ĂN
CHAY VÀ ĂN MẶN
Nhận
xét về "lời giới thiệu"của T.T Giác-Chánh trong
bản
dịch quyển sách "Vấn-đề Ẩm-thực trong đạo Phật"
Cư-Sĩ
Chơn-Chánh
Nhân
đọc "Lời giới thiệu" của TT. Giác-Chánh trên tập sách
"Vấn đề Ẩm thực trong đạo Phật" do Tỳ-kheo Thích
Thiện-Minh dịch từ tên sách, Sanjivaputta "Are You Herbivore
or Carnivore". England, 1992 , chúng tôi có mấy nhận xét như
sau.
Trong
phạm vi hạn hẹp của bài viết, ở đây chúng tôi chưa đề
cập đến việc ăn chay có những lợi hại nào, hoặc có nên
hay không nên ăn chay, vì vấn đề này đã được các Đạo-hữu
của chúng ta phân tích quá kỹ lưỡng, quá tỉ mỉ rồi.
Bài
viết này chúng tôi muốn dành riêng để đóng góp ý kiến
đối với lời giới thiệu quyển sách trên, do TT. Giác-Chánh
viết.
Một
Cư-sĩ tu Phật mà phê bình bài viết của một Điều-ngự
tử là điều không nên làm. Tuy nhiên như TT Giác-Chánh đã
viết, "với tinh thần phá chấp" thì ở đây không còn có
chỗ nào là phân biệt nữa, nên chúng ta nói với nhau trong
bình đẳng tánh, trong pháp tánh, như pháp mà nói, thì không
có chỗ phạm vậy. Nghĩa là nói mà không có tính cách chỉ
trích cá nhân, không chỗ vướng mắc, trói buộc theo tự ngã,
mà chỉ nói trong tinh thần xây dựng, để tốt đạo đẹp
đời mà thôi.
Trong
phần đầu của lời giới thiệu, Thượng-toạ Giác-Chánh
viết :
"Giòng
Thiền Tào-Khê Trung-Quốc và giòng Thiền Trúc-lâm Việt-nam,
các vị Tổ cũng không quá cố chấp tập quán ăn chay.
Một số nước Phật-giáo Đại-thừa như Mông-cổ, Triều-tiên,
Nhật-bản vv.họ cũng không bảo thủ tục ăn chay".
Chúng
tôi thật bất ngờ không biết TT. Giác-Chánh căn-cứ vào đâu
để quả quyết rằng các vị Tổ giòng Thiền Tào-khê và
giòng Thiền Trúc-lâm "cũng không quá cố chấp tập quán ăn
chay".
Trước
hết, chúng tôi thấy TT. Giác-Chánh cố tình áp đặt sự "cố-chấp
hay không cố chấp" và "bảo thủ hay không bảo thủ" lên chư
vị Tổ sư Thiền-tông, chứ các Ngài hoàn toàn không phải
vậy. Vì sao ? Vì đối với các Ngài, một chút tự ngã còn
chẳng có huống là nói, có cố chấp hay không cố chấp .
Các
Ngài hành đạo tuỳ duyên, không căn cứ vào bất kỳ một
pháp nhứt định nào để giáo hóa chúng sanh; gặp mặn thuyết
mặn, gặp chay thuyết chay, không ngoài mục đích làm cho người
ngoảnh đầu mà nhận ra tự Phật, thế thì làm sao có thể
bảo các Ngài là cố chấp hay không cố chấp được. Vì khi
nói các Ngài"không quá cố chấp", là TT đã vô tình áp đặt
các Ngài còn có tự ngã, có nghĩa rằng các Ngài tự đã có
mầm "chấp" ẩn tàng trong đó rồi. Các Ngài hoàn toàn chẳng
phải vậy. Chỉ có những người thời nay, như TT. Giác-Chánh
chẳng hạn, không biết chút gì về pháp hành của các Ngài
nên mới có những lời quá ư võ đoán và cao ngạo đối với
sự nghiệp giáo hóa chúng sanh của các Ngài mà thôi. Các Ngài
hoàn toàn chẳng phải như vậy.
Phải
hiểu thế nào là "Không quá cố chấp tập quán ăn chay" .
