Phẩm
4
TÍN
GIẢI
Ý NGHĨA
CỦA TÍN VÀ GIẢI:
Tín (shin),
niềm tin là sự vận hành của tình cảm, và giải (ge), sự
nhận thức là sự vận hành của lý trí của người ta. Dù
người ta thường bảo rằng tôn giáo hay tín ngưỡng phải
được tin thay vì suy luận, nhưng thật là nguy hiểm khi tin
tưởng mù quáng vào một tôn giáo mà không có một hiểu biết
nào về tôn giáo ấy. Nếu tôn giáo này là một giáo lý sai
lầm và vô giá trị thì sự tin tưởng mù quáng sẽ dẫn đến
kết quả là tự hủy hoại chúng ta mà còn gây một ảnh hưởng
vô cùng tai hại cho gia đình và xã hội nói chung.
Dù cho một
tôn giáo là một giáo lý tốt đi nữa, nhưng chừng nào chúng
ta còn tin nó một cách mù quáng, thì niềm tin của chúng ta
cũng có thể bị hoàn cảnh lay chuyển. Hãy thí dụ một người
tin rằng anh ta sẽ lành bệnh hoặc hoàn cảnh của anh ta sẽ
được cải thiện nếu anh chỉ cần tin vào một tôn giáo
nào đó mà không cần hiểu giáo lý của nó. Anh được lành
bệnh và tin rằng được lành bệnh như thế là nhờ tôn giáo
của anh, nhưng khi bệnh tái phát thì anh bắt đầu nghi ngờ.
Giả như sau đó con trai anh ta bị rớt kỳ thi vào Đại học
thì anh ta từ bỏ niềm tin mà anh vốn gắn bó chặt chẽ bất
kể ý kiến của người khác. Điều như thế thường xuyên
xảy ra.
Loại niềm
tin này không phải là một niềm tin vững chắc theo ý nghĩa
thực sự của niềm tin mà chỉ là một niềm tin hẹp hòi.
Một tôn giáo thực sự luôn luôn có thể được hiểu bằng
lý trí; loại hiểu biết này được gọi là sự nhận thức
(giải). Khi chúng ta nêu một giải thích rõ ràng về một tôn
giáo thì riêng điều này cũng là một niềm tin chưa trọn
vẹn. Dù cho về mặt tâm linh, chúng ta có tiến đến một
mức độ nào đó nhờ một niềm tin không trọn vẹn như thế,
chúng ta cũng không thể vượt qua mức độ ấy. Một tôn giáo
thực sự thì hết sức sâu xa. Chẳng hạn, dù ta có thể nhờ
lý trí mà hiểu rằng đức Phật là chân lý của vũ trụ,
nhưng khi chúng ta cố gắng thâm nhập triệt để vào chân
lý này, thì chúng ta nhận thấy nó vô cùng sâu xa và không
thể nắm bắt nó bằng chỉ riêng lý trí.
Một nhà
khoa học nổi tiếng đã nói: “Vũ trụ khoa học trong thời
đại chúng ta quá bí ẩn đến nỗi chúng ta chưa bao giờ tìm
thấy nó trong lịch sử tư tưởng”. Lời nói ấy có nghĩa
rằng vũ trụ được xét một cách khoa học thì bí ẩn hơn
nhiều so với sự bí ẩn mà người nguyên thủy cảm nhận
qua sự hiện hữu của mặt trời, mặt trăng, núi lửa, giông
bão và những hiện tượng thiên nhiên khác hoặc so với sự
bí ẩn mà con người cảm nhận qua các thời đại khi đối
mặt với tôn giáo. Kiến thức khoa học càng phát triển thì
vũ trụ hình như càng trở nên bí ẩn. Truy tìm sự bí ẩn
này đến cùng bằng lý thuyết và thực nghiệm là nhiệm vụ
của khoa học và hẳn phải như thế. Mặt khác, qua tin tưởng
vào tôn giáo, chúng ta có thể trực tiếp vào thế giới bí
ẩn không chỉ bằng lý thuyết suông. Trạng thái tâm linh sinh
ra do sự gặp gỡ lần đầu với sự bí ẩn được gọi là
niềm tin. Khi một người cố gắng giải thích toàn bộ giáo
lý của một tôn giáo bằng lý trí thì tôn giáo đó không
có khả năng kích thích những người khác vì người ấy chỉ
có sự hiểu biết về lý thuyết chứ không thể đưa lý thuyết
vào thực hành. Một tôn giáo như vậy không tạo sức mạnh
khiến người khác theo nó. Niềm tin thực sự thì có năng
lực và sức mạnh. Một người tuy có thể thiếu học và
ở trong hoàn cảnh thấp kém, anh ta cũng có thể cứu những
người khác và giúp đỡ họ phát triển tôn giáo nếu anh
ta chỉ có niềm tin. Nhưng nếu anh ta đã tin vào những gì
sai lầm về cơ bản thì năng lực của anh ta sẽ gây một
ảnh hưởng tai hại cho xã hội và những người chung quanh.
