PHẦN
HAI
KINH DIỆU
PHÁP LIÊN HOA
Phẩm
1
TỰ
Ý NGHĨA
CỦA NHAN ĐỀ:
Trước khi
bàn về chính kinh Diệu Pháp Liên Hoa, tôi xin bàn về nhan đề
của kinh là nhan đề biểu hiện vắn tắt hình thức và nội
dung của kinh. Tôi tin rằng nhan đề này đặc biệt biểu hiện
ý nghĩa sâu xa của toàn bộ kinh. Bản gốc của kinh Diệu
Pháp Liên Hoa được viết bằng Phạn văn, được gọi là
Saddharma-pundarika-sùtra. Nhan đề này được ngài Cưu-ma-la-thập
(Kumàrajiva) dịch là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (tiếng Nhật là
Myòhò Renge-kyò). Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, chân lý tuyệt
đối mà đức Thích-ca-mâu-ni chứng nghiệm được trình bày.
Chân lý này được gọi là Diệu Pháp (Saddharma-Myòhò) do bởi
sự sâu xa của nó như đã được nêu trong phần bàn về kinh
Vô Lượng Nghĩa. Trước hết, như đã được biểu thị bằng
các từ “thực tướng của tất cả các sự vật”, “Pháp”
nghĩa là tất cả các sự vật hiện hữu trong vũ trụ và
tất cả các sự kiện xảy ra trên thế giới. Thứ hai, Pháp
nghĩa là một chân lý duy nhất thâm nhập vào tất cả các
sự vật. Thứ ba, Pháp nghĩa là quy luật như một luật tắc
được thiết lập khi chân lý xuất hiện như là một hiện
tượng mà chúng ta có thể nhìn thấy được bằng mắt và
nghe bằng tai. Thứ tư, Pháp nghĩa là giáo lý về chân lý.
Chân lý biểu
thị ý niệm căn bản của bốn ý nghĩa này của “Diệu Pháp”
là đức Phật. Theo đó, Pháp điều động những liên hệ
của tất cả các sự vật, kể cả con người, cũng là đức
Phật và lời dạy, lời giảng về người ta nên sống như
thế nào trên căn bản của chân lý cũng là đức Phật. Tóm
lại, Pháp và đức Phật là một và như nhau. Nói một cách
khác, đức Phật và những chức năng của đức Phật có thể
được biểu thị bằng từ “Pháp”. Vì Pháp có một ý nghĩa
tối cao, thâm sâu và khó biểu thị nên Pháp được bổ nghĩa
bằng tính từ “Diệu”.
“Liên Hoa”
(pundarika, renge) nghĩa là hoa sen. Ở Ấn Độ, hoa này được
xem là đẹp nhất trên đời vì sen mọc rễ trong bùn nhưng
lại nở thành hoa tinh khiết, đẹp và không bị nhiễm bùn.
Đây là một biểu thức có tính cách ẩn dụ của ý niệm
nền tảng của kinh Pháp Hoa, rằng dù con người sống trong
thế giới cấu uế này, con người vẫn không bị ô nhiễm,
không bị chao đảo vì thế giới này mà có thể sống một
cuộc đời đẹp đẽ với sự tự do trọn vẹn của tâm.
“Kinh” (Sutra), nguyên nghĩa là một sợi dây hay một sợi
chỉ dọc trong ngành dệt. Người Ấn Độ cổ có thói quen
trang điểm tóc mình bằng những bông hoa đẹp xâu bằng một
sợi dây. Đây cũng vậy, giáo lý Thánh diệu của đức Phật
được góp nhặt lại thành những tác phẩm gọi là kinh. Nói
chung, nhan đề “Diệu Pháp Liên Hoa Kinh” nghĩa là “Giáo
pháp tối thượng dạy con người có thể sống một cuộc
sống đúng đắn không bị điên đảo vì ảo tưởng trong
khi sống trong thế giới cấu uế này”.
Phẩm này
được gọi là Tự vì phẩm này hình thành phần dẫn nhập
của kinh Pháp Hoa. Hoàn cảnh thuyết giảng kinh được nêu
trước tiên: khi đức Phật thuyết giảng xong kinh Vô Lượng
Nghĩa trên núi Linh Thứu (Grdharakùta) nhằm cho tất cả các
Bồ-tát, Ngài ngồi kiết-già, nhập định với thân tâm bất
động.
Đây
là một sự miêu tả quan trọng. Đức Phật luôn luôn nhập
định theo cách như thế trước và sau khi Ngài thuyết giảng.
Trong lúc nhập định, Ngài quán xét xem Ngài nên giảng như
thế nào để khiến lời giảng của Ngài thâm nhập vào tâm
của cử tọa và Ngài luôn luôn mong rằng giáo lý của Ngài
được nghe thọ nhận và phổ biến đúng đắn. Người ta
bảo đức Phật Thích-ca-mâu-ni nhập định như thế mỗi ngày
năm giờ. Theo gương đức Phật, chúng ta nhắm mắt trong
ít phút trước và sau khi nghe Phật pháp thì tốt cho chúng
ta để luôn nhớ pháp trong tâm trí, để thanh tịnh tâm mình
bằng pháp và mong cầu đồng nhất với đức Phật.
Bấy giờ,
khi đức Phật nhập định, trời và đất cảm ứng vì giáo
lý của Ngài. Hoa đẹp từ trời mưa xuống, và đất rung động
theo sáu cách. Thế rồi tất cả hội chúng đạt đến điều
mà họ chưa bao giờ được kinh nghiệm trước đây, họ chắp
tay nhất tâm, hoan hỷ ngưỡng nhìn đức Phật.
Rồi đức
Phật phóng một tia sáng từ vòng lông trắng giữa hai mày
Ngài, chiếu sáng một vạn tám ngàn thế giới phương Đông.
Ở mọi nơi của phương này, hết thảy chúng sanh trong sáu
cõi cũng như những nguyên nhân của tình trạng hiện tại
của các chúng sanh ấy đều được nhìn thấy. Ở mọi nơi
của phương này, chư Phật đều được nhìn thấy và những
người đã nghe chư Phật ấy thuyết giảng và đã tu Đạo
cũng được nhìn thấy. Lại nữa, chư Bồ-tát đi trên Bồ-tát
đạo, các tháp bảy báu làm nơi chứa xá-lợi của chư Phật
sau khi chư Phật nhập Niết-bàn cũng được nhìn thấy.
Bấy giờ
Bồ-tát Di-lặc (Maitreya) ngạc nhiên vì sự xuất hiện bất
khả tư nghì và hy hữu của đức Phật, và định hỏi đức
Phật tại sao đức Phật phô bày điều kỳ diệu như thế.
Nhưng Bồ-tát không thể hỏi lý do vì đức Phật đã nhập
định. Bồ-tát Di-lặc bèn nghĩ rằng Bồ-tát Văn-thù (Manjusrì)
đã từng tiếp xúc gần gũi và đảnh lễ vô số chư cổ
Phật, có thể Bồ-tát Văn-thù sẽ trả lời câu hỏi của
Ngài về những dấu hiệu hy hữu này. Do đó, muốn giải quyết
những nghi ngờ riêng của mình và quán sát sự xôn xao khởi
lên trong cả chúng hội, liền hỏi ngài Văn- thù: “Vì nguyên
nhân gì, lý do gì mà có sự việc bất khả tư nghì này là
một tia sáng được phóng ra từ vòng lông trắng giữa hai
mày của đức Phật ? Tại sao tia sáng này lại chiếu sáng
một vạn tám ngàn cõi Phật ở phương Đông và làm hiển
lộ rõ ràng sự rực rỡ của các Phật độ ấy ?” Ngay sau
đó, Bồ-tát Di-lặc muốn lặp lại những gì ngài đã nói,
hỏi lại như trên bằng kệ.
