Phẩm
5
DƯỢC
THẢO DỤ
Trong phẩm
trước, bốn vị Đại Thanh văn bày tỏ sự kính mộ về lòng
đại từ bi và năng lực thiện xảo của đức Phật qua Ẩn
dụ về Người Con Trai Cùng Khổ, thế rồi các vị ấy bạch
với đức Phật rằng họ hiểu rằng Ngài giảng pháp bằng
nhiều cách khác nhau tùy theo khả năng của các chúng sanh và
trình độ thể chứng của họ, thuyết giảng của Ngài vẫn
luôn luôn được đặt căn bản Nhất thừa (Phật thừa), và
rằng họ đã nhắm đến Nhất thừa. Khi các vị ấy đã nêu
niềm tin và nhận thức của họ như thế, đức Thế Tôn nói
với họ như sau:
“Lành thay
! Lành thay ! Này Ca-diếp, Ông đã khéo tuyên bố các công đức
chân thật của đức Phật. Quả thật, các công đức này
giống như Ông nói. Đức Phật còn có vô lượng, vô biên,
vô số công đức mà dù cho Ông có nói mãi vẫn không thể
diễn tả đầy đủ được.
“Này Ca-diếp
! Hãy biết rằng đức Phật là vị Pháp vương. Ngài biết
trọn vẹn trạng thái thực sự của hết thảy mọi sự vật.
Khi thuyết giảng mọi pháp, Ngài phân tích, biện biệt nhờ
sự thiện xảo về trí (trí phương tiện) và thuyết pháp
tùy theo người nghe và tùy theo cơ hội. Mọi pháp mà Ngài
giảng đều đưa đến cấp độ của sự hiểu biết toàn
hảo (nhất thiết trí địa).
“Đức
Phật thấy và biết công đức của mọi pháp và cũng biết
hết thảy chúng sanh trong thâm tâm đang nghĩ và cảm thấy
những gì. Ngài thâm nhập vào các chúng sanh mà không bị trở
ngại gì. Hơn nữa, Ngài có sự hiểu biết tối thượng về
trạng thái thực sự của tất cả mọi sự vật trên đời.
Ngài khai mở cho tất cả các chúng sanh cái trí tuệ mà Ngài
có thể nhận thức, cả những mặt khác nhau và giống nhau
của hết thảy các sự vật”.
ẨN DỤ VỀ
NHỮNG CÂY CỎ:
Với lời
mở đầu ấy, đức Phật giảng về Ẩn dụ về những cây
Cỏ. “Này Ca-diếp ! Giả như trên các núi, dọc theo các sông,
suối, trong các thung lũng và trên các đồng bằng, có các
cây mộc, cây thảo, bụi cây, rừng cây và rất nhiều loại
dược thảo, tất cả đều có tên, có màu sắc khác nhau.
Một đám mây dày trải lên, che phủ toàn thế giới, đổ
mưa xuống đồng đều và cùng lúc.
“Nước
mưa nuôi dưỡng khắp cây thảo, cây mộc, bụi cây, rừng
cây và các dược thảo gồm rễ nhỏ, thân nhỏ, cành nhỏ
và lá nhỏ; rễ vừa, thân vừa, cành vừa và lá vừa; rễ
lớn, thân lớn và lá lớn; mỗi cây lớn hay nhỏ, tùy theo
khả năng cao, vừa hay thấp mà nhận phần nước. Từ trận
mưa của một đám mây, mỗi cây đều phát triển thích hợp
với tính chất của giống loại mà nở hoa kết trái. Các
Ông cần phải biết rằng dù được sản sinh trên cùng một
mảnh đất và được tưới nước bởi cùng một trận mưa,
các cây thảo và cây mộc này rất khác nhau”.
Rễ, thân,
cành và lá trỏ niềm tin, giới hạnh, Thiền định và trí
tuệ. Rễ là phần quan trọng nhất của cây. Không có rễ,
cây không thể lớn thân, lớn cành và lớn lá. Do đó “rễ”
nghĩa là niềm tin. Người ta không thể giữ giới nếu không
có niềm tin. Do giữ giới, người ta có thể nhập vào trạng
thái tâm thức của Thiền định và cũng có thể đạt trí
tuệ.