Do đó niềm tin và sự nhận thức phải đi đôi với nhau.
Một tôn giáo chỉ có thể được gọi là thực sự khi nó
bao gồm niềm tin và sự nhận thức. Giáo lý của đức Phật
có thể được hiểu bằng lý trí. Giáo lý ấy không đòi
hỏi niềm tin mù quáng và phi lý trí. Chúng ta phải hiểu giáo
lý của đức Phật bằng cách nghe giảng và đọc kinh. Một
khi chúng ta tiến bộ trong nhận thức về giáo lý thì niềm
tin tự nhiên sẽ phát sinh.
Khi một người
có cái tâm nhạy bén, không tiến bộ trong nhận thức thì
anh ta sẽ phát triển niềm tin ngay khi anh ta được bảo rằng
“Đây là giáo lý thực sự”. Xét về mặt giáo lý của
kinh Pháp Hoa thì điều này cũng tốt, vì anh ta sẽ tiến bộ
dần dần trong nhận thức bằng cách nghe và đọc giáo lý
của kinh.
Tóm lại,
chúng ta có thể đi vào một tôn giáo bằng khía cạnh niềm
tin hoặc khía cạnh nhận thức, nhưng nếu một tôn giáo không
bao gồm cả hai khía cạnh ấy thì nó không có sức mạnh thực
sự. Bằng sự nhận thức cơ bản này về các thành phần
của một tôn giáo thực sự, chúng ta hãy xét đến chánh văn
của phẩm 4.
Đức Thế
Tôn đã thọ ký cho một Thanh văn Tỳ-kheo, ngài Xá-lợi-phất
(Sariputra) rằng ngài Xá-lợi-phất sẽ thành Phật và Ngài
đã giảng giải rõ lý do trong Ẩn dụ về Ngôi Nhà Lửa. Bấy
giờ các Thanh văn Tỳ-kheo trong hội chúng là những bậc Đại
trí như các ngài Tu-bồ-đề (Subhùti), Đại Ca-chiên-diên (Mahà-kàtyàyana),
Đại Ca-diếp (Mahà-kà'syapa), và Đại Mục-kiền-liên (Mahà-
Maudgalyàyana) càng lúc càng hiểu giá trị của Pháp, và hoan
hỷ cực độ. Chư vị liền cúi mình nhất tâm đảnh lễ,
chắp tay bạch Phật: “Chúng con là những Tỳ-kheo đầu đàn
trong hàng đệ tử của Thế Tôn và chúng con đã trở nên
già nua. Chúng con tự thấy đã thoát khỏi những phiền trược,
khổ đau của cuộc đời và tự thấy không còn phải nỗ
lực để làm gì nữa, cho nên chúng con không vội vã cầu
tìm Chánh Đẳng Giác”.