Bấy giờ
ngài Văn-thù nói với Bồ-tát Di-lặc và tất cả các vị
dẫn đạo khác: “Theo như tôi đoán thì đức Phật, bậc
Thế Tôn đang chuẩn bị giảng một Pháp rất quan trọng. Đấy
là vì hễ khi nào một vị cổ Phật phô bày sự xuất hiện
bất khả tư nghì và phóng tia sáng thì ngay sau đó vị ấy
liền giảng Pháp rất quan trọng này. “Vô lượng, vô biên,
vô số năm trước, có một đức Phật tên là Nhật Nguyệt
Đăng Minh Như Lai có đầy đủ đức hạnh toàn hảo. Ngài
tuyên thuyết Chánh pháp thiện lành ở chỗ khởi đầu, thiện
lành ở chỗ giữa và thiện lành ở chỗ cuối. Giáo lý của
Ngài luôn luôn được đặt căn bản trên chỉ một chân lý.
Chân lý ấy thâm sâu về ý nghĩa, tinh tế về ngôn từ, thuần
khiết và chân chính, toàn hảo, hoàn mỹ và cao thượng trong
tu tập. Đối với những ai mong cầu là Thanh văn, Ngài giảng
giáo pháp Bốn Thánh đế để họ thắng vượt sinh, già, bệnh,
chết và cuối cùng dẫn họ đến Niết-bàn; đối với những
ai mong cầu là Bích-chi Phật, Ngài giảng giáo lý Mười hai
Nhân duyên(1); đối với chư Bồ-tát, Ngài giảng Sáu Ba-la-mật(2)
khiến chư vị đạt sự Giác ngộ Toàn hảo (Chánh Đẳng Giác)
và thành tựu cái biết toàn hảo”. Các học thuyết Tứ Thánh
đế và Sáu Ba-la-mật hay Pàramità dạy chúng ta làm thế nào
để giải quyết một cách căn bản vấn đề đau khổ sầu
bi mà chúng ta đối mặt trong đời sống hằng ngày và làm
thế nào để đạt trạng thái tâm thức an tịnh. Vì các học
thuyết này tạo thành cốt lõi của giáo lý của đức Phật
nên chúng ta sẽ giải thích chúng ở đây.
BỐN THÁNH
ĐẾ:
Bốn Thánh
đế (Tứ đế - Shitai) là Khổ đế (Kutai), Tập đế (Jittai),
Diệt đế (Mettai) và Đạo đế (Dòtai). Đế thứ nhất của
Bốn Thánh đế là Khổ đế. Điều này có nghĩa là tất cả
các sự vật trên đời này đều là khổ đối với những
người không nghe giáo lý của đức Phật. Đời người đầy
cả những hình thức khổ về tâm lý, vật lý, kinh tế và
các hình thức khổ khác. Nhận biết điều kiện thực sự
của khổ và thấy suốt khổ mà không tránh né khổ hay thỏa
hiệp với khổ - đấy là Khổ đế. Tập đế nghĩa là chúng
ta phải suy nghĩ về những nguyên nhân nào đã sinh ra các khổ
đau của con người, và chúng ta phải nghiên cứu chúng, hiểu
chúng rõ ràng. Việc nghiên cứu nguyên nhân của khổ được
nêu rõ trong các học thuyết về thực tướng của mọi Hiện
hữu (chư pháp thực tướng - shohò - jissò) và về pháp Mười
hai Nhân duyên (Thập nhị Nhân duyên - Jùni-innen) được giải
thích ở phẩm 7 của kinh Pháp Hoa, phẩm “Hóa thành dụ”.
Diệt đế là trạng thái của sự vắng lặng tuyệt đối
trong đó mọi khổ đau trong đời sống con người đều bị
dập tắt. Đó là một trạng thái trong đó chúng ta cắt
đứt những hình thức khổ về tâm lý, vật lý, kinh tế và
tất cả các hình thức khổ khác và thể nghiệm được Cảnh
giới của Ánh sáng Tịch lặng Vĩnh cửu (được nêu trỏ
trong kinh Quán Phổ Hiền Bồ-tát Hạnh), là cõi của đức
Phật Kim Cang) trên cõi đời này. Đây là một trạng thái
chỉ đạt được bằng cách chứng ngộ ba chân lý lớn mà
đức Thích-ca đã dạy chúng ta: “Tất cả các sự vật đều
vô thường (chư hành vô thường - Shogyò mujò)”. “Không
có cái gì có ngã (chư pháp vô ngã - Shohò muga)”, và “Niết-bàn
là tịch lặng (Niết-bàn tịch tịnh - nahan jakujò)”. Ba chân
lý này cũng được gọi là Dấu ấn của Ba Pháp (Tam Pháp
Ấn - Sambò-in). Ba chân lý này quan trọng đến nỗi chúng được
gọi là ba nguyên lý căn bản của Phật giáo. Tuy nhiên, một
người bình thường không thể hiểu được ba chân lý này
một cách dễ dàng. Để hiểu được, người ấy cần phải
thực hành chúng và nỗ lực thành tựu chúng trong đời sống
hằng ngày: người ấy phải tu Bồ-tát đạo bằng tâm, thân
và các hành động của mình. Điều này có nghĩa là người
ấy phải hiến mình cho việc tu tập giáo pháp Bát chánh đạo
(Hassò-dò) và Lục Ba-la-mật (roku-haramitsu). Đạo đế trỏ
con đường đưa đến an tịnh tuyệt đối và trạng thái tịch
tịnh mà ta có thể đạt được bằng cách tu tập hai giáo
pháp này. Pháp Tứ Thánh đế dạy chúng ta đối mặt với
thực tướng của khổ đau của con người (Khổ đế), nắm
được cái nguyên nhân thực sự của nó (Tập đế), hằng
ngày tu tập Bồ-tát đạo (Đạo đế), và từ đó dập tắt
mọi khổ đau (Diệt đế). Sơ đồ dưới đây minh họa quá
trình ấy:
KHỔ ĐÊ
Tâm lý
Vật lý
}Khổ
Kinh tế
Các hình
thức khác
TẬP ĐÊ
Truy tìm nguyên
nhân của khổ đặt căn bản trên các nguyên lý về thực
tướng của các pháp và giáo lý Mười hai nhân duyên.
DIỆT ĐẾ
Trạng thái
tịch lặng
Không Tâm
lý } Khổ
CóVật lý
Kinhtế
Cáchình
thức khác
ĐẠO
ĐẾ
Phương pháp
tu tập để diệt khổ: Tám Thánh đạo và Sáu Bà-la-mật của
Bồ-tát đạo.
Sau đây là
một giải thích ngắn gọn về ba chân lý lớn gọi là Tam
Pháp Ấn để giúp người đọc hiểu được đầy đủ hơn
về Phật giáo thực sự và do đó có thể sống một cuộc
sống hằng ngày tốt đẹp hơn:
CHƯ HÀNH
VÔ THƯỜNG (Tất cả đều không thường hằng):
Ý nghĩa thực
sự của các từ “Chư hành vô thường” đã dần dần bị
hiểu nhầm trong tiếng Nhật và bây giờ thường được dịch
là “Đời là phù du”. Đấy có thể là vì thuật ngữ này
đã thường được dùng với nghĩa rộng như thế trong văn
chương cổ Nhật Bản. Đây là một trong những nguyên nhân
lớn của sự hiểu lầm Phật giáo ở Nhật Bản. Nó tạo
cho quần chúng một ý niệm rằng Phật giáo chỉ dạy chúng
ta thiết tha cầu mong được tái sinh trong một thế giới tốt
đẹp hơn, vì cuộc đời là phù du.
