nữa.
Một tên
Ma và Ma dân của nó xuất hiện trước đức Phật Thích-ca
khi Ngài đang nhập định vào lúc Ngài sắp giác ngộ, và cố
đưa ra nhiều trở ngại cho con đường của Ngài. Nếu Ngài
là một thường nhân thì hẳn Ngài đã chịu khuất phục ngay.
Tuy nhiên, Ngài đã chống cự được những cám dỗ, những
ngăn ngại và những đe dọa mà bọn Ma thử thách Ngài, và
thế là sự giác ngộ của Ngài trở thành không thể lay chuyển.
Xét từ những kết quả mà đức Phật Thích-ca đã thành tựu,
ta cũng có thể bảo những trở ngại do Ma gây ra đã thúc
đẩy sự giác ngộ của Ngài.
“Ma” có
hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất là “Ma trong thân thể”, tức là
những thúc đẩy của bản năng hay những ý niệm xấu quấy
nhiễu cái tâm chân chánh của ta. Nghĩa thứ hai là “Ma ở
ngoài thân thể”, tức là sự cám dỗ hay sức ép từ bên
ngoài.
Trong một
quốc độ lý tưởng như Quang Đức, có những người tu tập
Phật pháp hay chân thành cầu tìm Phật pháp. Dù những người
như thế đôi khi bị “Ma trong thân thể” cám dỗ, tức là
“một ý niệm hay một thúc đẩy bản năng xấu, sự cám
dỗ như thế thúc đẩy ý nguyện cầu tìm Đạo của họ.
Kết quả là “Ma trong thân thể hộ trì Phật pháp. Vì thế
dù có Ma và Ma dân, không có Ma sự tồn tại trong quốc độ
lý tưởng này.
“Ma
ở ngoài thân thể” nghĩa là lời nói và hành vi của người
cám dỗ, phê phán, quấy rối và đe dọa những ai tận lực
tu tập giáo lý của đức Phật và quảng báo giáo lý ấy.
Người ta thường bảo: “Sự cùng cực trong cái xấu góp
phần tạo sự cùng cực trong cái tốt”. Trong một quốc độ
lý tưởng như Quang Đức, ngay cả những người xấu cùng
cực cũng thay đổi hoàn toàn và dùng năng lực của họ để
hộ trì Phật pháp. Vì tất cả các loài hữu tình đều vốn
có Phật tính, nên một khi một Ma nhân nhận ra được Phật
tính của chính mình thì nổi bật hơn một người tốt nhưng
yếu đuối.
Đức Phật
dạy chúng ta rằng “Ma”, hoặc ở trong hoặc ở ngoài thân
thể, phô bày khả năng gây hại của nó khi nó sống trong
ảo tưởng. Nhưng nếu nó hiểu được con đường chân chánh
thì nó sẽ thực hiện ngay các khả năng hành thiện của nó.
Do đó chúng ta không nên nghĩa đến Quang Đức như là một
quốc độ lý tưởng quá xa vời với thế giới mà ta đang
sống, nhưng nên hiểu nó theo những vấn đề tinh thần trong
đời sống tôn giáo của chính chúng ta và như là những vấn
đề thực tiễn trong xã hội của chính chúng ta. Hiểu điều
này, chúng ta tận lực làm tỏ ngộ các “Ma” và loại bỏ
các “Ma sự”, và hơn nữa, chuyển đổi các “Ma” này
sao cho chúng thể hiện các khả năng thiện lành của chúng.
Chúng ta làm
sao để có thể thực hiện điều này? Có một con đường
mở ra cho chúng ta: cầu tìm giáo lý của đức Phật, tin theo
và thực hành giáo lý ấy. Nếu chúng ta làm như thế thì sẽ
không có Ma sự nào ở trong xã hội. Các Ma sự nắm níu tâm
và thân ta sẽ biến mất như sương mù trước nắng sớm và
cuộc đời vô lượng của ta sẽ sáng rỡ trong sự thanh tịnh
của nó.
Thế rồi
đức Thế Tôn muốn trùng tuyên giáo lý của Ngài, Ngài lặp
lại bằng kệ và chấm dứt bằng việc thọ ký cho ngài Ca-diếp.
Bấy giờ ngài Đại Mục-kiền-liên, ngài Tu-bồ-đề, ngài
Đại Ca-chiên-diên và những vị khác rúng động chắp tay
và nhất tâm ngước nhìn đức Thế Tôn, không hề rời mắt,
cùng cất tiếng: “Kính bạch đấng Đại Hùng, bậc Thế
Tôn là vị có thể loại bỏ mọi xấu xa” Kính bạch đức
Phật là vị có năng lực dẫn dắt mọi người ! Xin Ngài
vì lòng từ bi đối với chúng con mà ban cho chúng con lời
tuyên thuyết của Phật. Xin Ngài khích lệ chúng con tinh tấn
tu tập trong đời sau. Nếu Ngài biết thâm tâm của chúng con
mà thọ ký cho chúng con rằng: “Các người sẽ thành Phật”
thì chúng con sẽ cảm thấy như Ngài tưới cam lồ vào chúng
con để làm giảm cơn nóng.