“Thế Tôn
đã giảng Pháp trong một thời gian dài và trong lúc chúng con
đang ngồi tại chỗ, thân thể chúng con trở nên mỏi mệt,
chúng con lơ đểnh và cảm thấy không còn cần nghe Thế Tôn
thuyết giảng nữa. Chúng con chỉ nghĩ đến Không, Vô tướng
và Vô tác. Còn đối với Pháp mà chư Bồ-tát nêu trỏ cho
người khác với lòng đại từ bi, tự tại thuyết giảng
theo khả năng của người khác, khiến họ tỏ bày bản tính
thực sự của họ, cứu độ đồng đều hết thảy và thanh
tịnh cuộc đời, thì tâm chúng con lại không thích thú. Chúng
con hết sức hối tiếc về sự hiểu biết không trọn vẹn
của chúng con. Nay nghe đức Phật thọ ký cho Xá-lợi-phất
cũng như cho chư Hiền hữu Thanh văn của chúng con rằng “Ông
sẽ chứng đạt Vô thượng Cháng Đẳng Giác”, chúng con hết
sức hoan hỷ. Chẳng ngờ rằng nay chúng con bỗng được nghe
Pháp hy hữu này, chúng con vô cùng vui mừng vì đã thu đạt
điều rất lớn lao, thiện lành, một viên ngọc vô giá như
thế mà không phải cầu tìm. Bạch Thế Tôn ! Thế là chúng
con đã hiểu giáo pháp mà nay Ngài giảng cho chúng con. Giờ
đây chúng con xin được nói bằng một Ẩn dụ để làm rõ
ý nghĩa này”. Thế rồi bốn vị đại Thanh văn kể câu chuyện
sau đây.
ẨN DỤ VỀ
NGƯỜI CON TRAI CÙNG KHỔ:
Một thanh
niên rời bỏ người cha mà đi xa. Ông ta sống ở một xứ
xa trong một thời gian dài và cuối cùng ông được năm mươi
tuổi. Càng lớn tuổi, ông càng trở nên nghèo. Lang thang đây
đó để tìm việc làm, cứ thế cho đến khi ông trở về
quê hương. Người cha, vốn rất đau khổ vì đứa con trai
đã bỏ nhà mà đi, đã tìm kiếm đứa con khắp xứ nhưng
không gặp được. Bấy giờ người cha đã lập nghiệp ở
một thành phố nọ. Ông trở nên rất giàu, hàng hóa và tài
sản của ông không kể xiết. Ông có rất nhiều tôi tớ,
người hầu kẻ hạ.
Trong khi đó,
người con trai cùng khổ lang thang từ làng này qua làng khác
và qua nhiều thành phố, xứ sở, cuối cùng đến thành phố
mà người cha lập nghiệp. Ông đang đứng trước cổng nhà
cha ông mà không biết đấy là nhà của ai.
Trong khi người
cha vẫn luôn nghĩ đến đứa con, ông không bao giờ nói điều
ấy với ai. Nghĩ đến sự mất mát của mình và nuôi lòng
tiếc nuối, ông tự nhủ: “Ta đã già yếu lại có tài sản
lớn mà không có con trai. Một ngày nào đó ta sẽ chết, tài
sản ta sẽ bị phân tán và mất đi. Chỉ cần ta mang
được con trai ta về mà giao tài sản cho nó thì ta sẽ sung
sướng, hạnh phúc biết bao !” Bấy giờ, người con trai nghèo
khổ đã làm công đây đó, bất ngờ dừng lại trước nhà
cha mình, hy vọng sẽ được thuê làm việc. Đứng trước
cổng, từ xa ông trông thấy một cụ già trang nghiêm đang
ngồi trên sập và nhiều người có vẻ trang trọng đang vây
quanh và cung kính cụ. Người con trai cùng khổ trông thấy
người uy quyền kia thì đâm sợ hãi và nghĩ: “Ông ta hẳn
là một vị vua hay một vị nào đó trong hàng vua chúa. Đây
không phải là nơi để ta kiếm việc làm. Tốt hơn ta nên
đi kiếm làng nào nghèo khổ, nơi ấy ta có thể đem sức cần
cù ra mà làm thuê thì sẽ kiếm được thức ăn áo mặc dễ
dàng hơn. Nếu ta ở đây lâu, ta có thể bị bắt và bị ép
vào công việc”. Rồi ông vội vàng bỏ chạy.