Để sửa
chữa sự hiểu lầm căn bản này, chúng ta phải hiểu rõ ý
nghĩa của các từ “Chư hành vô thường” (Shogyò muyò).
Chư hành
(Shogyò) nghĩa là “tất cả các hiện tượng xuất hiện trên
đời này” và “vô thường” (mujò) nghĩa là “không có
cái gì hiện hữu trong một hình thái cố định”. Tóm lại
“Tất cả các sự vật đều biến đổi”. Do đó, giáo pháp
Chư hành vô thường nghĩa là mọi hiện tượng trong đời
này luôn luôn biến đổi.
Khoa học
hiện đại đã chứng tỏ rằng mặt trời vốn hình như chiếu
sáng trên bầu trời mà không biến đổi thì thực sự đang
biến đổi vào mọi lúc. Chúng ta nghĩ rằng không có gì đổi
khác giữa chúng ta của hôm qua với chúng ta của hôm nay, nhưng
thực tế là các tế bào của thân thể con người vẫn cứ
đang chết đi và đang sinh ra, khiến cho tất cả các tế bào
của thân thể đều bị thay thế theo từng bảy năm một lần.
Mọi tế bào của thân thể chúng ta đang thay đổi liên tục
dù chúng ta không để ý đến chúng. Và mọi người đều
từ kinh nghiệm mà biết rằng khổ đau, sầu bi, hoan hỷ hay
khoái lạc mà chúng ta cảm thọ có thể thay đổi như thế
nào trong chốclát.
Đơn
giản vì một trạng thái luôn thay đổi như thế là bằng
chứng của lời dạy rằng tất cả các sự vật là vô thường,
tuy vậy nếu nghĩ rằng giáo lý của đức Phật đề nghị
rằng chúng ta xem sự vật đúng thực như sự vật trong sự
hiện hữu tạm bợ và mong manh này thì đấy là một sai lầm
căn bản. Quy luật tất cả các sự vật là vô thường dạy
chúng ta cần phải để ý đến bản chất đổi thay của tất
cả các sự vật và do đó đừng để bị ngạc nhiên hay dao
động vì những đổi thay vặt vảnh trong các hiện tượng
hay hoàn cảnh.
Khi chúng
ta hiểu quy luật tất cả các sự vật đều vô thường theo
cách tích cực như thế, chúng ta nhận ra rằng cái năng lực
là con người của chúng ta thực là lớn lao; và cuối cùng,
chúng ta hiểu rõ tại sao con người phải sống theo cách như
thế để lớn mạnh và để cải tiến một cách vững vàng.
Chúng ta cũng trở nên sắc bén trong việc lưu tâm đến sự
cần thiết bày tỏ lòng biết ơn đối với nhau và cần thiết
sống với nhau một cách hài hòa với tình yêu bình đẳng
đối với kẻ khác và bằng một cảm nhận đoàn kết.
Hàng tỷ
năm trước, trái đất không có đời sống; núi lửa tuôn
ra những dòng thác dung nham, hơi nước và khí chiếm đầy
bầu không khí. Tuy nhiên, khi trái đất đã đủ mát, khoảng
hai tỷ năm trước, sinh vật xuất hiện. Những sinh vật đầu
tiên này là những sinh thể vi mô đơn bào giản dị. Dù những
hình thái sống bé nhỏ này phải đặt mình trong những cơn
lũ ào ạt, những trận động đất dữ dội, những trận
phun của núi lửa và sự cực nóng cực lạnh, chúng vẫn không
bị tiêu diệt. Không hề biến mất, chúng gia tăng thật nhiều
và dần phát sinh thành những hình thức sống phức tạp hơn.
Ngày nay người ta lập lý thuyết cho rằng đời sống phát
triển từ các sinh thể giống như con vi khuẩn a-míp tiến
đến loài côn trùng, cá, bò sát, lưỡng cư, chim, loài có
vú, và cuối cùng là loài người.
Chúng ta nên
xét lại sức mạnh của sự sống. Làm như thế, chúng ta có
thể đạt niềm tin vào sự sống của chính chúng ta và do
đó đạt sự hăng hái thủ đắc niềm tin tưởng vào sức
mạnh cơ bản của sự sống và năng lực của nó để chống
chỏi với những khổ đau và thất bại nhất thời. Trong quá
trình tiến hóa, con người đã thắng vượt nhiều thử thách
và khó khăn. Sức sống này ẩn náu trong thân thể của riêng
chúng ta. Khi chúng ta xét quá trình tiến hóa từ con a-míp đến
con người và rồi quay nhìn lại lịch sử loài người, chúng
ta hiểu ra rằng khi tất cả được nói ra, được làm nên,
con người đã từng bước tiến lên.
Đồng thời,
chúng ta nhận thức được rằng tiến lên là con đường sống
thích hợp nhất của con người và rằng trí tuệ ở một
cấp độ riêng lẻ nào, đỡ hơn là thối chuyển vào một
lối sống sai lạc, cũng là đi lệch con đường của cuộc
sống con người. Nếu chúng ta nắm được điều này, chúng
ta sẽ có thể hiểu được rằng chúng ta phải liên tục tiến
đến trạng thái lý tưởng của con người- thực vậy, hiểu
rằng làm như thế là điều tự nhiên nhất.
Không cần
phải nói, trạng thái lý tưởng của con người là Phật quả.
Do đó, khi chúng ta muốn thành Phật và liên tục tu theo lời
Phật dạy thì chúng ta đang theo phương hướng tự nhiên của
đời người. Điều này không có gì kỳ diệu, mà đúng ra
là một việc đương nhiên. Sức khỏe và cuộc sống gia đình
của chúng ta sẽ trở nên quân bình hơn khi ta quay trở lại
con đường tự nhiên mà chúng ta đã đi lệch thì đấy cũng
là điều tự nhiên.
Khi ta nhìn
lại quá trình tiến hóa đã tạo nên sự sống trên trái đất
vốn chỉ đầy cả dung nham chảy ra, kim loại, khí và hơi
nước và nhìn xem cách thức các hình thái sống được chia
thành thảo mộc và thú vật, thú vật tiến hóa dần qua côn
trùng, cá, lưỡng cư, chim, loài có vú, và cuối cùng thành
con người, chúng ta hiểu ra rằng gỗ, đá, kim loại và tất
cả các chất khác trên thế giới cũng đều có tổ tiên căn
gốc đồng với chính chúng ta. Chúng ta có thể nhìn mọi thảo
mộc, côn trùng, chim chóc, thú vật như là bà con của chúng
ta. Rồi thì chúng ta cảm thấy biết ơn đối với thảo mộc,
côn trùng, chim chóc và thú vật. Nếu chúng ta cảm thấy biết
ơn các sinh vật này thì chúng ta lại càng nên biết ơn sâu
đậm hơn biết bao đối với cha mẹ, ông bà, những người
thân thuộc gần gũi nhất và biết ơn hương linh chư vò tổ
tiên khác ! Chúng ta hiểu được điều này rõ ràng và cảm
nhận nó sâu sắc.
Quả thực
mọi sự vật trong vũ trụ có liên hệ với nhau; ta có thể
nói gì khi con người trên thế giới này không phải là anh
em với nhau ? Người ta chống đối nhau, thù ghét nhau, tấn
công nhau, ngay cả giết nhau. Đây không phải là những gì
mà đời người muốn có. Lý do khiến chúng ta không hiểu
chân lý này là vì chúng ta bị áp đảo vì những đổi thay
ảnh hưởng đến chúng ta và bị mù quáng vì coi trọng sự
được mất nhất thời. Nếu tất cả mọi người đều
có thể nhìn thấy rõ lời đức Phật dạy rằng mọi sự
vật đều vô thường thì họ sẽ được thức tỉnh khỏi
cái ảo tưởng như thế và có thể thực hiện một lối sống
an hòa và đúng đắn trên thế giới này.