“Chúng con
như người từ vùng đói kém đến, bỗng gặp một bữa tiệc
của nhà vua nhưng còn mang lòng nghi ngờ, sợ hãi, không dám
ăn ngay. Nhưng khi nhà vua bảo hãy ăn, chúng con mới dám ăn.
Cũng như vậy, chúng con nhận biết được về những lầm
lạc của chúng con rằng chúng con có thể thoát khỏi những
ảo tưởng và khổ đau của chính chúng con, và đồng thời
chúng con hiểu được trí tuệ tối thượng của đức Phật.
Nhưng chúng con không biết làm sao để đạt được trí tuệ
ấy. Dù chúng con nghe âm thanh của đức Phật bảo rằng chúng
con sẽ thành Phật, tâm chúng con vẫn còn lo lắng và sợ hãi
đạt Phật vị, như những người đói kia không dám ăn bữa
tiệc của vua đang ở trước mắt. Nhưng nếu chúng con được
đức Phật thọ ký rằng chúng con sẽ thành Phật thì chúng
con sẽ sung sướng và an lạc. Kính bạch đấng Đại Hùng,
bậc Thế Tôn ! Bao giờ Ngài cũng muốn làm cho thế giới an
bình. Xin Ngài hãy thọ ký cho chúng con. Nếu Ngài làm như thế
thì cũng như người đói được nhà vua bảo hãy ăn tiệc,
chúng con mới có thể tận lực tu Bồ-tát đạo và phụng
sự mọi người và xã hội”.
Bấy giờ
đức Thế Tôn biết được tâm ý của các vị đại đệ
tử, đồng thời thể theo thỉnh cầu của ngài Tu-bồ-đề.
Ngài thọ ký cho ngài Tu-bồ-đề. Ngài tuyên bố rằng ngài
Tu-bồ-đề sẽ thành vị Phật tên là Danh Sắc Như Lai, kiếp
Hữu Bảo, quốc độ Bảo Sanh. Kế đó, đức Thế Tôn thọ
ký cho ngài Đại Ca-chiên-diên và tuyên bố Phật hiệu của
ngài là Diêm-phù-na-đề Kim Quang Như Lai. Đức Thế Tôn cũng
thọ ký cho ngài Đại Mục-kiền-liên, gọi Phật hiệu của
ngài là Đa-ma-la-bạt Chiên-đàn Hương Như Lai, kiếp Hỷ Mãn,
quốc độ là Ý Lạc. Phần lớn các độc giả đọc đến
chỗ này có thể cảm thaáy câu chuyện trên khá là xa vời
với đời sống của chính mình vì nó kể lại một tình tiết
về đức Phật Thích-ca và các đại đệ tử của Ngài ở
nước Ấn Độ cổ. Nhưng thật ra, câu chuyện này chẳng xa
vời gì với đời sống ngày nay của chúng ta, vì chúng ta
sẽ hiểu khi đọc đoạn cuối của phần kệ sau cùng trong
phẩm này. Đức Thế Tôn nói bằng kệ để diễn tả ý định
sau đây: “Trong số nhiều đệ tử của Ta, có năm trăm vị
có đức hạnh cao vời và gây ảnh hưởng lớn cho
những người
chung quanh. Tất cả họ đều được thọ ký rằng sẽ thành
Phật sau khi tích tập tu hành trong đời sau. Nay Ta sẽ tuyên
bố nhân duyên của Ta và của các Ông trong các đời trước.
Tất cả các Ông hãy nghe cho kỹ !”
“Nhân duyên
của Ta và của các Ông trong các đời trước” không chỉ
gồm đức Phật Thích-ca-mâu-ni và năm trăm đệ tử của Ngài
mà gồm tất cả chư Phật và các đệ tử của chư vị đã
hay sẽ xuất hiện từ quá khứ vô cùng đến tương lai vĩnh
cửu. Đấy là vì ai đã thực sự hiểu giáo lý của đức
Phật thì không bao giờ quên giảng giáo lý ấy cho người
khác và mất sự thôi thúc phải cứu độ người khác. Do
cứ tiếp tục như thế, tự người ấy có thể trở thành
một vị Phật. Hơn nữa, những ai đã được người ấy cứu
độ có thể tự chính họ thành Phật nhờ truyền bá Phật
pháp cho nhiều người khác và nhờ tiếp tục thực hành việc
cứu độ người khác. Theo cách như thế, vô số đức Phật
đã xuất hiện từ thời quá khứ vô cùng đến thời hiện
tại, và vô số chư Phật này lại tạo thêm vô lượng chư
Phật nữa. Như thế một sự sản sinh tương tục về sự
giác ngộ của con người nhờ chư Phật thực hiện đã xảy
ra không ngừng. Đây là ý nghĩa chân thực của câu “Nhân
duyên của Ta và của các Ông trong các đời trước”.
