Phẩm
3
THÍ
DỤ
Trong phẩm
trước, ngài Xá-lợi-phất ba lần tha thiết thỉnh cầu đức
Phật Thích-ca và đức Phật bảo ngài: “Thôi đủ rồi, thôi
đủ rồi, không cần phải nói nữa”, sau đó ngài được
đức Phật dạy rõ về mối liên hệ giữa giáo lý về Một
Phật thừa với các phương tiện của chư Phật. Ngài
Xá-lợi-phất cảm thấy ngây ngất sung sướng khi hiểu rằng
có một cánh cửa mở rộng cho ngài nhập vào sự chứng ngộ
chân thực của đức Phật khi ngài nhận ra những phương tiện
của chư Phật là có giá trị.
Thế rồi
ngài Xá-lợi-phất liền đứng dậy, chắp tay và nhìn lên
khuôn mặt của đức Phật mà bạch Phật rằng: “Ôi! Con
đội ơn
Thế Tôn
! Giờ đây, nghe Pháp âm của Ngài, con được mở mắt nhìn
thấy Pháp lần đầu tiên. Con đã thiếu sót biết bao! Khi
con nghe đức Phật giảng Pháp như thế này và thấy chư Bồ-tát
được thọ ký, con rất ngỡ ngàng và hết sức buồn bã mà
tự bảo: "Ôi, rốt cùng ta cũng chẳng tìm thấy tri kiến của
đức Phật chăng ?" Cứ mỗi khi ở một mình trong rừng núi
hay dưới bóng cây, ngồi hay đứng, con đều suy nghĩ: "Ta đã
nghe giáo lý của đức Phật như các vị Bồ-tát này, và ta
đã có thể
hiểu được
giáo lý ấy đến một mức nào đấy. Nhưng tại sao đức
Phật chỉ giảng cho ta pháp của Tiểu thừa ?"“
“Con đã
sai lầm khi phán đoán như thế. Vì sao? Vì nếu con được
nghe đức Phật giảng về sự thành tựu Toàn Giác thì chắc
chắn con sẽ được giải thoát do bởi Đại thừa. Đấy là
do tự con lầm lạc khi đã nôn nóng muốn được Đại thừa
mà cảm thấy mình bị đối xử bất công. Do không hiểu
đức Phật dùng phương pháp phương tiện cơ nghi mà thuyết
giảng, mới nghe Phật pháp lần đầu, con đã tin tưởng, suy
xét và xác chứng một cách hời hợt. Từ đó con ân hận
suốt ngày đêm vì thấy chư Bồ-tát được đức Phật thọ
ký rằng sẽ thành Phật. Nhưng giờ đây, lần đầu tiên con
được mở mắt. Quả thực hôm nay con biết rằng con thực
sự là một nam tử của đức Phật và giờ đây con hoàn toàn
là một người khác. Nhờ giáo lý tối thượng của đức
Phật, con có lối nhìn khác đi về các sự vật. Hơn nữa,
con lại được một chỗ trong Phật pháp. Thực sự con đội
ơn Thế Tôn”.
Thế rồi
ngài Xá-lợi-phất muốn trùng tuyên ý nghĩa này, nêu bài kệ
sám hối sự thiếu sót trước đây của mình, diễn tả đầy
đủ trạng thái tâm thức hiện tại của ngài.
Rất hoan
hỷ với lời của ngài Xá-lợi-phất, Thế Tôn bảo ngài:
“Xá-lợi-phất ! Ông đã hiểu rõ những gì Ta giảng. Nếu
Ông cứ giữ thái độ tâm thức hiện tại trong thời gian
dài, phụng sự vô lượng đức Phật và thành tựu Bồ-tát
đạo thì chắc chắn Ông sẽ thành Phật”.
Nói thế
xong, đức Phật ban danh hiệu cho vị Phật tương lai này là
Hoa Quang Như Lai và tuyên danh Phật độ của Ngài là Vô Cấu.
Đức Phật cũng gọi thời kiếp mà vị Phật ấy xuất hiện
là Đại Bảo Trang Nghiêm.