Câu
nói của TT Giác-Chánh không ra ngoài ý nghĩa, người xuất
gia cũng như tại gia muốn ăn chay, ăn mặn gì cũng được,
hoàn toàn buông thả, không câu nệ. Đó là ý nghĩa đích thực
của sự không cố chấp vào tập quán ăn chay vậy.
Vậy
chúng ta hãy tìm hiểu cặn kẽ xem có phải các giòng Thiền
Tào-khê của Trung-hoa và giòng Thiền Trúc-lâm của Việt-nam
không câu chấp trong việc ăn uống, chay cũng tốt mà mặn
cũng hay, nghĩa là không cần lưu ý tới giới luật, đặt
biệt là sát-giới, có đúng như lời vị Tỳ-kheo Giác-Chánh
của thời đại chúng ta nói chăng ?
a).
Các vị Tổ giòng Thiền Tào-khê có buông thả sát giới không
?
Khi
nói đến giòng Thiền Tào-khê, tức là đề cập tới Lục-Tổ
Huệ-Năng, vị Tổ sáng lập giòng Thiền Nam-tông Trung-hoa,
mà Tào-khê cũng là Thánh-địa xuất sanh Tông này sang các
nước khác như Việt-nam, Nhật-bản, Triều-tiên. Cũng như
khi nói đến Bắc-tông là nghĩ ngay đến ngài Thần-Tú vậy
(Nam Năng - Bắc Tú).
Vậy
đối với sự ăn chay, chúng ta hãy xét xem ngài Huệ-Năng đã
nói gì, làm gì đối với vấn đề này, có cố chấp hay không
cố chấp như TT. Giác-Chánh đã nói.
* Chúng
ta hãy xem trong phẩm Tự-Tự, pháp hành của Tổ khi chưa thọ
cụ túc giới : "Lạp nhơn thường linh thủ võng, mỗi kiến
sanh mạng tận phóng chi. Mỗi chí phạn thời, dĩ thái ký chữ
nhục hoa; hoặc vấn, tắc đối viết : "Đãn khiết nhục biên
thái - Bọn thợ săn thường bảo Ngài giữ miệng lưới;
gặp thú mắc lưới, Ngài đều thả hết. Mỗi khi đến giờ
ăn, Ngài lấy rau nấu kèm theo nồi luộc thịt mà dùng qua
ngày; gặp người có hỏi, Ngài nói "Ta chỉ ăn rau luộc mà
thôi".
* Sau
khi thọ cụ túc giới tại chùa Pháp-tánh ở Quảng-châu và
bắt đầu hóa đạo, trong phẩm Quyết nghi, thuyết pháp cho
Vi Thứ-sử và đại chúng, Ngài dạy "Thiện tri thức ! Thường
hành thập thiện, Thiên đường tiện chí; trừ nhơn, ngã Tu-di
đảo -
Này ! Các Thiện tri thức ! nên thường làm mười
điều lành thì ắt tới được Thiên đường. Đoạn lìa nhơn,
ngã thì làm sập núi Tu-di".
* Trong
phẩm Sám-hối, Ngài dạy : "Nhứt, Giới hương tức tự tâm
trung vô phi, vô ác, vô tật đố, vô tham sân, vô kiếp hại,
danh Giới hương - Một là, Giới hương, tức trong tâm không
nghĩ điều trái, không làm ác, không ganh ghét, không tham không
giận, không giết hại, gọi là Giới hương".
Vậy
thế nào là giới tham, giới giết hại, chúng tôi xin nhường
lại cho người tu Phật luận bàn.
Chỉ
ba đoạn trích ngắn trong kinh Pháp-Bảo-đàn, chúng ta đã thấy
rõ lòng từ bi cũng như pháp dạy người của Ngài, không rời
lìa tự tánh và luôn luôn làm các hạnh lành mà sát giới
là hạnh quan-trọng đầu tiên trong mười hạnh mà Ngài khuyên
cần phải chơn chánh tu trì.
Vậy
thì giòng Thiền Tào-khê mà đại diện là Lục-Tổ Huệ-Năng,
người sáng lập ra giòng Thiền này có buông thả việc sát
sanh hại mạng chăng?