Ngược lại,
tuy rễ có thể mạnh nhưng rốt cuộc rễ cũng sẽ chết nếu
cành và lá khô héo hay nếu thân bị chặt. Cũng thế, nếu
con người không có trí tuệ thì niềm tin sẽ bị ngưng dứt.
Tóm lại, tin vào một tôn giáo, con người khởi sự bằng
niềm tin và đạt trí tuệ nhờ giới hạnh và Thiền định.
Tuy nhiên, bốn bước tu tập này luôn luôn liên hệ hỗ tương
và cùng nhau tồn tại. Nếu một bước nào đó trong bốn bước
thiếu đi thì việc tu tập không thể thành tựu được và
sẽ không tiến đến được mức độ kế tiếp. Cũng như
một cái cây có thể lớn, nhỏ, cao, vừa hay thấp, người
ta khác nhau với sự đa trí, thiểu trí, thông tuệ hay ngu muội.
Nhưng chúng
ta phải phân biệt rằng một cây lớn không phải lúc nào
cũng được gọi là cao cấp hơn một cây nhỏ, một cây thảo
nhỏ không phải là kém cõi hơn một cây lớn hơn. Cây tuyết
tùng có chức năng riêng của nó, cây bồ-đề có chức năng
riêng của nó. Một cây tử la (violet) nhỏ thì đẹp và cây
bạch vũ (pampas grass) lớn hơn có cái vẻ đẹp riêng của
nó. Cũng vậy, dù có nhiều khác biệt trong vẻ dáng, trí thông
minh, khả năng, tính tình và sức mạnh thể chất của người
ta, tất cả tính chất của một người thì đẹp và đáng
trọng khi người ấy thể hiện sức mạnh của riêng mình
phù hợp với bản chất và khả năng của mình. Đây là ý
nghĩa của tính bình đẳng mà đức Phật giảng dạy.
Tuy nhiên,
trong việc thọ nhận Pháp, còn có một vấn đề khác. Trong
phẩm trước, chúng ta được dạy rằng chúng ta không nên
có ý tưởng tự ty rằng chúng ta chỉ có khả năng hiểu Phật
pháp ở một mức độ nào đó thôi. Chúng ta nên từ bỏ những
nhận định nhỏ nhặt ấy mà nên nỗ lực nghe và thọ nhận
Pháp. Ẩn dụ về các cây cỏ (dược thảo dụ) khẳng định
rằng mọi nỗ lực của chúng ta chắc chắn sẽ được đền
đáp. Tức là, dù nhiều loại cây cỏ khác nhau sản sinh trong
cùng một mảnh đất và cùng được tưới bằng một trận
mưa, mỗi cây phát triển theo tính chất riêng của nó.
Cũng vậy,
dù giáo lý của đức Phật là một nhưng người ta hiểu giáo
lý ấy bằng nhiều cách khác nhau tùy theo bản chất, trí tuệ
và hoàn cảnh v.v... của mỗi người nghe.
Dù cho chúng
ta chỉ có sự hiểu biết nông cạn về giáo lý của đức
Phật hoặc chỉ có thể thực hành một phần giáo lý ấy,
điều này cũng không bao giờ là vô ích. Chắc chắn mọi nỗ
lực sẽ được đền đáp bằng công đức của Pháp. Nhưng
chúng ta không nên thỏa mãn với sự đền đáp này. Chúng
ta phải luôn mong muốn và nỗ lực đào sâu hiểu biết của
chúng ta và tự nâng mình lên. Do đó, chúng ta có thể sử
dụng niềm tin và nhận thức nông cạn như là bước đầu
tiên để tiến đến một trình độ cao hơn của niềm tin
và nhận thức. Tiến lên từng bước, chúng ta có thể thành
công trong việc đạt tới một trạng thái tâm thức cao vời.
Chúng ta nên hiểu rõ điều này khi đọc phần cuối phẩm
này. Ở đây khẳng định rằng dù giáo lý của đức Phật
là một, vẫn có những khác biệt trong niềm tin và nhận thức
tùy theo khả năng hiểu giáo lý của mỗi người. Nhưng chúng
ta không nên diễn dịch điều này như là sự khẳng định
một điều kiện tuyệt đối.