THỌ KÝ:
Lời báo
trước cho biết sẽ thành Phật, trong tiếng Nhật được gọi
là juki (thọ ký), một thuật ngữ sau này sẽ được thường
xuyên nhắc đến trong cuốn sách này. Điều quan trọng cần
nhớ ở đây là đức Phật không nêu lên sự bảo đảm suông
rằng người ta có thể thành Phật mà không có nỗ lực nào
cả.
Khi một tôn
giáo suy tàn, nó có thể bị những người có suy nghĩ bác
bỏ vì nó dạy rằng người ta có thể tái sinh ở thiên đường
chỉ bằng cách đọc thần chú. Nếu chỉ có thế thì nó cũng
không đến nỗi quá tệ; nhưng đôi khi nó lại rao giảng rằng
bất kể những điều xấu ác đã làm của người ta, người
ta cũng có thể được cứu rỗi và sẽ lên thiên đường
nếu chỉ cần mua một lá bùa nào đó. Sự cứu độ thực
sự của đức Phật không phải là chuyện dễ dàng như thế.
Chúng ta sẽ không thể nào được cứu độ nếu chúng ta không
những học mà còn phải hành Phật pháp và tự mình vươn
tới giai đoạn khiến cho những người khác được hạnh phúc
nhờ Phật pháp. Giáo lý của đức Phật có thể được mọi
người hiểu dễ dàng và phù hợp với lý luận và với lẽ
thường; giáo lý ấy không phải là vấn đề ma thuật hay
mêtín.
Khi mọi người
trong đại chúng thấy rằng ngài Xá-lợi-phất đã được
thọ ký sẽ được Toàn Giác, tất cả đều hết sức vui
mừng và tự thâm tâm, tôn thờ đức Phật. Chư Thiên cũng
đảnh lễ đức Phật với thiên y và thiên hoa tuyệt diệu.
Ngay sau đó, chư vị nói kệ tuyên bố rằng chư vị tự tin
mình nhất định sẽ thành Phật.
Chư Thiên
đảnh lễ đức Phật vì tất cả các chúng sanh trong vũ trụ,
đều là đệ tử của đức Phật. Nói một cách khác, vì
tất cả các sự vật được chân lý toàn vũ tạo sinh nên
họ không thể không tôn thờ và kính ngưỡng chân lý. “Chư
Thiên” là các chúng sinh sống ở cõi trời. Hình như họ
không rối rắm, lo toan gì và có vẻ không cần phải nghe Phật
pháp, nhưng thực ra, không phải như vậy. Như đã nói, vì
con đường lý tưởng của đời người luôn luôn là tinh tấn,
nên đến cả chư Thiên cũng không thể cảm thọ niềm vui
thực sự nếu họ không nghe giáo lý cao hơn do đức Phật
thuyết giảng. Họ không thể cảm thọ niềm vui thực sự
nếu họ không luôn luôn làm thiện vì chúng sanh đang sống
trong thế giới Ta-bà. Đây là một đặc trưng rõ ràng và
sâu sắc của Phật giáo. Cho rằng một khi đã đến cõi trời,
người ta sẽ mãi mãi không phải lo lắng gì và sẽ sống
một cuộc sống an nhàn thì đấy là một niềm tin ngây thơ
và nông cạn.
Thế rồi
ngài Xá-lợi-phất bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn ! Giờ
đây con không còn nghi ngờ, tiếc nuối gì. Trước đức Phật,
tự thân con đã được thọ ký là sẽ đắc Toàn Giác. Nhiều
vị tự điều ngự mà trước kia là những bậc hữu học
được đức Phật luôn luôn giáo hóa, đức Phật dạy: "Pháp
của Ta có thể khiến người ta khởi tâm giải thoát khỏi
khổ đau, ưu não". Những vị ấy cho rằng họ đã đạt ngộ
do thoát khỏi ảo tưởng. Nhưng nay Thế Tôn dạy: "Đây
không phải là sự chứng ngộ thực sự. Các Ông không thể
đạt được chứng ngộ thực sự, nếu các Ông không khởi
tâm Bồ-tát chân thành phục vụ người khác và không ngừng
thực hiện điều ấy". Nhận thấy điều mà giờ đây Ngài
dạy rất khác với điều mà họ đã nghe trước kia, tất
cả họ đều nghi ngờ, bối rối. Bạch Thế Tôn ! Xin Ngài
nêu lý do tại sao như thế cho họ một cách đầy đủ hơn
để khiến họ khỏi nghi ngờ và ân hận.”