Bấy
giờ vị phú ông đã nhận ra đứa con trai của mình từ khi
thoạt trông thấy, liền rất vui mừng mà nghĩ: “A ! Con trai
ta bỗng nhiên trở về. Mong ước của ta được thỏa. Ta đã
tìm thấy đứa con mà ta có thể giao lại tất cả tài sản
của ta”. Ngạc nhiên khi thấy con mình thình lình bỏ chạy,
người cha liền sai người hầu đuổi theo và mang ông ta về.
Người con trai cùng khổ ngạc nhiên và sợ hãi la lớn: “Tôi
không có xúc phạm gì đến quý vị, sao lại bắt tôi ?”
Nhưng các
sứ giả túm lấy ông và bắt ông ta quay lại. Người con nghĩ
rằng dù ông vô tội, ông cũng sẽ bị giam giữ và điều
này chắc chắn có nghĩa là ông sẽ phải chết. Nghĩ như thế,
ông sợ hãi đến nỗi bủn rủn và ngã xuống đất. Người
cha từ trong thấy thế liền ra lệnh cho các sứ giả: “Không
cần phải làm như thế với hắn. Chớ dùng sức mạnh mà
mang hắn về. Hãy rảy nước lạnh vào mặt hắn để làm
cho hắn lai tỉnh và đừng nói gì với hắn nữa”. Người
cha biết rằng cung cách của con mình là thấp hèn do đã sống
lâu trong nghèo túng và rằng địa vị cao trọng của ông đã
làm cho con ông sợ. Dù ông biết chắc rằng đây là con ông,
ông vẫn không nói gì với ai mà quyết định sẽ từ từ
lôi kéo con ông.
Sau
khi rảy nước lạnh vào mặt người con và làm cho ông tỉnh
lại, một sứ giả nói: “Nay ta cho anh được tự do; anh muốn
đi đâu thì đi”. Người con trai cùng khổ mừng rỡ ra đi,
liên tục cúi mình kính cẩn. Ông ta đến một làng nhỏ để
kiếm thức ăn và quần áo như lệ thường. Thế rồi người
cha muốn lôi kéo con mình, đã vạch ra một kế hoạch. Ông
bí mật sai hai người đàn ông ăn mặc tồi tàn vào có vẻ
xoàng xỉnh và dặn: “Các anh hãy đi đến nơi ấy mà nhẹ
nhàng nói với người nghèo khổ kia rằng: "Đây có một chỗ
cho anh làm việc; anh sẽ được trả tiền công gấp đôi".
Nếu người ấy đồng ý thì mang anh ta về đây và giao việc
cho anh ta. Nếu anh ta hỏi các anh muốn anh ta làm việc gì thì
các người có thể nói với anh ta: "Chúng tôi thuê anh dọn
một đống phân và hai chúng tôi sẽ cùng làm việc với anh"“.
Người con
cùng khổ nghĩ rằng đây là công việc thích hợp với ông
và tin theo hai sứ giả, nhận trước tiền công và cùng họ
dọn đống phân. Người cha nhìn ông mà thương tình. Một
hôm nhìn qua cửa sổ người cha thấy gương mặt của người
con từ xa, dơ bẩn và tiều tụy, ở gần những đống phân
và rác.
Thế rồi
người cha không chịu nổi lòng thương xót người con, liền
mặc quần áo tồi tàn rách rưới, dơ bẩn, lấy bùn đất
vây lấm thân thể, cầm cái xẻng mà đến với những người
lao công. Ông nói với họ: “Làm việc đi nào, chớ có lười
biếng”. Rồi người cha bảo người con: “Ta nghe nói anh
là một kẻ nghèo.
Anh không
có gì để sinh sống, phải thế không ? Từ nay, anh có thể
trông cậy vào ta. Này anh bạn, anh cứ ở lại đây mà làm
việc, chớ đi đâu khác nữa.
Ta sẽ tăng
lương cho anh. Thứ gì anh cần, cứ lấy mà dùng, đừng ngại
- chén bát, đồ đạc, gạo cơm, bột, muối, giấm v.v...