Một cái
cây nhận quá nhiều mưa, trong khi một cây khác không nhận
đủ. Một cái cây có thể lớn trong một năm, trong khi một
cây khác cần nhiều năm để trưởng thành. Một cái cây có
thể có trái trong một năm, nhưng một cây khác chỉ có thể
có trái sau bảy tám năm. Giả thử khi một cái cây cao như
thế thấy một cây có thể có trái trong một năm, cây ấy
nghĩ: “Ta thật vô dụng vì ta không thể có trái trong một
thời gian ngắn như thế”. Cây ấy nghĩ như thế há không
phải là sai sao ? Và giả thử rằng có một cái cây tự mãn
nói: “Cây kia đã có trái trong một năm trong khi ta chỉ mới
mọc cành và lá trong một năm. Nhưng ta được lắm đấy,
vì tất cả đều được tưới bằng cùng một trận mưa.
Ta đang làm hết những gì ta có thể làm”. Cây ấy thể
hiện sự thỏa mãn như thế mà chỉ dựa vào phán đoán giới
hạn của nó thì cũng là sai trái.
Một cái
cây cần bảy hay tám năm để có trái thì phải cần cù và
tập luyện mà không được nhụt chí, nản lòng, hay có cảm
nhận chua cay về những cây khác. Thế nào cũng đến lúc nó
đơm hoa kết trái. Nếu trái có được sau một năm là ngọt
thì trái có được sau tám năm cũng ngon ngọt. Những gì mà
cả hai thành tựu được đều như nhau: sự giác ngộ của
đức Phật.
Thế rồi
Thế Tôn dạy: “Này Ca-diếp ! Hãy biết sự liên hệ giữa
giáo lý của đức Phật và sự chứng ngộ của các chúng
sanh.
Trọng điểm
giáo lý của đức Phật trong Ẩn dụ về các cây cỏ và đức
Phật giống như đám mây lớn rải nước đồng đều trên
tất cả. Ngài dẫn dắt mọi chúng sanh, gồm mọi người,
đến giáo lý phổ biến của Ngài, như đám mây lớn bao trùm
toàn bộ thế giới.
MƯỜI DANH
HIỆU CỦA ĐỨC PHẬT:
Thế rồi
đức Phật giải thích thân thế Ngài theo mười danh hiệu
sau đây: “Ta là Như Lai, Ứng Cúng (bậc đáng được cúng
dường), Chánh Biến Tri (bậc Toàn Trí), Minh Hạnh Túc (bậc
Giác Ngộ trong Đức Hạnh), Thiện Thệ (bậc khéo đi), Thế
Gian Giải (bậc hiểu rõ về thế gian), Vô Thượng Sĩ (bậc
Lãnh đạo vô thượng), Điều Ngự Trượng Phu (bậc điều
ngự), Thiên Nhân Sư (Thầy của Trời và Người), Phật, Thế
Tôn”. Đây là mười danh hiệu của đức Phật, mỗi danh
hiệu đại diện một khía cạnh đức hạnh và năng lực của
đức Phật.
Như Lai (Tathàgata,
Nyorai) nghĩa là “vị đã đến từ chân lý”, Ứng Cúng (Ògu),
“vị xứng đáng được cúng dường trong các cõi người
và trời”; Chánh Biến Tri (Shohenchi), “vị có trí tuệ đúng
đắn và toàn hảo”; Minh Hạnh Túc (Myògyò-soku), “vị kết
hợp một cách toàn hảo tri thức với đức hạnh”; Thiện
thệ (Zenzei), “vị tự tại đối với mọi sự”; Thế Gian
Giải (Sekenge), “vị có thể hiểu con người trong mọi hoàn
cảnh”; Vô Thượng Sĩ (Mujòji), “vị mà không ai có thể
vượt hơn được”; Điều Ngự Trượng Phu (Jjògo-jòbu), “vị
không thể sai sót trong việc kiểm soát tâm người”; Thiên
Nhân Sư (Tennin-shi), “vị dẫn đạo hết thảy chúng sanh trong
các cõi người và trời”; và Phật, Thế Tôn (Butsu-seson),
“vị giác ngộ được mọi người trên đời tôn kính nhất”.