Bấy giờ
đức
Phật nói với ngài Xá-lợi-phất: “Ta há chẳng đã bảo
rằng chư Phật bằng nhiều cách lý luận, thí dụ và nhân
duyên để phương tiện thuyết pháp, khiến giáo lý của chư
vị có vẻ như phần này thì cạn, phần kia thì sâu, nhưng
mục đích của chư vị thì luôn luôn vẫn là một, tức là
dẫn hết thảy mọi người đến sự chứng ngộ của đức
Phật ? Dù các giáo lý của chư Phật có vẻ khác nhau về
hình thức và nội dung, những giáo lý ấy cũng đều có một
mục đích là cứu giúp những ai muốn đạt ngộ và đang nỗ
lực để đạt ngộ, những giáo lý này đều đạt cùng một
kết quả như nhau.
“Này Xá-lợi-phất
! Giờ đây, hãy lại nghe Ta nêu một thí dụ để làm cho ý
nghĩa ấy được rõ hơn, khiến cho người có trí hiểu được
nhờ thí dụ.” Thế rồi đức Phật kể câu chuyện sau đây:
THÍ DỤ NGÔI
NHÀ LỬA:
Trong một
nước kia có một vị đại trưởng giả. Tuy già yếu, ông
ta giàu có vô kể, nhiều ruộng đất, nhà cửa, nô lệ và
tôi tớ. Nhà ông rất rộng mà chỉ có một cửa vào,
bên trong có nhiều người ở, các tiền sảnh và phòng xá
đều cũ kỹ, suy tàn, tường vách lung lay, nền cột mục rữa,
xà, nóc xiêu nghiêng rất nguy hiểm.
Bỗng nhiên
lửa bốc cháy cùng một lúc từ mọi phía và ngôi nhà bị
ngọn lửa bao phủ. Tất cả những đứa con mà ông trưởng
giả rất gắn bó đều đang ở trong ngôi nhà ấy. Đứng bên
ngoài, trưởng giả biết rằng lửa đã bùng cháy liền quay
trở lại ngôi nhà và vô cùng lo sợ khi thấy các con vẫn
mải mê chơi đùa. Chúng không hiểu biết, ngạc nhiên hay sợ
hãi gì cả. Dù ngọn lửa đang lan về phía chúng, dù đau đớn
sẽ cực độ, chúng vẫn không quan tâm, sợ hãi và không gấp
rút để thoát ra khỏi ngôi nhà.
Trưởng giả
suy nghĩ: “Ta có đôi tay và thân thể khỏe mạnh. Ta sẽ đem
chúng ra khỏi nhà nhờ một chậu hoa hay nhờ một ghế dài
hay một cái bàn?” Ông ta lại suy nghĩ: “Ngôi nhà này chỉ
có một cái cửa và cửa rất hẹp; các con ta còn quá nhỏ,
không biết rằng chúng cần phải ra khỏi cửa. Có lẽ chúng
sẽ bị cháy trong lửa vì chúng đang mải mê chơi đùa. Ta
phải nói cho chúng biết về điều hãi hùng này, báo với
chúng rằng ngôi nhà đang bị cháy và chúng phải ra ngoài ngay,
nếu không sẽ bị cháy”.
Dù trưởng
giả cố gắng dỗ dành và khuyên bảo các con bằng những
lời ân cần, chúng vẫn mải mê vui vẻ chơi đùa, không chịu
tin ông và không thấy ngạc nhiên, sợ hãi hay cần phải chạy
thoát; hơn nữa, chúng cũng không biết lửa là gì, không biết
ngôi nhà là gì và cũng không biết nơi ấy là nguy biến thế
nào, chỉ biết chạy chơi khắp nơi. Dù đôi khi thoáng thấy
cha, chúng chỉ nghĩ: “Cha chúng ta đang nói gì đó”, và chúng
vẫn không chú ý nghe ông nói.