CHƯ PHÁP
VÔ NGÃ (Tất cả đều không có ngã):
Giáo pháp
Chư pháp vô ngã dạy rằng tất cả các sự vật trên đời
này, không ngoại trừ gì cả, đều liên hệ với nhau. Không
có cái gì dẫn đến một sự hiện hữu cô lập hoàn toàn
tách biệt với các sự vật khác. Khi chúng ta xét thấy rằng
ngay cả những côn trùng bé nhỏ, chim bay cao trên trời, thông
mọc trên một ngọn đồi xa, đều thuộc cùng một chất liệu
từ khởi thủy từ hàng tỷ năm nay trên trái đất, chúng
ta hiểu ra rằng các sinh vật này đều nhuần thấm cùng một
năng lực sống là cái sinh lực tạo cho chúng ta sự sống.
Đối với đất, đá, mây và không khí, sự việc cũng như
vậy.
Khi chúng
ta chú ý đến hiện tại và xét sự hiện hữu của chính
chúng ta, chúng ta biết rằng chúng ta sống được là nhờ
đất và đá, và chúng ta mang ơn cả đến côn trùng, chim chóc.
Ví dụ, nếu không có mây trên trời, chúng ta sẽ không có
mưa; không có cây mọc thì chúng ta sẽ không có thức ăn.
Nếu không có không khí thì chúng ta sẽ không sống được
dù chỉ trong vài phút. Hết thảy chúng ta đều có mối liên
hệ vô hình nào đó cả với những sự vật mà bên ngoài
có vẻ không dính dáng gì đến chúngta.
Một thí
dụ quen thuộc, dù cho cơ thể chúng ta và các chất vô cơ,
như sắt, có vẻ hoàn toàn khác nhau, thực ra phần lớn thân
thể gồm nước chứa các chất vô cơ, chúng ta sống nhờ
ở các chất vô cơ như muối, calcium, sắt và đồng. Sự việc
này chứng tỏ các sự vật hiện hữu trong quan hệ lẫn nhau
và tùy thuộc nhau. Hiển nhiên rằng đối với những người
khác, chúng ta có mối liên hệ, gần gũi, mạnh mẽ hơn thế
nhiều.
Cố Bác sĩ
Albert Schweitzer, người được giải Hòa bình Nobel, đã làm
việc với tư cách một nhà truyền bá y học trong hơn bốn
mươi năm giữa những người châu Phi tại Lamberance, Gabon,
là một trong những người vĩ đại nhất của thế kỷ hai
mươi. Người ta kể rằng bác sĩ Schweitzer đã dứt khoát quyết
định cứu giúp người châu Phi vào hôm nghe được bản soạn
tấu cho đàn organ của Bach mà cảm thấy một niềm tin vững
mạnh. Suy nghĩ câu chuyện về bác sĩ Schweitzer, chúng ta không
thể không có ấn tượng sâu xa bởi những nối kết của
nhân quả. Bach đã chết từ lâu, trước khi bác sĩ Schweitzer
nghe nhạc của ông, có thể không bao giờ mơ tới mối liên
hệ giữa chính ông và người châu Phi. Thế mà, một bản
nhạc hay do Bach soạn đã tạo vật xúc tác đưa đến quyết
định lớn lao của nhà học giả trẻ tuổi xứ Alsace, Albert
Schweitzer.
những mắt
lưới. Chúng ta có thể dễ dàng hiểu những người cùng một
xứ sở thì càng được nối kết với nhau chặt chẽ hơn
biết bao! Kinh tế học cho ta một thí dụ về những liên hệ
biểu lộ bên ngoài thực sự được đan dệt sâu đậm hơn
biết bao ! Thuế mà chúng ta trả được dùng cho ai ? Ai trả
tiền bảo hiểm thất nghiệp mà người thất nghiệp nhận
? Những liên hệ vô hình và khó hiểu quả là nhiều hơn chúng
ta tưởng. Chúng ta bị ràng buộc với nhau, và tất cả chúng
ta được thấm nhuần bởi cùng một năng lực sống. Thế
mà sự chống đối, tranh cãi, đấu tranh và giết chóc khiến
chúng ta bị tác động bởi cái tự ngã và khiến chúng ta
sống ích kỷ chỉ vì lợi lạc cá nhân. Đây là lý do quan
trọng khiến chúng ta phải thể nghiệm cái sự thật rằng
không có cái gì có một ngã. Khi chúng ta có một cái
thấy sâu xa hơn về các sự vật, chúng ta hiểu ra rằng, như
trên đã nói, trì trệ ở một cấp độ riêng lẻ hay trở
lại lối sống sai lạc là tội lỗi và xấu xa vì như thế
là đi ngược với tính tất yếu của lịch sử và lối sống
tự nhiên của loài Người mà con người tiến lên từng bước.
Giáo lý của
đức Phật dạy ta rằng tội lỗi và xấu xa vốn không có
gốc gác trên đời này. Chúng hiện hữu là do sự phát triển
thích hợp của đời sống con người bị ngưng dứt hay sự
quay trở lại đường lối sai lầm. Do đó, ngay khi chúng ta
lìa bỏ những sử dụng năng lực một cách tiêu cực như
thế, tức là ngay khi chúng ta thoát khỏi ảo tưởng, cái xấu
biến mất và thế giới ánh sáng của hào quang rực rỡ của
đức Phật hiện ra trước mắt chúng ta. Sự “không tiến
bộ” của chúng ta, sự “không-đến-gần” đức Phật của
chúng ta là tội lỗi và xấu xa vì hành động như thế là
trái với lối sống thích hợp của đời người.
Từ quan điểm
ích kỷ về ngã, chúng ta nghĩ rằng chúng ta có thể làm gì
mà chúng ta muốn chừng nào chúng ta sẵn sàng chấp nhận những
hậu quả của hành động của chúng ta và chỉ yêu cầu được
để cho chúng ta yên, đừng ai can thiệp đến. Tuy nhiên, thái
độ như thế là một sai lầm căn bản, vì cuộc sống của
chúng ta một cách nào đó, có liên hệ với đời sống của
mọi người khác, khiến cái xấu do một người tạo nên dứt
khoát sẽ gây ảnh hưởng đến người khác ở đâu đó, và
sự sơ suất của một người chắc chắn sẽ ngăn chặn bước
tiến của những người khác. Nếu hiểu được điều này,
chúng ta có thể tỉnh ngộ mà nhận ra rằng sự trì trệ hay
thối thất của chính chúng ta sẽ cản trở những người
khác, từ đó chúng ta quyết tiến dần lên. Đấy là tinh thần
của giáo lý Chư pháp vô ngã, và đấy là lý do tại sao tinh
thần thực sự của Phật giáo chính là sự nỗ lực không
ngừng.
NIẾT-BÀN
TỊCH TỊNH (Niết-bàn tịch lặng):
Giáo pháp
Niết-bàn tịch tịnh là nguyên lý thứ ba của ba nguyên lý
chủ yếu cơ bản của Phật giáo. Giáo pháp này đã bị ngộ
nhận do người ta hiểu sai từ “Niết-bàn”. Nhiều người
nghĩ Niết-bàn đồng nghĩa với sự chết. Nhóm từ “đức
Thích-ca-mâu-ni nhập Niết-bàn” thường được dùng để
nói đến cái chết của đức Phật. Vì thế, giáo pháp “Niết-bàn
tịch tịnh” đã được hiểu là nhằm trỏ một thiên đường
giống như cõi Tịnh độ của đức Phật A-di-đà mà trong
tông phái Tịnh độ người ta tin là thú hướng lý tưởng
của chúng ta sau khi chết.