Vị có mười đức hạnh và năng lực này được gọi là
Phật.
Do bởi những
đức hạnh và năng lực toàn hảo như thế, đức Phật khiến
cho những ai chưa đạt được trạng thái tâm thức tự tại
với những đổi thay trong hoàn cảnh đạt được trạng thái
tâm thức tự tại; những ai chưa hiểu tại sao các ảo tưởng
của họ vẫn xảy ra và làm sao để tháo bỏ các ảo tưởng
ấy được hiểu lý do và nguyên nhân ấy; những ai chưa được
an lạc sau khi các ảo tưởng họ được dập tắt được
an lạc; những ai chưa đạt được chứng ngộ thực sự đạt
được chứng ngộ ấy.
Đức Phật
cũng biết hiện tại, quá khứ và cảnh giới tương lai đúng
như thực sự. Ngài là người biết mọi sự một cách toàn
hảo (Issaichisha; nhất thiết tri giả), người hiểu rõ thực
trạng của mọi sự vật (Issai-kensha; nhất thiết kiến giả),
người biết Đạo chân thực (chidò-sha; Tri đạo giả), người
làm cho tất cả chúng sanh hiểu Đạo và đưa họ đến Đạo
(Kaidò-sha; Khai đạo giả) và là người giảng Đạo cho họ
(Setsudò-sha; Thuyết đạo giả).
BA NGHIỆP
THÂN, KHẨU, Ý:
Biết Đạo,
khai mở Đạo và giảng Đạo là những thực hành cần thiết
đối với những người theo kinh Pháp Hoa... Người ta biết
Đạo bằng tâm mình, người ta khai mở Đạo bằng thân mình
và người ta giảng Đạo bằng miệng của mình. Đây gọi
là ba nghiệp thân, khẩu, ý và ba thứ này là những tiêu chuẩn
của công hạnh hằng ngày của những ai tu kinh Pháp Hoa bằng
cách noi gương đức Phật.
Đức Phật,
người có những đức hạnh và năng lực toàn hảo như thế,
đã thuyết dạy các chúng sanh, thúc đẩy họ đến với Ngài
để nghe Pháp. Bấy giờ, vô số loại chúng sanh đã tụ hội
lại và nghe Pháp. Thế rồi đức Phật quán sát năng lực
tự nhiên của tất cả chúng sanh, linh lợi hay chậm lụt,
tinh cần hay thờ ơ, tùy theo những khả năng khác nhau của
họ mà giảng Pháp cho họ theo nhiều cách khác nhau, khiến
họ hoan hỷ và vui vẻ đạt được nhiều công hạnh. Ngài
tuyên bố rằng tất cả các chúng sanh đã hiểu rõ, đã tin
và đã thực hành Pháp này được an lạc trong đời hiện
tại và về sau sẽ được sinh vào những cõi hạnh phúc, nơi
đó họ sẽ được chân lý làm cho hoan hỷ và họ cũng sẽ
nghe Pháp.
AN LẠC TRONG
ĐỜI HIỆN TẠI:
Được an
lạc trong đời hiện tại nghĩa là sống một cuộc sống bình
an trong cõi đời này. Người thời xưa hiểu điều này chỉ
đơn giản là họ sẽ dễ dàng lành bệnh và sẽ được thoát
khỏi mọi lo lắng về cuộc sống của họ. Về sau này, ý
kiến chung là “được an lạc” chỉ trỏ vào những vấn
đề tâm thức và có nghĩa là tâm người ta sẽ không bao giờ
bị ảnh hưởng bởi bất cứ sự đau khổ nào mà người
ta trải qua. Sự hiểu như thế có thể đã được phát triển
vì người ta đã suy nghĩ rằng tìm hạnh phúc vật chất trong
đời hiện tại là một mục đích không xứng đáng với người
có tôn giáo hay vì họ sợ rằng họ sẽ bị xem là thấp kém
nếu họ không xem thân và tâm là những thực thể riêng biệt,
một khuynh hướng mà sự hiểu biết hời hợt về khoa học
hiện đại khuyến khích.