Thế rồi
trưởng giả nghĩ: “Ngôi nhà này đang cháy dữ dội. Nếu
ta không đưa được chúng ra ngoài ngay thì chắc chắn chúng
sẽ bị cháy. Ta không còn cách nào hơn là dùng phương tiện
thiện xảo để khiến chúng thoát khỏi mối nguy hiểm này,
vì chúng sẽ không rời khỏi ngôi nhà dù ta có báo cho biết.
Ta biết rồi ! Các con ta thích đồ chơi. Chúng luôn luôn bị
thu hút về các thứ ấy mỗi khi được nghe nói đến”.
Người cha
gọi lớn: “Các đồ chơi mà các con ưa thích - xe dê, xe nai,
xe bò -đang sẵn ở ngoài cửa cho các con chơi. Các con thích
gì ta sẽ cho thứ đó, nhưng tất cả các con phải nhanh chóng
ra khỏi ngôi nhà lửa. Những thứ mà các con ưa chơi này rất
hiếm và quý. Nếu ngay bây giờ các con không đến nhận
chúng thì sau này các con sẽ hối tiếc. Hãy mau mau ra khỏi
ngôi nhà lửa mà chơi với những đồ chơi hấp dẫn này”.
Bấy giờ, bọn trẻ nghe cha nhắc tới những đồ chơi mà
chúng ưa thích, và vì điều này hợp với mong ước của chúng,
liền ra sức xô đẩy nhau mà chạy ra khỏi ngôi nhà đang cháy.
Thế rồi
trưởng giả thấy các con đã an toàn thoát ra và tất cả
đang ở bên ngoài, liền ngồi xuống tại một chỗ trống,
không còn bối rối, lòng thanh thản và hoan hỷ. Bấy giờ
bọn trẻ nói với cha chúng: “Thưa cha, xin cha cho chúng con
các đồ chơi xinh đẹp mà cha đã hứa cho chúng con chơi, xe
dê, xe nai, xe bò”. Ông trưởng giả bèn cho mỗi đứa con
một chiếc xe bò trắng lớn, lớn hơn và đẹp hơn bất cứ
loại nào trong ba loại xe mà trước đây ông đã nêu.
Không cần
nói, vị trưởng giả là người cha dụ với đức Phật. Ngôi
nhà bị hư hoại trỏ trạng thái nguy hiểm và khổ đau của
con người ở thế giới Ta-bà. Dĩ nhiên là đức Phật ở
bên ngoài những ảo tưởng khổ đau của con người, nhưng
Ngài không bao giờ quên các con của Ngài - tất cả các chúng
sanh - đang ở trong tình trạng như thế. Trạng thái nguy hiểm
của thế giới Ta-bà được nêu trỏ một cách trung thực
trong việc miêu tả căn nhà bị hư hoại. Tình trạng đau khổ
của tâm người được minh họa một cách sinh động trong
phần đầu của đoạn kệ cuối ở phẩm 3 kinh Pháp Hoa.
Tất cả các chúng sanh ác đều phải chạy rong khắp phía.
Có những nơi hôi thối phân và nước tiểu, tràn đầy đồ
dơ, dòi bọ tụ tập. Chồn, chó sói và dã can cắn đạp nhau
để gặm thây người, vung rải xương thịt người. Sau đó,
từng lũ chó đến vồ chụp những đồ thừa, gầy gò vì
đói, lẻn đi tìm thức ăn ở khắp nơi. Mặt khác quỹ Cưu-bàn-đồ
(Kumbànda) chộp lấy chân chó, đánh chúng để chúng không
kêu sủa được, vặn chân quanh cổ chúng và hành hạ chúng
để vui đùa. Sự miêu tả này là một Ẩn dụ về thế giới
loài Người trong thời mạt pháp mà chúng ta đang sống.