Ngày nay chúng
ta may mắn được gặp kinh Pháp Hoa. Điều chúng ta có được
là chúng ta đã được đức Phật thọ ký rằng sẽ thành
Phật nếu chúng ta tu tập. Dù đức Phật Thích-ca, Phật lịch
sử, đã nhập diệt khoảng hai ngàn năm trăm năm qua, đức
Thích-ca Phật Bổn Nguyên (Bổn Phật) vẫn mãi mãi cùng ở
với chúng ta. Ngài báo trước cho chúng ta về sự chứng đạt
Phật quả qua kinh Pháp Hoa.
TẦM QUAN
TRỌNG CỦA SỰ LẶP LẠI:
Khi
đức Phật thọ ký cho ngài Ca-diếp, quốc độ của ngài Ca-diếp
được miêu tả như là một cõi đẹp đẽ và lý tưởng và
sự miêu tả cảnh giới này được lặp
lại bằng
kệ mà đức Phật đọc lên sau đó. Dù có hơi khác nhau trong
việc mô tả nhưng căn bản là cùng một sự miêu tả được
lặp lại khi thọ ký cho các ngài
Tu-bồ-đề,
Mục-kiền-liên và Ca-chiên-diên.
Khi tụng
kinh Pháp Hoa, ta không nên nghĩ rằng “Có cùng những câu như
trước”, cũng không nên đọc các câu ấy một cách vô ý.
Sự lặp lại có một chức năng rất quan trọng trong đời
sống tôn giáo.
Cứ làm đi
làm lại một điều gì sẽ tạo nên một ấn tượng sâu đậm
trong tâm ta. Nhưng sự lặp lại này phải được thực hiện
một cách toàn tâm toàn ý. Người nào cố gắng tụng đọc
phẩm 6 một cách thiết tha sẽ nhận thấy mình lặp lại sự
miêu tả cái trạng thái lý tưởng của con người như được
biểu trưng bởi mười danh hiệu của đức Phật và sự miêu
tả xã hội lý tưởng của con người như được biểu trưng
bởi sự miêu tả các cõi đẹp đẽ của chư Phật. Nhờ thường
xuyên lặp đi lặp lại, những lý tưởng này sẽ thâm nhập
vào tâm người ấy.
Những
biểu thức “như đã nêu trên” hay “như đã nói ở trước”
có thể khả thứ trong các hồ sơ doanh nghiệp và các báo
cáo văn phòng. Các biểu thức vắn tắt này được chấp nhận
trong thế giới rộn rịp của ngày nay. Tuy nhiên, khi hành trì
Phật pháp, chúng ta chớ lẩn tránh sự lặp lại mọi điều
một cách chính xác. Nếu một người không quyết tâm lặp
đi lặp lại một sự việc càng thường xuyên đến tối đa
trong việc học tập âm nhạc hay thực hành môn bóng chày thì
người ấy sẽ không bao giờ thăng tiến. Đối với tôn giáo
cũng như vậy.
Khi ta tụng
đọc nhan đề kinh Pháp Hoa, hình như trên lý thuyết chỉ đọc
một lần là khá đủ nếu chúng ta đọc một cách hoàn toàn
chân thành. Nhưng thực ra, nếu chúng ta không lặp lại nhan
đề kinh từ ba đến mười lần thì ý niệm quy y đức Phật
sẽ không thâm nhập trọn vẹn. Tuy nhiên, dù sự lặp lại
là rất quan trọng, nếu chúng ta đọc nhan đề ấy một ngàn
hay mười ngàn lần, mà chúng ta không phải là siêu nhân thì
chúng ta sẽ trở nên nhàm chán hoặc tâm sẽ lang bang, và chúng
ta sẽ tự nhận thấy rằng mình chỉ có thốt suông cái nhan
đề kinh mà chẳng hiểu gì. Đây là kết quả của sự yếu
kém của chủ nghĩa hình thức, tin tưởng một cách lười
biếng rằng chỉ cần tụng đọc nhan đề kinh là chúng ta
có thể được cứu độ.
Chúng ta phải
hiểu rằng sự tu tập Phật pháp thực sự có ba điều kiện
tiên quyết: 1. thực hành tốt, 2. thái độ thiết tha, và 3.
lặp lại mãi hoài.