Ngoài ra còn có một lão bộc già yếu dành cho anh nếu anh
cần. Cứ tự nhiên. Ta cũng như cha anh, đừng lo lắng gì nữa.
Ta đã già, còn anh thì trẻ và khỏe mạnh. Bấy lâu nay làm
việc, anh chẳng bao giờ dối trá, lười biếng, cộc cằn
hay càu nhàu. Ta không hề thấy anh có lúc rỗi như các lao
công khác. Từ nay trở đi, anh sẽ như là con ta vậy”.
Thế rồi
vị trưởng giả đặt cho ông một tên mới và gọi ông là
con. Người con cùng khổ dù được vui hưởng như thế, vẫn
nghĩ rằng mình là kẻ làm thuê mướn thấp hèn. Vì vậy,
trong hai mươi năm, ông vẫn tiếp tục được thuê dọn phân.
Sau thời gian này, có sự tin cậy lẫn nhau giữa hai cha con,
và người con muốn đến hay đi tùy ý dù tinh thần hèn kém
của ông vẫn chưa thay đổi.
Sau đó, ông
trưởng giả bị bệnh và biết mình sắp chết, ông giao phó
cho người con quản lý tất cả tài sản của ông. Dù người
con đã được người cha tin cậy, ông vẫn không loại bỏ
được mặc cảm tự ty. Sau một thời gian ngắn, người con
đã quen với việc quản lý nhà cửa và tất cả tài sản
của cha mình, và lối suy nghĩ của ông được mở rộng dần,
khiến ông nghĩ rằng có thể tự mình cai quản toàn bộ ngôi
nhà của người cha. Giờ đây ông xem thái độ trước đây
của mình là không tốt.
Người cha
rất hài lòng khi thấy như thế. Thấy mình sắp chết, ông
gọi người con đến đồng thời cũng tập hợp các thân thích,
vua chúa, đại thần, Sa<160>t-đế-lỡ và dân chúng trong
nước. Khi tất cả đều tụ hội, ông tuyên bố với mọi
người: “Đây thực sự là con trai của tôi và tôi thực
sự là cha của nó”.
Ông giải
thích tại sao như thế và bảo họ: “Tất cả tài sản mà
tôi sở hữu hoàn toàn thuộc về con trai tôi”.
Khi nghe như
thế, người con trai rất vui mừng trước tin bất ngờ ấy
và nghĩ rằng: “Phần ta, ta chẳng có ý định hay nỗ lực
gì mà giờ đây tất cả tài sản này lại tự đến với
ta”.
Đây là Ẩn
dụ về Người con trai cùng khổ, là Ẩn dụ thứ hai trong
bảy Ẩn dụ trong kinh Pháp Hoa. Ngay sau khi kể xong Ẩn dụ
này, bốn vị Thanh văn liền bạch Thế Tôn: “Vị trưởng
giả đại phú ấy là đức Phật và tất cả chúng con là
các nam tử của Ngài”. Thế rồi các vị ca ngợi lòng từ
bi và năng lực thiện xảo của đức Phật, đã đưa họ đến
giáo pháp Đại thừa dù họ đã thỏa mãn với sự chứng
ngộ Tiểu thừa.
Phẩm 4 được
chấm dứt bằng các câu kệ do ngài Đại Ca-diếp đọc để
kể lại câu chuyện.
Từ quan điểm
của chúng ta, người con trai cùng khổ tượng trưng cho tất
cả các chúng sanh. Nhưng ở đây, chúng ta hãy xem người con
trai là bốn vị Thanh văn ấy và thử áp dụng Ẩn dụ trên
vào trường hợp của các vị ấy.