Lửa bùng
cháy trong ngôi nhà cũ đang hư hoại này biểu tượng cho tất
cả khổ đau của con người, gồm già, bệnh, chết. Chúng
sanh mải mê vui thú dục lạc, thỏa mãn vật chất mà không
biết rằng những khổ đau này sẽ trút xuống họ sớm hay
muộn nhưng thế nào cũng xảy ra.
Đức Phật
muốn đem chúng sanh ra khỏi ngôi nhà lửa. Tuy nhiên, ngôi nhà
chỉ có một cái cổng, và cổng thì quá hẹp đến nỗi họ
không thể dễ dàng qua được. Điều này nghĩa là chỉ có
một cách để cứu loài Người và cổng dẫn đến sự cứu
độ ấy thì quá hẹp không dễ gì vượt qua được. Điều
này dạy chúng ta rằng chân lý chỉ là một và chúng ta không
thể đạt chân lý bằng một thái độ nghi ngờ hay thờ ơ.
Đức Phật
muốn đem các con của Ngài ra khỏi ngôi nhà lửa bằng một
chậu hoa, một cái ghế dài hay một cái bàn. Điều này được
diễn dịch rằng trước tiên Ngài nghĩ đến việc cứu tất
cả chúng sinh bằng từ bi và năng lực siêu nhiên. Nhưng dù
cho Ngài muốn làm như thế, thì vẫn có khả năng là họ không
được Ngài cứu độ, do họ quá mải mê dục lạc và vật
chất. Lòng từ bi của đức Phật chỉ có ích khi tất cả
các chúng sanh đều có thể nhận ra lòng từ bi ấy. Vì lý
do ấy, Ngài chủ ý không sử dụng thần thông.
Nếu chúng
ta vào sâu hơn bên dưới ý nghĩa này, chúng ta có thể thấy
rằng nếu đức Phật đưa chúng sanh thẳng đến giác ngộ
thì họ sẽ không thể hiểu giáo lý của Ngài và sẽ bị
sa ngã vì họ quá mải mê dục lạc và vật chất. Do đó Ngài
muốn dẫn dắt họ từ bước đầu tiên khiến họ nhận thức
được tình trạng kinh khiếp của thế giới này.
Mặc cho mối
quan tâm từ bi của đức Phật, chúng sanh vẫn thường chỉ
liếc nhìn khuôn mặt của cha mình (giáo lý của đức Phật);
họ không suy xét giáo lý này quan hệ đến cuộc sống của
riêng họ như thế nào và không thiết tha lắng nghe giáo lý
ấy. Chúng ta vẫn thường kinh nghiệm điều này vốn tỏ lộ
rõ ràng tâm trạng của con người bình thường.
Thế rồi,
đức Phật dùng biện pháp cuối cùng là nêu bày các xe dê
(Thanh văn thừa), xe nai (Duyên giác thừa) và xe bò (Bồ-tát
thừa). Giờ đây, lần đầu tiên tất cả chúng sanh đều
được thu hút vào giáo lý của đức Phật. Khi nghe Ngài dạy
rằng “Hãy nhận lấy bất cứ giáo lý nào trong ba giáo lý
này mà ngươi thích; Ta sẽ trao cho”, họ chạy ra khỏi ngôi
nhà đang cháy trong khi nghĩ đến những đồ chơi hấp dẫn
dành cho họ.
Nghĩ đến
các đồ chơi hấp dẫn cho mình nghĩa là người ta sẵn sàng
nhập vào trạng thái tâm thức của Thanh văn, Duyên giác hay
Bồ-tát. Chạy ra khỏi ngôi nhà cháy nghĩa là người ta sẵn
sàng cầu mong giáo lý của đức Phật. Khi các chúng sanh gỡ
bỏ ảo tưởng khỏi tâm mình, họ có thể thoát ngay khỏi
ngôi nhà lửa của khổ đau trên đời này.
Tuy nhiên,
họ chưa nghĩ rằng họ được cứu ra khỏi ngôi nhà lửa.