Bỡi
vì sao? Tấm gương mà Ngài đã làm lúc còn chưa thọ cụ túc
giới, bất đắc dĩ phải sống mai danh ẩn tích trong chốn
thợ săn, thế mà Ngài cũng không hề phạm sát giới và vẫn
ăn chay, mặc dù điều kiện sinh sống lúc ấy của Ngài vô
cùng khó khăn, gian khổ. Vậy thì khi hành đạo lẽ nào lại
buông thả giới sát ?
Cũng
như Ngài dạy cho Vi Thứ-sử và đại chúng hành thập thiện,
mà trong mười hạnh lành này, không sát hại chúng sanh để
nuôi sống, làm lợi cho tự thân là hạnh đứng đầu.
Lại
nữa, đối với người tu Phật, muốn cứu cánh viễn ly phiền
não, đoạn lìa tử sanh, không thể không tu Giới, Định, Huệ
. Mà Giới lại là pháp đứng đầu . Có Trì Giới thì Định
mới sanh; Định sanh thì Huệ sáng. Cho nên Lục tổ không lúc
nào không dạy người phải chơn chánh trì Giới. Mà trong Giới
có phần không giết hại tất thảy các chúng sanh nói chung
trong đó. Mà ăn chay tức là Giới được sát sanh, hại mạng
vậy.
Thế
thì lời của TT. Gíac-Chánh áp đặt cho giòng Thiền Tào khê
là buông thả giới sát là hoàn toàn võ đoán và phạm thượng
vậy. Đây là chúng tôi chỉ nói trong một phạm vi nhỏ hẹp,
lấy riêng Pháp-Bảo đàn kinh mà nói thôi, chứ nói cách bao
quát "giòng Thiền Tào-khê" thì chúng tôi có thể dẫn chứng
suốt từ Lục-Tổ cho đến ngày nay, chỉ ra chỗ sai lầm trong
câu nói của TT Gíac-Chánh, tới chết cũng không nói hết.
b).
Các vị Tổ của giòng Thiền Trúc-Lâm Việt-nam có buông thả
sát giới không ?
* Trong
quyển Tam Tổ Thật Lục, là Kim-chỉ nam của giòng Thiền Trúc-lâm
Việt-nam, có đoạn nói về Điều-ngự Giác-Hoàng, lúc Ngài
còn chưa xuất gia :
"Tuy
vinh xử cửu trùng nhi thanh tịnh cư. Thường cam sơ tố, bất
ngự huân thiện - Tuy ở chốn cửu trùng cao sang mà vua vẫn
sống thanh tịnh. Ngài thường dùng trai lạt, mà không ăn đồ
tanh hôi (mặn)".
* Lại
cũng có đoạn nói sau khi Ngài xuất gia và đi hóa đạo:
"Giáp
Thìn, thập nhị niên, châu hành tụ lạc, hóa trừ dâm từ,
giáo hành thập thiện - Năm Giáp Thìn, niên hiệu Hưng-Long
thứ mười hai, Điều-Ngự đi khắp xóm làng dạy dân phá
bỏ các dâm từ (đền thờ tà thần) và thật hành thập thiện".
* Người
nối pháp Điều-Ngự là Nhị-Tổ Trúc-lâm Pháp-Loa Tôn-giả
cũng dạy giữ giới, hành thập thiện mà sát giới là giới
đứng đầu cần phải nghiêm trì.
Đệ
Nhất Tổ Đầu-đà Trúc-lâm lúc chưa xuất gia, còn sống tịnh
cư, ăn chay, đến khi xuất gia hành đạo dạy người cũng
răng dạy chúng sanh hành mười việc thiện, đến các Tổ
cũng noi theo gương ấy mà giáo hóa chúng sanh.
Thế
mà TT. Giác-Chánh bảo là giòng Thiền Trúc-lâm Việt-nam không
cố chấp tập quán ăn chay. Thật là lời điên đảo .
2.
TT. Giác-Chánh nói : "Riêng tôi thì không chê đồ chay, nhưng
không chấp nhận thành kiến ăn chay, có lẽ ảnh hưởng tinh
thần Bát nhã".