Từ Sanskritnirvàna
có ý nghĩa tiêu cực là sự “dập tắt” hay “tiêu diệt”.
Do đó, cảnh giới này cũng có nghĩa là cái trạng thái trong
đó thân thể người ta chết đi hay biến mất. Đồng thời
Niết-bàn nghĩa là trạng thái đạt được do bởi sự dập
tắt mọi ảo tưởng, và đây là ý nghĩa của Niết-bàn được
dùng trong những lời dạy của đức Phật. Trong ý nghĩa thực
sự của nó, từ Niết-bàn nghĩa là trạng thái đạt được
do tiêu diệt hoàn toàn mọi ảo tưởng và trong tương lai sẽ
không bao giờ bị nó cám dỗ. Do đó, các từ “đức Thích-ca-mâu-ni
nhập Niết-bàn” không có nghĩa là sự chết của Ngài mà
là sự chứng ngộ mà Ngài đạt được.
Giáo
lý “Niết-bàn tịch tịnh” dạy chúng ta rằng chúng ta có
thể dập tắt hoàn toàn mọi khổ đau của đời người và
đạt bình an, tịch lặng khi chúng ta diệt trừ mọi ảo tưởng.
Chúng ta đạt tới trạng thái này như thế nào ? Cách độc
nhất là thể nghiệm hai giáo pháp “Chư hành vô thường”
(tất cả các sự vật đều không thường hằng) và “Chư
pháp vô ngã” (tất cả đều không có ngã).
Lý do khiến
chúng ta lo lắng về nhiều thứ khổ đau là chúng ta quên rằng
mọi hiện tượng trên cõi đời này là vô thường, rằng
tất cả các sự vật thay đổi liên tục theo luật nhân quả;
chúng ta bị các hiện tượng đánh lừa và bị ảnh hưởng
bởi sự coi trọng cái được, mất nhất thời. Nếu
chúng ta nghiên cứu con đường đưa đến Phật quả và do
thực hiện con đường ấy, chúng ta thể nghiệm được chân
lý về sự vô thường của tất cả các sự vật, chúng ta
sẽ có thể đạt được trạng thái bình an và tịch lặng
trong đó chúng ta sẽ không bao giờ có thể bị chao đảo vì
những hoàn cảnh đổi thay. Đây là trạng thái “Niết-bàn
tịch tịnh”.
Đôi khi chúng
ta cảm thấy bực bội vì thiếu thốn lương thực, vì thất
bại trong kinh doanh hay vì những tranh chấp cãi cọ. Đấy
là vì chúng ta thiếu sự hài hòa giữa chúng ta với các sự
vật vô tri và với người khác. Tại sao chúng ta không hài
hòa với nhau ? Đấy là vì chúng ta không hiểu được cái
chân lý rằng không có cái gì có một ngã thể (Chư pháp vô
ngã) hoặc chúng ta đã quên chân lý này. Chúng ta có thể đạt
được hài hòa với những người khác một cách tự nhiên
khi chúng ta nhớ chân lý rằng mọi sự vật, mọi người đều
được thấm nhuần bằng cùng một năng lực sống lớn lao
và rằng tất cả các sự vật đều liên hệ hỗ tương một
cách kín đáo, và khi chúng ta sử dụng tốt nhất mối liên
hệ hỗ tương này bằng cách từ bỏ cái ý niệm về ngã,
tức là, bằng cách gia tăng mối liên hệ hỗ tương này để
làm lợi cho chúng ta và cho những người khác. Khi hài hòa
với những người khác, chúng ta có thể loại bỏ sự dư
thừa và thiếu thốn, đấu tranh và xích mích, và có thể
duy trì cái tâm an tịnh. Đấy là trạng thái được diễn
tả trong giáo pháp “Niết-bàn tịch tịnh”. Đấy là một
trạng thái lý tưởng chỉ có thể đạt được bằng sự
thể nghiệm hai giáo lý kia, “Chư hành vô thường” và “Chư
pháp vô ngã”.
Các giáo
lý Bát Chánh đạo và Lục Ba-la-mật dạy chúng ta sống thế
nào để đạt được trạng thái “Niết-bàn tịch tịnh”
và chúng ta nên thực hành các lời dạy của đức Phật để
được như thế. Vì hai giáo lý này có liên hệ mật thiết
với giáo lý Tứ Thánh đế nên sau đây cần giải thích vắn
tắt các giáo lý này.
BÁT CHÁNH
ĐẠO:
Bát Chánh
đạo chính là thấy đúng (Chánh kiến, shò-ken), suy nghĩ đúng
(Chánh tư duy, shò-shi), nói năng đúng (Chánh ngữ, shò-go),
hành động đúng (Chánh nghiệp, shò-gyò), sống đúng (Chánh
mạng, shò-myò), nỗ lực đúng (Chánh tinh tấn, shò-shòjin),
ghi nhớ đúng (Chánh niệm, shò-nen) và Thiền định đúng (Chánh
định, shò-jò). Nhiều giới điều và giáo pháp chứa những
con số như Bát Chánh đạo - được nêu trong kinh điển Phật
giáo. Đấy là do vì vào thời đức Thích-ca-mâu-ni giảng pháp,
người ta không thể ghi chép các giáo pháp của Ngài, nhưng
cần phải nhớ những gì mà họ đã nghe. Do đó, đức Thích-ca
đã dùng các con số khi giảng nhiều giáo lý khác nhau để
người ta có thể dễ dàng ghi nhớ. Tuy nhiên, chúng ta cũng
không cần phải quá câu nệ về các con số như thế.
Những ai
thấy khó nhớ giáo pháp Bát Chánh đạo do cách chia tám như
thế, có thể thấy dễ hiểu hơn bằng cách chia nó ra làm
bốn phần. Phần thứ nhất là mục đích cơ bản của Bát
Chánh đạo, tức thiết lập niềm tin đúng đắn vào một
tôn giáo được xây dựng trên trí tuệ của đức Phật, nhận
thức và lĩnh hội nguyên lý về Thực tướng của mọi Hiện
hữu; phần thứ hai là có thái độ đúng đắn trong đời
sống hằng ngày của chúng ta; phần thứ ba là có cách hành
xử hằng ngày đúng đắn; và phần thứ tư là theo con đường
đúng đắn trong việc thực hành giáo lý của đức Phật.
“Chánh kiến” nghĩa là từ bỏ cách nhìn quy ngã về các
sự vật và có cái thấy đúng đắn của đức Phật. Nói
một cách khác, đấy là quy y Phật. “Chánh tư duy” nghĩa
là không thiên về thái độ quy ngã đối với sự vật, mà
suy nghĩ về sự vật một cách đúng đắn, từ một lập trường
cao hơn. Chánh tư duy dạy ta từ bỏ “ba cái xấu về ý”
(tam tưởng) là dục, sân, hại và suy nghĩ về các sự vật
một cách đúng đắn với cái tâm quảng đại như tâm đức
Phật. Một cách rõ ràng hơn, ba cái xấu này là cái ý tham
muốn (dục) chỉ nghĩ đến sự thủ đắc riêng của mình;
cái ý giận ghét (sân) không ưa thích khi sự việc không xảy
ra như mình mong ước; và ý ác độc (hại) muốn được theo
ý mình trong mọi sự.
Chánh kiến:
Thấy mọi sự vật một cách đúng đắn,, được đặt căn
bản trên trí tuệ của đức Phật,, nhận thức và hiểu nguyên
lý về Thực tướng của mọi Hiện hữu.
Chánh tư
duy: Suy nghĩ đúng đắn,, tránh được ba cái xấu về ý.