Tuy nhiên,
những ý niệm như vậy là sai lầm. Y học về thân và tâm
đã nghiên cứu và nêu rõ rằng những rối loạn về thân
thể sẽ biến mất nếu tình trạng tâm thức và cảm xúc
được tăng cường. Khi tâm người ta được tự tại thì
thể cách sống của người ta tự nhiên sẽ thay đổi tốt
hơn. Do đó, hiển nhiên là những người như thế thực sự
có thể sống những cuộc sống tương đối an lạc. Tin vào
một tôn giáo mà chỉ nhằm để nhận được những yếu tố
thiêng liêng trong đời hiện tại thì kèm theo nhiều cái xấu.
Với một thái độ như thế đối với tôn giáo thì người
ta không thể đạt được sự tự tại của tâm. Cho nên, xem
“được an lạc” là một vấn đề thuần túy tâm thức
và cảm xúc thì có vẻ hợp lý. Tuy nhiên cho rằng sự tự
tại về tâm thức cũng đưa đến sự tự do về vật chất
không dính dáng gì đến giáo lý của đức Phật thì điều
này cũng là một quan điểm lệch lạc và là một sự chối
bỏ năng lực của đứcPhật.
Câu “Tất
cả các chúng sanh về sau sẽ sinh vào các cõi hạnh phúc, tại
đấy họ sẽ được chân lý làm cho hoan hỷ và họ cũng sẽ
nghe Pháp” rất quan trọng. Đời sống của chúng ta đã tiếp
diễn từ khi trái đất là một quả cầu lửa - không, lâu
hơn thế rất nhiều - và nó sẽ tiếp tục trong tương lai
vô tận. Do đó, dù cho thân thể của chúng ta sẽ chết đi,
nếu chúng ta đạt được trạng thái tâm thức sao cho chúng
ta không bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh, tâm của chúng ta
sẽ được tái sinh vào “cõi an lạc” và chúng ta sẽ có
cuộc sống an lành trong đời sau, tại đấy, tâm sẽ được
chân lý làm cho hoan hỷ, vì nhờ tu tập chân lý, chúng ta có
thể đặt cuộc sống của chúng ta vào hướng đúng đắn.
Giáo lý này
ngày xưa đã bị diễn dịch sai lạc khi được nghĩ rằng
nó chỉ trỏ đến sự tái sinh của người ta trong cõi Tịnh
Độ sau khi chết; phản ứng lại điều này, giờ đây người
bày tỏ một khuynh hướng mạnh mẽ trong việc giới hạn sự
diễn dịch vào những vấn đề tâm linh trong đời sống hiện
tại. Nhưng giáo lý của đức Phật không hạn hẹp như thế.
Chúng ta đừng quên rằng giáo lý của đức Phật dạy cho
chúng ta một cách lý tưởng để sống, trải dài từ quá
khứ vô cùng đến tương lai vô cùng.
Sau khi đã
thông hiểu Pháp, tất cả các chúng sanh có thể thoát dần
được những trở ngại và những rối rắm tâm thức, và
từ nhiều giáo lý khác nhau của đức Phật, họ có thể chọn
cho mình một giáo lý mà họ có thể hiểu được theo khả
năng riêng của họ và nhờ đó họ có thể đi vào Phật đạo,
cũng như một đám mây lớn đổ mưa xuống đồng đều trên
mọi cây cỏ và nuôi dưỡng chúng sao cho mỗi cây lớn lên
và phát triển đầy đủ phù hợp với tính chất riêng của
nó.
Thế rồi
đức Phật tuyên bố: “Pháp mà Như Lai thuyết giảng chỉ
có một tướng và một vị, tức là, giải thoát, xả ly, diệt
tận và cuối cùng là sự đạt đến toàn tri”. Điều này
có nghĩa là mặc dù tất cả giáo lý của Ngài đều như nhau
về mặt cơ bản, các giáo lý ấy có thể được phân tích
thành ba phần: giải thoát (gedatsu-sò giải thoát tướng), xả
ly (ri-sò; ly tướng) và diệt tận (metsu-sò; diệt tướng).