Người con
trai cùng khổ đầu tiên vẫn biết rằng vị trưởng giả
giàu có (đức Phật) là người cha thực sự của mình, nhưng
rời xa cha và lang thang qua nỗi khổ của con người, trỏ cho
trạng thái thông thường của các chúng sanh trong đời. Trong
giai đoạn này, bốn vị Thanh văn là người thường như chúng
ta. Tuy nhiên, không có sự từ bỏ mối dây liên hệ cha và
con. Dù người con không biết rằng mình có Phật tính và vẫn
lang thang trong cuộc đời khổ đau của con người, người
ấy tình cờ đến với đức Phật. Đứng ở cổng ngôi nhà
của đức Phật, các chúng sanh không biết rằng Ngài là cha
mình. Nhưng đức Phật thì nhận ra con của Ngài ngay. Đức
Phật luôn luôn gần gũi với chúng ta; chân lý thì ở khắp
mọi nơi, và đức Phật chờ chúng ta tìm thấy Ngài. Chúng
ta chỉ việc hòa hợp tâm mình với Ngài. Đức Phật cố gắng
đưa các chúng sanh đến chân lý, nhưng các chúng sanh lại
quay lưng với Ngài do bởi họ có cảm giác thấp kém, cho rằng
giáo lý của Ngài quá cao xa đối với họ và rằng những
người như họ không thể đến với Ngài được.
Thế rồi
đức Phật muốn lôi kéo các chúng sanh, vạch ra một kế hoạch.
Ngài gởi các sứ giả (những người phục dịch trong ngôi
nhà của đức Phật và được sự an tịnh tâm thức ở đấy,
tức là, hàng Thanh văn và Duyên giác) đều xuất hiện như
người thường nhưng đã đạt tới trình độ tâm thức cao
hơn các chúng sanh bình thường, và Ngài bảo chư vị ấy nâng
cao trình độ tâm thức của con người sao cho chư vị có thể
phối hợp được với những người như thế trong tư cách
sứ giả. Bảo người con dọn đống phân có nghĩa là đức
Phật dẫn dắt các chúng sanh thoát khỏi các ảo tưởng của
họ bằng cách tu tập Tiểu thừa. Phần này của Ẩn dụ Người
Con Trai Cùng Khổ áp dụng vào quá trình tu tập của bốn vị
Đại Thanh văn hơn là vào trạng thái của các chúng sanh nói
chung.
Sau khi dần
dần khiến cho bốn vị Thanh văn quen với giáo lý của Ngài
theo cách ấy, đức Phật muốn gọi họ là các con trai của
Ngài và cố gắng cải tiến họ bằng giáo lý chân thực của
Ngài. Trong khi ấy, bốn vị Thanh văn vẫn còn bị ấn tượng
rằng giáo lý của đức Phật chẳng liên hệ gì với họ
mà thuộc về một bình diện cao hơn, và họ đã vạch một
đường phân cách giữa đức Phật và chính họ. Cho nên họ
tiếp tục tu tập giáo lý Tiểu thừa một cách chuyên chú
trong hai mươi năm.
Đây là điểm
mà người thường nhận thấy khó theo cho được. Trong hai
mươi năm, các ngài Tu-bồ-đề, Ca-chiên-diên, Ca-diếp và Mục-kiền-liên
vẫn tiếp tục miệt mài dọn đống phân mà không hề mệt
mỏi, sơ suất, sân hận hay tranh cãi với các đồng sự. Về
điểm này, chư vị đã chứng tỏ đầy đủ danh xưng của
mình là những đại đệ tử của đức Phật Thích-ca-mâu-ni.
Theo cách ấy, cuối cùng chư vị đã đạt được tâm giải
thoát và trở nên thuần thục với giáo lý của đức Phật.
Thế rồi
đức Phật mở cửa kho tàng giáo lý của Ngài và bảo với
chư vị ấy: “Các Ông có thể có mọi thứ trong kho tàng
giáo lý của Ta”. Đây là cách nói của đức Phật, bảo
rằng họ là những nam tử thực sự của Ngài, họ có thể
lấy bất cứ thứ gì họ muốn. Nhưng chư vị ấy vẫn nghĩ
rằng họ còn là những kẻ tôi tớ và không thể lìa bỏ
cái tinh thần hèn kém của họ. Do đó, dù họ thành tựu bổn
phận như giảng pháp thay đức Phật, toàn hảo và chân thành
như là những sứ giả (đệ tử của đức Phật). Họ vẫn
không thể lìa bỏ cái tâm thái của nhị thừa và rất hài
lòng với tình trạng hiện tại của mình.