Chánh ngữ:
Nói lời đúng đắn,, tránh được bốn cái xấu về miệng.
Chánh nghiệp
: Hành động đúng đắn,, tránh được ba cái xấu của thân.
Chánh mạng:
Kiếm được thức ăn,, thức mặc,, nhà ở và các nhu cầu
hằng ngày theo cách đúng đắn.
Chánh tinh
tấn:Không bao giờ làm điều xấu,, luôn luôn làm điều tốt.
Chánh niệm:Luôn
luôn có niệm tưởng đúng đắn đến cả chính mình và người
khác.
Chánh định:
Luôn luôn nỗ lực để đạt Chánh pháp và an trú trongChánh
pháp.
BÁT
CHÁNH ĐẠO
“Chánh ngữ”
dạy chúng ta sử dụng ngôn từ đúng đắn trong đời sống
hàng ngày và tránh “bốn sự xấu của miệng”: nói dối
(lời nói giả dối), nói hai lưỡi, nói xấu (vu khống), nói
bậy (lời nói không cẩn thận).
“Chánh nghiệp”
nghĩa là sự ứng xử hàng ngày phù hợp với giới luật của
đức Phật. Để được như thế, cần nhất là kềm chế
“ba cái xấu của thân” làm trở ngại những hành động
đúng: sát hại không cần thiết, trộm cắp, phạm dâm hay
ngoại tình.
“Chánh mạng”
nghĩa là thu đạt thức ăn, áo mặc, nhà ở và các nhu cầu
khác của cuộc sống theo một cách đúng đắn. Chánh
mạng dạy chúng ta không kiếm sống bằng công việc nào gây
phiền khổ cho người khác và bằng nghề vô ích cho xã hội,
mà phải sống bằng sự thu nhập chính đáng mà chúng ta có
được nhờ công việc đúng đắn, nhờ một nghề có ích
cho người khác.
“Chánh tinh
tấn” nghĩa là luôn hành xử đúng đắn, không lười biếng
hay đi lệch khỏi con đường chân chánh, tránh những sai lầm
như ba cái xấu về ý, bốn cái xấu về miệng và ba cái xấu
về thân đã nêu trên.
“Chánh niệm”
nghĩa là tu tập bằng cái tâm đúng đắn như đức Phật đã
tu tập. Chỉ có thể thực sự bảo rằng chúng ta có cái tâm
như đức Phật khi nào chúng ta có một cái tâm chân chánh
không chỉ riêng đối với chính mình mà cả đối với những
người khác, và hơn nữa, đối với mọi sự vật. Nếu chúng
ta cứ hy vọng rằng chỉ chúng ta là đúng thì chúng ta sẽ
trở thành kẻ ngoan cố và tự mãn bị đời xa lánh. Chúng
ta không thể bảo rằng chúng ta có cái tâm như đức Phật
nếu chúng ta không chú tâm vào hết thảy mọi sự vật trong
vũ trụ với một cái tâm thanh tịnh và chính đáng.
“Chánh định”
nghĩa là luôn luôn quyết định tin tưởng giáo lý của đức
Phật và không bị dao động vì mọi thay đổi về hoàn cảnh.
Chánh định dạy chúng ta kiên trì tu tập giáo lý của đức
Phật.
Nhìn chung,
học thuyết Bát Chánh đạo là giáo lý trỏ cho chúng ta con
đường chân chánh để sống cuộc sống hằng ngày.
LỤC BA-LA-MẬT
(Sáu sự toàn hảo):
Giáo pháp
này dạy chúng ta về sáu loại tu tập mà chư Bồ-tát cần
theo để đạt chứng ngộ. Sáu Ba-la-mật là bố thí (sự cho,
juse), trì giới (giữ gìn giới luật, jikai), nhẫn nhục (sự
kiên nhẫn, miniku), tinh tấn (sự nỗ lực để tiến bộ, shòjin),
Thiền định (zenjò) và trí tuệ (chie).
Bồ-tát là
một vị không như Thanh văn hay Duyên giác, không chỉ mong cầu
dập tắt ảo tưởng của riêng mình mà còn để cứu độ
những kẻ khác nữa. Do đó, giáo pháp Lục Ba-la-mật có mục
tiêu là cứu độ hết thảy chúng sanh.
Tu bố thí
là thứ nhất trong giáo pháp này. Có ba loại bố thí: bố
thí tài sản vật chất, bố thí Pháp và bố thí sự vô úy
(không sợ hãi, thân thể). Bố thí thứ nhất là cho người
khác tiền bạc, của cải. Bố thí thứ hai chỉ sự dạy dỗ
người khác một cách đúng đắn. Và bố thí thứ ba là gỡ
bỏ những ưu tư, khổ đau của người khác bằng nỗ lực
của chính mình. Không ai là không thể thực hiện một hình
thức bố thí nào đó. Dù cho một người có nghèo khổ đến
đâu, người ấy cũng có thể bố thí cho những người còn
tệ hơn mình hay có thể giúp vào việc công ích bằng sự
bố thí dù nhỏ nhặt, nếu người ấy muốn. Ngay cả một
người hoàn toàn không thể làm được như thế, người ấy
cũng có thể có ích cho kẻ khác và cho xã hội bằng cách
phục vụ. Một người có kiến thức hay trí tuệ về
một lãnh vực nào đó hẳn cũng có thể dạy những người
khác hay dẫn dắt họ ngay cả trường hợp người ấy không
có tiền hay bị trở ngại về thể chất. Dù cho một người
có hoàn cảnh hạn hẹp cũng có thể thực hiện bố thí Pháp.
Nói lên kinh nghiệm riêng của mình cho người khác cũng có
thể là một sự bố thí Pháp. Chỉ bảo người khác về một
toa thuốc hay chỉ đan may chẳng hạn, cũng có thể là một
cách bố thí Pháp.
Điều cần
là chúng ta phải làm sao để có ích cho người khác do thực
hiện ba loại bố thí này trong phạm vi khả năng của chúng
ta. Không cần phải nói, nếu chúng ta thực hiện cả ba loại
bố thí ấy thì thật không gì tốt bằng bố thí là điều
thứ nhất trong các tu tập của vị Bồ-tát, điều này rất
có ý nghĩa.
Tu tập về
trì giới là Ba-la-mật thứ hai trong sáu Ba-la-mật. Trì giới
dạy chúng ta rằng chúng ta không thể thực sự cứu độ người
khác nếu chúng ta không tháo bỏ những ảo tưởng của chính
chúng ta nhờ giới luật mà đức Phật đã ban bố và dạy
rằng chúng ta cần phải tự toàn hảo mình bằng cách sống
một cuộc sống chánh trực. Tuy nhiên, chúng ta không nên nghĩ
rằng chúng ta không thể dẫn dắt người khác là vì chính
chúng ta không toàn hảo. Chúng ta không thể tiến bộ nếu
chúng ta đoạn tuyệt với những người khác trong nỗ lực
sống cho đúng đắn. Điểm chủ yếu của việc nắm giữ
giới luật (trì giới) là phục vụ người khác. Chúng ta càng
làm gì cho người khác thì chúng ta càng có thể nâng cao mình
lên, và chúng ta càng nâng cao mình lên thì chúng ta càng có
thể phục vụ người khác. Cái này tăng cường cho cái kia
vậy.