“Giải thoát”
là một trạng thái tâm thức không còn bị ảnh hưởng bởi
những đổi thay trong hoàn cảnh hay sự việc. Nếu đạt được
trạng thái này, người ta có thể xem xét mọi sự vật một
cách bình đẳng, bất động trước những gì xảy ra. Mặt
khác, những ai tin rằng họ không thể nhìn các sự vật một
cách bình đẳng thì muốn vượt lên trên thế giới hiện
tượng, và do đó họ mất cái cảm giác thân tình đối với
những người khổ đau bi não. Chúng ta cần xả bỏ sự tự
cho mình là chính đáng như thế mà trái lại nên nỗ lực
cứu người ta khỏi khổ đau. Thái độ này gọi là “sự
xả ly”.
ĐỒNG NHẤT
MÌNH VỚI NGƯỜI KHÁC:
“Diệt tận”
nghĩa là dập tắt sự phân biệt sai lầm giữa mình và người
khác, tức là, cảm nhận sự đồng nhất tất cả chúng sanh
trong vũ trụ. Chúng ta chỉ có thể đạt được trạng thái
tâm thức này chừng nào chúng ta không còn nghĩ rằng chúng
ta phải cứu những người đang đau khổ, bi não. Chúng ta phải
mong được duỗi tay đến người khác một cách tự động
mà ôm lấy họ. Cảm nhận này là trạng thái tâm thức của
sự nhất hóa giữa mình và ngườikhác.
Chúng ta không
xem nước miếng là dơ bẩn chút nào khi nó ở trong miệng
chúng ta. Đấy là vì nước miếng là một phần của cơ thể
chúng ta. Mặt khác, một khi chúng ta nhổ nó ra, chúng ta cảm
thấy nó dơ bẩn vì chúng ta mất cái cảm giác rằng nó là
một phần của chúng ta. Một người có tình thương thực
sự thì có cái cảm giác mạnh mẽ về sự đồng nhất với
người khác. Có những trường hợp lịch sử về tình thương
lý tưởng này chứng tỏ sự đồng nhất giữa mình và người
khác. Ví dụ, một người đặt miệng vào miệng người vợ
và hút ra một vật cứng đang làm nghẽn họng bà này trong
khi bà ta đang bị bệnh lao nặng và quá yếu, không thể nhổ
vật ấy ra được. Hoàng hậu Kòmyò của Nhật Bản đã hút
mủ chảy ra từ những vết lở trên lưng của một người
cùi. Chúng ta không thể đạt ngay được trạng thái tâm thức
như thế. Nhưng nếu chúng ta có thể cảm nhận một cách tự
nhiên rằng khổ đau của người khác là khổ đau của chính
chúng ta và rằng chúng ta phải giúp đỡ kẻ đau khổ, hoặc
cảm nhận rằng niềm vui của người khác là niềm vui của
chính chúng ta thì thế giới này sẽ sáng sủa và bình an biết
bao, và sống trong thế giới này sẽ an lạc biết bao !
Giáo lý của
đức Phật đưa chúng ta tiến lên trạng thái tâm thức cao
hơn theo thứ tự sau: giải thoát, xả lỡ, diệt tận và cuối
cùng đạt tới giác ngộ. Cái trí nối kết khả năng thấy
sự bình đẳng của các sự vật (vô) và phân biệt sự khác
nhau giữa các sự vật (hữu) là sự chứng đạt toàn tri.
Rồi đức
Phật giảng tiếp như sau: “Nếu có những chúng sanh nghe Pháp
của đức Như Lai, trì giữ, đọc tụng và tu tập Pháp mà
Ngài giảng, những thành tựu của họ sẽ không khiến họ
hiểu được bản chất của chính họ. Chỉ có đức Như Lai
mới thực sự nhìn thấy các cấp độ của họ một cách
rõ ràng, không bị ngăn ngại, giống như cây thảo, cây mộc,
bụi cây, rừng cây, dược thảo và các thứ cây khác không
hiểu bản chất của chúng là cao, vừa hay thấp”. Bằng những
lời này, đức Phật khẳng định tính chất tất nhiên của
sự việc con người thọ nhận những ân huệ thiêng liêng
trong đời sống hiện tại. Ngài cũng tuyên bố rằng người
ta không tự mình hiểu những ân huệ thiêng liêng ấy, chỉ
có đức Phật hiểu mà thôi. Khi con người tin vào Pháp và
tu tập Pháp, nhiều thay đổi xảy ra trong họ. Vì một người
sống trong cõi Ta-bà nên những thay đổi như thế có thể
không thích thú đối với người ấy. Nhưng, từ một quan
điểm rộng rãi hơn, những thay đổi ấy trỏ ra rằng cuộc
sống của người ấy đã được đặt đúng hướng. Nếu
người ấy nhân nhượng ngay những thay đổi nội tại này
thì dù ngay lúc ấy chúng có vẻ như khó chịu nhưng chắc
chắn chính chúng sẽ dẫn người ấy đến hạnh phúc.