Đức Phật
giảng Kinh Pháp Hoa trước khi Ngài nhập diệt, Ngài tuyên bố:
“Mối liên hệ giữa đức Phật và hết thảy các chúng sanh
là mối liên hệ cha và con. Tất cả đều có thể thành Phật”.
Mới đầu các đệ tử ngạc nhiên về lời tuyên bố lớn
lao này của đức Phật, và họ vô cùng hoan hỷ mà nhận ra
rằng bỗng nhiên tài sản đức Phật (sự chứng ngộ của
đức Phật) rõ ràng thuộc về họ.
Ẩn dụ này
minh họa quá trình tu tập lâu dài của bốn vị Thanh văn ấy
và cũng thể hiện lòng từ bi và năng lực thiện xảo của
đức Phật mà qua đó Ngài kiên định chăm sóc các đệ tử
và dần dần đưa họ đến trình độ cao hơn. Tuy vậy, cũng
may là chúng ta có thể đối mặt với Kinh Pháp Hoa mà không
cần trải qua quá trình lâu dài ấy. Do đó, chúng ta có thể
lao thẳng vào đôi cánh tay của đức Phật. Nhưng những thái
độ tâm thức khác nhau là cần thiết nếu chúng ta phải làm
như thế. Phẩm kinh này cũng bàn đến những thái độ tâm
thức ấy.
KIÊU MẠN
VÀ KHIÊM TỐN
Thái độ
tâm thức đầu tiên mà ta học ở phẩm kinh này là từ bỏ
cái tinh thần tự ty. Tự nghĩ rằng mình vô dụng là từ chối
Phật tính của chính mình, và do đó, là từ chối đức Phật.
Như thế là một sự phỉ báng đức Phật.
Ta cần giải
thoát tâm ta. Ta phải luôn luôn tự nhủ: “Ta cũng có thể
thành Phật; ta đồng nhất với vũ trụ”. Ta phải nhắc đi
nhắc lại mãi cho chính mình như thế. Khi ta tâm niệm điều
này trong một thời gian nhất định mà không nghĩ gì khác
hơn, ta có thể nhập vào trạng thái hoàn toàn định tâm.
Trạng thái này khiến cho chúng ta tăng cường sự tự tin.
Loại tự tin này hoàn toàn khác với sự kiêu mạn. Kiêu mạn
nghĩa là nghĩ rằng mình đã thể chứng những điều mà thực
ra mình chưa thể chứng, là phán đoán các sự vật theo sự
nhận thức giới hạn của mình.
Mặt khác,
khi chúng ta thể chứng điều gì, chúng ta thường không ý
thức được ngay về sự thể chứng của chính chúng ta.
Một người đã đạt được một trạng thái tâm thức rất
cao mới có thể tự mình cảm nhận sự thể chứng của mình,
nhưng hầu hết chúng ta đều không ý thức ngay liền sự thể
chứng của chúng ta. Chúng ta chỉ dần dần biết đến nó
nhờ các kết quả của nó. Chẳng hạn, một cách nào đó,
chúng ta cảm thấy lòng thanh thản; chúng ta cảm thấy vui mừng;
chúng ta đã có tấm lòng cởi mở; chúng ta không còn bực
dọc hay sợ hãi những đổi thay tầm thường trong hoàn cảnh;
chúng ta cảm thấy rằng mọi sự xảy ra như chúng ta mong muốn.
Khi chúng ta có những cảm giác mơ hồ như vậy; dù không thực
sự ý thức về chúng, chúng ta cũng đã đạt được cấp
độ thứ nhất của chứng ngộ. Do đó khi nghĩ rằng: “Ta
có thể thành Phật” hay “Ta đồng nhất với vũ trụ”
thì đấy không phải là kiêu mạn, vì chúng ta đã thực sự
kinh nghiệm điều này ở một mức độ nào đó.