Ba-la-mật
thứ ba là nhẫn nhục, một đức tính đặt biệt quan trọng
đối với người ngày nay. Đức Thích-ca-mâu-ni có tất cả
các đức hạnh và thành Phật do Ngài kiên trì tu tập. Dù
rằng chỉ nhấn mạnh đến một trong những đức hạnh của
Ngài là có tội với Ngài, nhưng đức hạnh lớn nhất của
đức Phật đối với tư cách như một con người hình như
vẫn là sự độ lượng của Ngài. Tiểu sử của đức Thích-ca-mâu-ni
mà ta đọc hay do kinh kể thế nào đi nữa thì ta cũng không
thấy ghi rằng đức Phật đã từng giận dữ. Dù Ngài bị
ngược đãi nặng nề hay dù các đệ tử Ngài nhẫn tâm chống
lại Ngài và bỏ Ngài mà đi, Ngài vẫn luôn luôn thân ái,
từ bi.
Nếu tôi
được yêu cầu giải thích đặc tính này của đức Phật
với tư cách một con người bằng một biểu từ đơn giản
thì tôi sẽ không ngần ngại đáp rằng “một con người
hoàn toàn độ lượng”. Do đó, tôi nghĩ rằng không có hành
động nào làm cho đức Phật Thích-ca buồn hơn là khi chúng
ta trở nên giận dữ về điều gì và trách mắng người khác
hay khi chúng ta khiển trách người khác vì những sai lầm của
chính chúng ta. Tốt hơn hết, chúng ta nên giữ đừng phạm
những hành động như thế đối với nhau. Một cách vắn tắt,
nhẫn nại là tính độ lượng. Một khi chúng ta kiên nhẫn
theo sự tu tập của chư Bồ-tát, chúng ta không còn trở nên
giận dữ hay trách mắng kẻ khác hay đối với mọi sự vật
trong vũ trụ. Chúng ta có thể than phiền về thời tiết khi
trời mưa và cằn nhằn về bụi bặm khi chúng ta gặp buổi
đẹp trời. Tuy nhiên, nhờ nhẫn nại, chúng ta được một
tâm trí bình lặng thanh thản thì chúng ta biết ơn cả mưa
lẫn nắng. Rồi thì lòng chúng ta trở nên tự tại với mọi
thay đổi trong hoàn cảnh của chúng ta.
Bố thí :
“Khiến người keo kiệt khởi tâm bố thí”: Chân thành phục
vụ cộng đồng và những người khác
Trì giới
: “Khiến người kiêu mạn khởi tâm giữ các giới điều”:
Gỡ bỏ cái tâm kiêu mạn,, tự nhắc nhở và điều ngự
mình.
Nhẫn nhục
:“Khiến người nóng tính khởi tâm nhẫn nhục”: Loại bỏ
sự giận dữ mà chịu đựng.
Tinh tấn
:“Khiến người lười biếng khởi tâm tinh tấn”: Nỗ lực
không ngừng.
Thiền định
: “Khiến người xao lãng khởi tâm Thiền định”: Thanh tịnh
tâm và không bị dao động.
Trí tuệ:“Khiến
người si muội khởi tâm trí tuệ”: Loại bỏ định kiến
và lối suy nghĩ tệ hại nhờ phán đoán đúng đắn.
LỤC BA-LA-MẬT
Khi chúng
ta tiến xa hơn, không những chúng ta sẽ không có cảm thọ
về giận dữ và thù ghét đối với những kẻ gây thương
tổn, sỉ nhục, hay phản bội chúng ta mà chúng ta lại còn
tích cực mong mỏi được giúp đỡ họ. Mặt khác, chúng ta
sẽ không bị dao động vì sự tâng bốc hay ca ngợi điều
tốt mà chúng ta có thể làm, nhưng chúng ta sẽ yên lặng suy
nghĩ về hành xử của chúng ta. Chúng ta sẽ không cảm thấy
cao hơn người khác, nhưng chúng ta sẽ giữ thái độ khiêm
tốn khi mọi sự được suông sẻ. Tất cả những thái độ
này phát sinh từ sự nhẫn nhục. Trạng thái tâm thức này
là đỉnh điểm của sự tu tập nhẫn nhục. Dù chúng ta không
thể đạt ngay liền cái trạng thái tâm thức như thế, chúng
ta cũng đạt được một thái độ từ bi đối với những
ai gây khó khăn cho chúng ta mà ta không ngờ tới. Ít ra chúng
ta cũng phải tiến đến mức độ này. Nếu loại nhẫn nhục
này được mọi người trên khắp thế giới thực hành thì
chỉ riêng như thế cũng sẽ thiết lập được hòa bình và
khiến loài Người được hạnh phúc hơn vô cùng.
Ba-la-mật
thứ tư trong Sáu Ba-la-mật là tinh tấn. Tinh tấn nghĩa là
tiến thẳng lên một mục tiêu quan trọng mà không bị xao
lãng vì những sự việc nhỏ nhặt. Chúng ta không thể bảo
rằng chúng ta tinh tấn khi ý tưởng và hành xử của chúng
ta không trong sạch, dù cho chúng ta nỗ lực học hành tu tập
giáo lý của đức Phật. Ngay cả khi chúng ta nỗ lực học
hành tu tập, đôi khi chúng ta vẫn không đạt kết quả tốt,
hoặc còn có thể thu đạt những hiệu quả bất lợi hoặc
bị trở ngại trong việc tu hành do bởi những người khác;
đấy chỉ là những bóng ma, sẽ biến mất đi khi lặng gió.
Do đó, một khi chúng ta đã quyết định tu Bồ-tát đạo,
chúng ta cần phải duy một lòng tiến đến chí hướng của
chúng ta mà không đi lệch. Đấy gọi là tinh tấn.
Ba-la-mật
thứ năm trong sáu Ba-la-mật là Thiền định, tiếng Sanskrit
là Dhyàna và tiếng Nhật là Zenjò. Zen nghĩa là “cái tâm
tĩnh lặng” hay “tinh thần bất khuất”, và jò là trạng
thái có được cái tâm tĩnh lặng, không dao động. Điều
quan trọng là không những chúng ta phải nỗ lực thực hành
giáo lý của đức Phật mà chúng ta còn phải nhìn hết sự
vật bằng một cái tâm tĩnh lặng và suy nghĩ về sự vật
cho đúng. Được thế chúng ta mới có thể thấy cái khía
cạnh chân thực của mọi sự vật và tìm ra được đường
lối đúng đắn để đối phó với chúng.
Cách nhìn
đúng về các sự vật và năng lực nhận định cái khía cạnh
chân thật của tất cả các sự vật là trí tuệ - Ba-la-mật
thứ sáu trong Sáu Ba-la-mật. Ý nghĩa của từ này không được
giải thích ở đây vì đã được bàn ở trang 44. Chúng ta
không thể cứu người khác nếu không có trí tuệ. Hãy giả
dụ rằng có một thanh niên cùng khổ nằm bên đường. Và
giả như chúng ta cảm thấy thương hại anh ta và cho anh ta
một ít tiền mà không nghĩ đến hậu quả thế nào. Nếu
anh ta hơi nghiện ma túy thì sao ? Anh ta sẽ chộp lấy số tiền
được cho ấy mà dùng để mua ma túy. Như thế, anh ta có thể
trở nên nghiện nặng, kể cả nghiện đến thâm căn. Nếu
chúng ta trao anh ta cho công an thay vì cho anh ta tiền, anh ta sẽ
được gửi đến một bệnh viện và có thể bắt đầu cuộc
đời trở lại. Đây là loại sai lầm mà chúng ta có thể
mắc phải khi thực hiện bố thí mà không có trí tuệ. Dù
đây là một trường hợp cực đoan, những trường hợp tương
tự ở một mức độ nhẹ hơn vẫn xảy ra vào mọi lúc. Do
đó, dù ta có thể làm gì có ích cho kẻ khác hay thực hành
thiện hạnh để cứu giúp họ, nhưng nếu ta không có trí
tuệ thực sự thì lòng từ ái hay tử tế của chúng ta cũng
chỉ là vô hiệu quả. Không có hiệu quả thì lòng từ ái
của chúng ta có thể có kết quả gây hại. Do đó, trí tuệ
là điều kiện tuyệt đối cần thiết trong việc tu tập Bồ-tát
đạo.