Một trong
những ngụ ngôn của Aesop kể rằng một con quạ bị chết
đuối vì nó không thích màu lông đen và cố tẩy rửa màu
ấy đi. Nếu một con nhím không thích gai mọc khắp người
nó và nhổ gai ra thì nó sẽ bị một con linh miêu hay một
con vật nào đó ăn thịt. Như câu tục ngữ “Mọi sự đúng
như bạn thấy”; sự giải thoát thực sự nằm trong thái
độ tâm thức vui lòng chấp nhận những gì mà chúng ta là
và tuân thủ nhận lấy những gì mà chúng ta được cho.
Đức Phật
dạy rằng Pháp mà Ngài dạy chỉ gồm một hình tướng và
hương vị, tức là, vốn chỉ là một dù được thuyết giảng
theo nhiều cách khác nhau. Ông Mít khác cô Xoài, nhưng cả hai
vốn cùng như nhau vì cùng là chúng sanh. Nói theo thuật ngữ
khoa học, một cái hoa đỏ gồm các hạt hạ nguyên tử như
electron, proton và newtron; một lá liễu lục cũng gồm những
hạt như thế; cả hai đều giống nhau về bản chất. Cũng
thế, đức Phật dạy rằng Pháp căn bản duy nhất của Ngài
có cứu cánh là sự trở về cái Không. Trong trường hợp
này, Không có nghĩa là bình đẳng; do đó Ngài nêu dạy rằng
mọi sự vật về cơ bản là bình đẳng.
Dù tất cả
mọi sự vật đều bình đẳng, chúng cũng được biểu hiện
bằng các hiện tượng như hoa đỏ, hay lá lục, hay ông Mít
có đôi tay khéo léo, hoặc cô Xoài có đầu óc sáng suốt.
Sự vận hành tinh tế của sinh lực phổ quát được nhìn
thấy trong sự phát sinh phân biệt từ tính bình đẳng. Nếu
chúng ta có thể phát triển trọn vẹn tiềm năng tự nhiên
của đời sống của chính mình theo giáo lý của đức Phật,
thì điều này sẽ tạo sức sống cho cuộc đời của người
khác, và chúng ta có thể đạt một trạng thái tâm thức trong
đó chúng ta thể hiện sự đồng nhất giữa chính mình và
người khác và sự hợp nhất căn bản giữa các chúng sanh
khác nhau.
Trong phần
cuối của phẩm này, đức Thế Tôn khẳng định rằng tất
cả giáo lý của Ngài lên đến tột đỉnh trong việc khiến
cho hết thảy chúng sinh đều đạt được một trạng thái
tâm thức như nhau, như đức Phật, nhưng Ngài không tuyên bố
ngay điều này cho họ vì Ngài quán thấy những khác biệt
về tâm tính của họ. Để kết thúc bài giảng, Ngài nói
rằng năng lực lãnh hội chân lý này của ngài Ca-diếp là
một khả năng hi hữu nhất và lớn lao nhất.
Bấy giờ,
Thế Tôn muốn trùng tuyên giáo lý này, Ngài lập lại bằng
kệ. Trong đoạn kệ cuối, Ngài khích lệ mạnh mẽ các đệ
tử Thanh văn rằng:
“Những
gì ta vừa dạy
Chính thực
là chân lý
Tất cả
các Thanh văn
Chưa đạt
được Niết-bàn.
Con đường
các ông đi
Chính là
Bồ-tát đạo
Do tu tập
dần dần
Các ông
sẽ thành Phật”.