Tâm họ tràn đầy lòng ham muốn có được một trong những
cỗ xe hấp dẫn - sự thể chứng của một Thanh văn, một
Duyên giác, hay một Bồ-tát. Thế rồi họ xin đức Phật những
cỗ xe này. Điều này nghĩa là mỗi người xin sự chứng ngộ
cho chính mình. Thế rồi hoàn toàn bất ngờ, vượt ngoài sự
chứng ngộ ba thừa, họ thấy được giáo lý tối thượng,
tức là, sự chứng ngộ Phật thừa duy nhất (cỗ xe bò trắng
lớn), chiếu sáng rực rỡ.
Đức Phật
thực sự mong muốn cho tất cả chúng sanh những cỗ xe lớn
này. Cho nên những ai đã tiến đến cái tâm cầu tìm sự
chứng ngộ tối thượng thì Ngài không tiếc gì mà không cho
họ cùng một thứ như nhau. Quan điểm của đức Phật thật
là tuyệt diệu ! Mọi người đều có thể đạt được sự
chứng ngộ của đức Phật - đây là tinh thần lớn lao của
kinh Pháp Hoa.
Sau khi kể
Ẩn dụ về ngôi nhà lửa, Thế Tôn giảng giải đầy đủ
ý nghĩa hàm chứa trong Ẩn dụ này, và rồi muốn giảng cùng
một giáo lý như thế một lần nữa bằng những lời khác,
Ngài thuyết kệ. Sau đây là ý chính của những gì Ngài dạy.
“Xá-lợi-phất,
Ta nói cho Ông nghe ! Ta cũng như vị trưởng giả trong Ẩn dụ
ấy. Ta là người được suy tôn nhất trong những người trí
và là cha của thế giới. Mọi chúng sanh đều là con của
Ta. Họ mải mê vào các thú vui trần thế và không có đủ
trí tuệ và không nhận thức được những khía cạnh chân
thực của tất cả các sự vật. Cho nên Ta sẵn sàng cứu
vớt họ”.
“Ba cõi
không phải là nơi an toàn cho người bình thường. Chúng giống
như ngôi nhà lửa với đủ loại đau khổ và rất đáng sợ.
Luôn luôn có những đau khổ của con người, bao gồm cái khổ
của sinh, già, bệnh và chết. Những ngọn lửa như thế đang
cháy không ngừng. Từ xưa, Ta đã thoát khỏi ba cõi đầy ảo
tưởng và đã trú trong trạng thái an lạc không bị ảnh hưởng
bởi những phiền toái của cuộc đời. Nhưng không lúc nào
Ta quên được ba cõi. Đấy là vì ba cõi này là lĩnh vực
của Ta và tất cả những chúng sanh trong đó là con của Ta.
Nhưng giờ đây nơi này đầy dẫy khổ đau. Ta không thể
không vào thế giới khổ đau mà cứu các con của Ta. Và chỉ
riêng Ta là có thể cứu vớt và che chở họ”.
“Tất cả
vũ trụ này là lĩnh vực của Ta, và tất cả những chúng
sanh trong đó là con của Ta. Và chỉ có Ta là có thể cứu
vớt và che chở cho họ”. Những lời của niềm tin vững
chãi này thật lớn lao biết bao! Những lời này tràn đầy
lòng đại từ bi biết bao ! Tuy vậy, từ “Ta” không trỏ
riêng đức Thích-ca-mâu-ni, đức Phật lịch sử đã sống
ở Ấn Độ cách đây khoảng 2500 năm. Đúng hơn, nó trỏ đức
Phật trong nghĩa “vị đã chứng ngộ chân lý”. Do đó, những
lời của đức Phật là sự tuyên bố trọng đại rằng đối
với những ai đã thể chứng chân lý, tất cả vũ trụ này
là lĩnh vực của họ. Ngay cả khi chúng ta, những người không
được như đức Phật Thích-ca-mâu-ni, im lặng nhắm mắt và
suy nghĩ với tâm thanh tịnh “Tất cả vũ trụ này là lĩnh
vực của chúng ta”, chúng ta cũng cảm nhận được sự lớn
lao của không gian và cảm thấy một sự bình an nội tại.