Bây giờ,
hãy quay trở lại Phẩm 1 của kinh Pháp Hoa. Ngài Văn-thù (Manjusri)
nói tiếp với Bồ-tát Ma-ha-tát Di-lặc (Maitreya) và tất cả
các vị Đạo sư khác: “Này các Thiện nam tử ! Vì vậy đức
Như Lai Nhật Nguyệt Đăng Minh giảng Pháp riêng cho những ai
mong được là Thanh văn hay Duyên giác và Ngài cũng giảng Pháp
thích hợp với hàng Bồ-tát. Ngài khiến chư vị đạt Toàn
giác và thành tựu Toàn trí. Lại nữa, có một đức Như Lai,
cũng tên là Nhật Nguyệt Đăng Minh cũng giảng cùng Pháp ấy,
và lại nữa, một đức Như Lai, cũng tên là Nhật Nguyệt
Đăng Minh, cũng giảng như thế; và cũng bằng cách như thế,
có hai vạn đức Như Lai, thảy đều mang cùng một tên là
Nhật Nguyệt Đăng Minh.
“Trước
khi đức Như Lai sau cùng trong chư Như Lai này xuất gia, Ngài
là một vị vua và có tám vị vương tử. Tất cả các hoàng
tử này nghe rằng cha mình đã xuất gia và đạt Toàn giác
bèn từ bỏ vương vị mà theo vua cha, xuất gia, vun trồng thiện
căn vào các thời của muôn ức đức Phật. “Bấy giờ đức
Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh giảng bộ kinh Đại thừa tên
là Vô Lượng Nghĩa, tức là Giáo pháp mà chư Bồ-tát được
thuyết dạy và được chư Phật hộ niệm. Khi giảng kinh này
xong, Ngài liền thu nhiếp đại chúng, ngồi kiết-già và nhập
định.
Bấy giờ
mưa hoa đẹp rải lên chư Phật và hết thảy đại chúng.
Ngay khi toàn cõi Phật rung động theo nhiều cách khác nhau,
đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh phóng hào quang từ vòng
lông trắng giữa hai mày chiếu sáng mười tám ngàn Phật độ
ở phương Đông, giống như các cõi Phật đang được thấy
đây vậy.
“Này Di-lặc,
nên biết rằng bấy giờ trong hội chúng có nhiều Bồ-tát
vui mừng muốn nghe Pháp. Tất cả các Bồ-tát này chứng kiến
ánh hào quang kỳ diệu này, muốn biết nguyên nhân và lý do
của nó. Bấy giờ có vị Bồ-tát tên Diệu Quang vốn có tám
trăm đệ tử. Khi đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh xuất
định, do bởi Bồ-tát Diệu Quang, Ngài thuyết kinh Đại thừa
tên là Diệu Pháp Liên Hoa, nhờ đó chư Bồ-tát được thuyết
dạy và kinh được chư Phật hộ niệm trong tâm. Trong sáu
trăm ngàn năm, Ngài không đứng lên khỏi chỗ ngồi và suốt
trong những năm dài này, thính chúng vẫn ngồi tại chỗ, thân
tâm không lay động, nghe đức Phật thuyết giảng mà nghĩ
rằng đấy chỉ bằng khoảng thời gian một bữa ăn”.
Đoạn trên
kể rằng có hai vạn đức Như Lai kế tiếp nhau, tất cả
đều mang cùng một tên và thể hiện cùng một chức năng
(Như Lai, Tathàgata, nghĩa là “vị đã đến từ chân lý”
và là một trong những danh hiệu của đức Phật). Vị Phật
cuối cùng của chư Phật này giảng kinh Đại thừa tên là
Diệu Pháp Liên Hoa. Ngài giảng liên tục trong sáu trăm ngàn
năm, nhưng các thính giả trong hội chúng nghĩ rằng đấy chỉ
bằng khoảng thời gian ngắn của một bữa ăn. Sự giải thích
đầy đủ về ý nghĩa thực sự của câu chuyện này sẽ được
nêu trong phần bàn về phẩm 16. “Như Lai Thọ Lượ ng”.
Tuy nhiên, một cách vắn tắt, câu chuyện kỳ bí này chứng
minh một cách rõ ràng rằng sự chứng ngộ thực sự là một
chân lý vĩnh cửu ở mọi nơi và không bị ảnh hưởng bởi
thời gian và không gian.
Ngài Văn-thù
nói tiếp: “Sau khi giảng kinh này, đức Phật Nhật Nguyệt
Đăng Minh tuyên bố với hết thảy hội chúng: "Hôm nay, vào
lúc nửa đêm, đức Như Lai sẽ nhập Vô dư Niết-bàn". Sau
khi đức Phật nhập diệt, Bồ-tát Diệu Quang đã ghi nhớ
kinh Diệu Pháp Liên Hoa, liên tục diễn giải kinh này cho mọi
người.
“Bồ-tát
Diệu Quang có một đệ tử tên là Cầu Danh. Người đệ tử
này rất ham danh lợi, và dù ông ấy luôn đọc tụng nhiều
kinh mà không thâm nhập thu nhiếp được kinh nào, hầu như
ông quên mất hết. Do đó ông mang tên Cầu Danh. Người này
cũng do đã vun trồng nhiều thiện căn nên có thể gặp được
vô lượng đức Phật mà kính bái, tôn sùng, tôn vinh và ca
tụng. Này Di-lặc, hãy nên biết, Bồ-tát Diệu Quang lúc bấy
giờ chính là tôi đây, trong khi Bồ-tát Cầu Danh chính là
ngài vậy.
“Giờ đây,
tôi thấy điềm lành này cũng không khác điềm lành ngày xưa.
Do đó, tôi xét nghĩ rằng đức Như Lai đây sẽ thuyết giảng
kinh Đại thừa tên là Diệu Pháp Liên Hoa. Này các Thiện nam
tử, hãy chắp tay và nhất tâm mà chờ Ngài thuyết giảng,
chắc chắn Ngài sẽ thuyết giảng rốt ráo chân lý cho chúng
ta và sẽ làm thỏa mãn người cầu đạo”.
Ngài Văn-thù
kết thúc bài giảng như thế, rồi lập lại nội dung bài
thuyết giảng bằng lời kệ. Đến đây, phẩm 1 chấm dứt.
Điều sâu sắc nhất trong phẩm này là giá trị vô cùng của
các năng lực tâm linh của đức Phật.
Điều được
diễn tả sống động trong câu chuyện về đức Phật Nhật
Nguyệt Đăng Minh sau cùng là sự kiện đức Phật Thích-ca-mâu-ni
biết rằng sắp đến lúc Ngài nhập Niết-bàn, đã quyết
định để lại các kinh nghiệm quan trọng nhất về sự chứng
ngộ của Ngài cho hậu thế. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng
bấy giờ thân thể Ngài đã quá yếu vì bệnh và vì tuổi
già. Dù vậy, Ngài vẫn bắt đầu thuyết giảng Pháp rộng
lớn, sâu xa của kinh Pháp Hoa, giáo lý mạnh mẽ nhất, tích
cực nhất và xác quyết nhất của đời Ngài. Chúng ta phải
cúi mình trước sự vĩ đại của năng lực tâm linh và sự
thâm sâu của sự chứng ngộ của Ngài. Và chúng ta chớ quên
rằng năng lực tâm linh của Ngài phát xuất từ lòng từ bi
đối với những kẻ chưa sinh ra thuộc đời sau.