Mặt khác,
ta phải giữ thái độ khiêm tốn khi chúng ta nghe Phật pháp
và khi chúng ta truyền bá Phật pháp cho người khác. Cả
thái độ bên trong và bên ngoài của chúng ta đều phải luôn
luôn khiêm tốn. Nhưng khi chúng ta nghĩ về chân lý thì chúng
ta được phép tự hào bao nhiêu cũng được. Chúng ta có thể
ấp ủ những ý tưởng có vẻ phô trương như “Ta là kẻ
thừa kế vũ trụ vì ta là con đức Phật. Vũ trụ chính là
của chúng ta, cho nên ta cũng có thể sở hữu vũ trụ”. Nghĩ
như thế là một con đường tắt giúp chúng ta thẳng đến
vòng tay của đức Phật, và khiến chúng ta làm như thế là
mục đích duy nhất của sự xuất hiện của đức Phật trên
thế gian này.
Thái độ
tâm thức thứ hai mà ta học ở phẩm 4 là duy trì cả niềm
tin lẫn sự nhận thức đối với kinh Pháp Hoa. Không có hai
thứ ấy, chúng ta không thể vững chãi tiến vào vòng tay của
đức Phật. Có thể chúng ta bị lệch khỏi đường đúng
hoặc đi vào đường sai lạc hoặc đi vào ngõ cụt trong đời
người. Nếu điều này xảy ra cho chúng ta thì chúng ta cần
đọc lại kinh Pháp Hoa. Theo cách ấy, chúng ta có thể chắc
chắn tìm ra được cách quay cuộc sống của chúng ta vào con
đường đúng đắn, vì kinh Pháp Hoa gồm những giáo lý có
thể áp dụng cho người ta trong mọi tình huống; chúng ta có
thể trở nên sáng suốt bằng cách khởi đầu từ bất cứ
phần nào của kinh. Đây là thể cách khiến chúng ta có thể
thoát ra khỏi những ngõ cụt của đời người.
Điều quan
trọng thứ ba mà ta học ở phẩm 4 là những ai đủ may mắn
gặp được kinh Pháp Hoa và có thể hiểu được kinh, tin vào
kinh thì có thể tiến thẳng đến vòng tay của đức Phật.
Tuy nhiên, thế giới ngày nay đang ở trong đời ác với ngũ
trược, đầy dẫy những “người con cùng khổ”. Chúng ta
chỉ có thể được gọi là đã thực sự tu tập tinh thần
kinh Pháp Hoa nếu như chúng ta cứu được những người con
cùng khổ theo hết khả năng của chúng ta. Điều độc nhất
chúng ta có thể làm để cứu họ và dẫn dắt họ là hiểu
tinh thần phương tiện thiện xảo của đức Phật như được
minh họa trong phẩm này. Đồng thời, chúng ta phải noi gương
đức Phật khi sử dụng phương tiện thiện xảo; chúng ta
đừng quên rằng theo gương tốt của người khác là con đường
tắt để đạt mục đích.
Bài học
thứ tư mà chúng ta học ở phẩm 4 là cách thức tuyệt diệu
để tiến từ niềm tin đến nhận thức được nêu tỏ ở
đây. Bốn vị Thanh văn, nghe và hiểu Ẩn dụ về Ngôi Nhà
Lửa. Không những họ chỉ nghĩ rằng họ đã hiểu Ẩn dụ
ấy mà còn chứng tỏ sự hiểu của họ trước đức Phật
bằng một Ẩn dụ khác. Không chỉ thọ nhận giáo lý một
cách thụ động mà còn chủ động thông báo rằng chúng ta
có thể hội được là cách thức rất tốt để vừa làm
sâu nhận thức vừa nâng cao niềm tin của chúng ta. Hơn nữa,
điều ấy cũng giúp làm sâu nhận thức của người khác và
nâng cao niềm tin của họ. Chúng ta không nên bỏ qua điều
quan trọng là nói về những kinh nghiệm tôn giáo của chính
chúng ta cho người khác biết, như đã được nêu tỏ trong
phẩm này.