Mới đây,
trong một số người có phong trào mua đất trên Hỏa tinh.
Dù thị hiếu này có vẻ nửa đùa nửa thật, trong một nghĩa
nào đó, nó được gọi là một phương cách hữu hiệu để
mở rộng cái tâm con người. Khi ta thực sự nghĩ đến những
ngôi sao cách xa hàng trăm triệu năm ánh sáng, những ngôi sao
này lập tức bay vào tâm ta, và như thế thuộc vào sự sở
hữu của ta. Khi ta nghĩ đến các sự vật hàng chục ngàn
năm trước hay hàng chục ngàn năm sau, ta hiểu rằng thế giới
bao gồm những sự vật này; chúng trở thành một phần của
chính tâm ta. Chính tâm ta khiến ta không biết thời gian và
không gian và ta đến được mọi nơi.
Nếu ta có
thể hiểu được sự thật về vũ trụ như đức Phật đã
hiểu và hợp nhất được với cuộc sống vũ trụ thì thế
giới này dễ trở thành của ta biết bao! Vấn đề ở đây
không phải là xác định quyền sở hữu mà là cảm nhận
rằng chúng ta hòa tan vào toàn bộ vũ trụ. Tóm lại, điều
ấy nghĩa là ta đạt đến trạng thái tâm thức “vô ngã”.
Nghĩa là đã từ bỏ cái ngã nhỏ bé mà tìm thấy cái ngã
sống với toàn thể.
Ngay lúc ấy,
cái ngã lan đầy khắp vũ trụ. Vô ngã là phương cách duy
nhất mà ta có thể nghiệm ý tưởng “Tất cả vũ trụ là
lĩnh vực của ta”. Nếu ta đạt được trạng thái tâm thức
này thì tâm ta được hoàn toàn tự tại. Ta sẽ tự tại với
mọi sự vật, và dù cho ta có hành động như ta muốn, mọi
thứ ta làm đều cải thiện cuộc sống của người khác.
Đây là trạng thái tâm thức của đức Phật.
Dù cho ta
không thể đạt đến trạng thái tâm thức như thế trong một
bước nhảy, chúng ta cũng phải nỗ lực cho được như thế
bằng việc khởi sự noi gương đức Phật. Chúng ta chỉ có
thể đạt được Phật tâm khi chúng ta đi vào Phật đạo
bằng cách noi gương Ngài. Đọc kinh, nghe giảng, im lặng suy
nghĩ và phục vụ tha nhân - Có thể bảo tất cả điều này
là sự tu tập nhằm mục đích từ bỏ cái ngã của ta và
hòa tan vào cái toàn thể. Đây là tinh thần hài hòa.
Nếu ta cứ
duy trì việc tu tập như thế dù chỉ một giờ trong mỗi ngày
thì ta có thể ở một mức độ nhẹ nhàng, tiến gần đến
đức Phật; từng bước một và do kiên nhẫn, ta có thể thành
Phật vào một lúc nào đó trong tương lai. Chúng ta phải từ
bỏ thái độ nhu nhược cho rằng chúng ta không thể đạt
được Phật tánh. Chúng ta sẽ hiểu ngay tại sao điều này
là quan trọng khi chúng ta đọc phẩm kế tiếp, “Tín giải”
(Niềm tin và sự nhận thức).
MƯỜI BỐN
TỘI PHỈ BÁNG PHÁP:
Ở phần
kệ cuối của phẩm 3, đức Phật dạy chúng ta điều mà chúng
ta cần phải biết khi giảng kinh Pháp Hoa cho người khác và
dạy những gì mà chúng ta chắc chắn phải thọ nhận nếu
chúng ta đi ngược với kinh. Lời đức Phật dạy ở đây,
“chớ vô ý tuyên thuyết kinh”, có thể bị hiểu lầm. Lời
này không có nghĩa là đừng giảng kinh Pháp Hoa một cách vô
ích, mà có nghĩa là đừng bao giờ giảng kinh một cách sai
lầm và hãy luôn luôn tìm các cách thích hợp để giảng kinh.
Đức Phật
dạy chúng ta rằng, “chớ giảng kinh này cho những người
nào có các loại ác tâm sau đây”, và Ngài nêu ra mười bốn
tội nghịch với tinh thần của kinh Pháp Hoa. Ở đây, Ngài
không có ý dạy rằng chúng ta từ chối đối đãi với những
người ác tâm như vậy, mà Ngài dạy rằng chúng ta cần giảng
kinh Pháp Hoa cho họ một cách thận trọng sau khi gỡ bỏ các
tội phỉ báng Pháp của họ trước đã, vì nếu như chúng
ta không làm như thế trước tiên thì việc giảng kinh sẽ
không có hiệu quả tốt mà thực ra sẽ có hiệu quả xấu.
Sau đây
là mười bốn tội phỉ báng Pháp:
1.Kiêu mạn
hay kyòman (cao ngạo và nghĩ rằng mình đã hiểu những điều
mình không hiểu);
2.Giải đãi,
hay kedai (lười biếng và mải mê vào những sự vật tầm
thường);
3.Kế ngã,
hay keiga (chỉ hành động nhằm vào những mục đích ích kỷ);
4.Thiểu
thức, hay senshiki (chỉ nhìn vào bề ngoài các sự vật, không
cố gắng nắm bắt cái tinh yếu của chúng);
5.Trước
dục, hay jakuyoku (bị gắn chặt vào các dục lạc và vật
chất);
6.Bất giải,
hay juge (diễn dịch mọi sự theo quan điểm hạn chế của
mình và không hiểu những trọng điểm);
7.Bất tín,
hay jushin (không tin vào kinh và phỉ báng kinh do hiểu biết
nông cạn);
8.Tần
xúc, hay hinsuku (bực bội kinh và tỏ ra chán ghét kinh);
9.Nghi
hoặc, hay giwaku (nuôi dưỡng nghi ngờ về chân lý của kinh
và ngần ngại trong việc tin kinh);
10.Phỉ báng,
hay hibò (nói xấu kinh);
11.Khinh tiện,
hay kyòzen (khinh miệt những người đọc, tụng, chép hay giữ
kinh);
12.Tắng
ố, hay zòzen (ghét những người tu tập thiện pháp trên);
13.Tật đố,
hay shitsuzen (ghen ghét những người tu tập thiện pháp trên);
14.Kết hận,
hay kenzen (thù hận những người tu thiện pháp trên).
Kế đó là
quả báo của các tội phỉ báng Pháp. Điều chúng ta cần
đặc biệt chú ý ở đây là quả báo mà đức Phật nêu ra
không phải là một sự trừng phạt, đức Phật không có mối
liên hệ như thế đối với con người. Vì Ngài là chân lý
ban phát sự sống cho hết thảy mọi sự vật trong vũ trụ,
khó có thể nào Ngài lại thể hiện hành động đi ngược
với đời sống con người, như để cho con người rơi vào
địa ngục hay để cho con người trở thành loài vật hay thành
một kẻ dị dạng. Ai gây sự trừng phạt như thế cho con
người ? Không cần nói, con người tự gây cho mình. Chính
ảo tưởng của con người trừng phạt cho con người. Ảo
tưởng giống như một đám mây đen che phủ Phật tánh bên
trong của chúng ta. Khi ánh sáng Phật tánh của ta bị ảo tưởng
che phủ thì bóng tối khởi lên trong tâm ta và bao điều bất
hạnh xảy đến cho ta. Tình trạng này là sự trừng phạt
mà chúng ta đã tự ban cho chúng ta. Nếu chúng ta thổi tan những
đám mây đen ảo tưởng của chính chúng ta thì Phật tánh
của chúng ta sẽ khởi sự tỏa sáng ngay. Do đó chúng ta không
có gì để sợ nơi đức Phật. Chúng ta phải giữ chắc trong
tâm và thực sự tin rằng đức Phật là vị lúc nào cũng
làm hưng chấn mọi chúng sanh.