Trước
hết, chúng tôi khẳng định cùng TT Giác-Chánh rằng chỉ với
23 từ (lời) trong một câu nói ngắn trên của TT, đã đủ
minh chứng rằng, TT. không có một chút gì dính dấp tới Bát-nhã
cả. Đó là chưa nói tới hai chữ "tinh thần Bát nhã" mà TT
đã dùng.
Bát-nhã
là Bát-nhã, mà chẳng phải là gì cả, nên hoàn toàn không
có chút gì có thể gọi là "tinh thần" Bát-nhã cả. Cũng như
nói Phật là Phật, Tâm là Tâm chứ không thể nói tinh thần
Phật, tinh thần Tâm được. Phật là Tâm, Tâm là Phật, Bát-nhã
là Phật, mà Phật thì chẳng có tinh thần. Đến hai chữ Bát-nhã
cũng chỉ là giả danh, tạm mượn để gọi chỗ tuyệt đối,
không năng không sở, không khác không hai, phi đối đãi thì
làm gì có tinh thần Phật, tinh thần Bát nhã trong đây.
Phật
dạy ông Tu-Bồ-Đề trong kinh Kim-Cang Bát-nhã:
"Tu-bồ-đề
! Phật thuyết Bát-nhã Ba-la mật, tức phi Bát-nhã Ba-la mật,
thị danh Bát-nhã Ba-la mật - Này ! Tu-Bồ-Đề ! Như-lai nói
Bát-nhã Ba-la mật, tức chẳng phải Bát-nhã Ba-la mật, chỉ
tạm cưỡng gọi là Bát-nhã Ba-la mật mà thôi".
Đó
có nghĩa là Phật là Bát-nhã Ba-la mật, ông Tu-Bồ-đề mà
nhận được ra nó thì cũng tự một trong Bát-nhã Ba-la mật
mà miệng lưỡi chẳng thể với tới. Đến cái tên gọi mà
còn chẳng thật có, huống là có "tinh-thần Bát-nhã". Nói
tinh-thần Bát-nhã cũng chỉ là môi mép, khoe mẽ chứ thật
đã biết nó rồi thì không thể mở lời mà nói trói buộc
như thế được. Vì Bát-nhã hoàn toàn chẳng có tinh thần
nào cả, như nói tiếng "Phật" là Phật, không khác.
Cho
nên chỗ nói "không chê đồ chay, nhưng không chấp nhận thành
kiến ăn chay, có lẽ do ảnh hưởng tinh thần Bát-nhã"của
TT Giác-Chánh hoàn toàn trói buộc trong tư tưởng và sáo rỗng,
khoe mẽ trong cách dùng từ, tịnh không có chút gì tương ưng
trong thực tế.
Vì
sao chúng tôi nói trói buộc và sáo rỗng ? Chúng tôi sẽ chỉ
ra giùm cho TT.
Trước
hết, trong chỗ riêng tư của TT, câu nói của TT rằng, tôi
không chê đồ chay, có nghĩa là TT thật tâm tỏ lộ mình đang
có chỗ ăn mặn, cho nên nếu có chay thì ăn cũng được chứ
không chê nó.
Thứ
nữa, TT là người xuất gia, lời nói phải oai nghi để người
ta khỏi phải hiểu lầm về mình, nếu thật tâm mình không
ăn mặn. Câu nói phù phiếm gần như nửa đùa, nửa thật
"tôi không chê đồ chay nhưng .", mới nghe qua, nhiều người
liền nghĩ ngay là TT đang ăn mặn, đó là điều khó tránh
khỏi.
Vẫn
biết việc TT làm không can hệ gì tới chúng tôi, nhưng trong
lời tựa, lời giới thiệu, là những trang đầu tiên và trọng
đại đối với một cuốn sách, là chỗ làm cho người ta
chú ý nhiều nhất, đánh giá quyển sách nhiều nhất mà TT
nói không trang nghiêm, không hợp với đạo đức của một
Tỳ kheo của Phật, dễ làm cho người hiểu lầm mà lung lay
tín tâm, là điều không thể chấp nhận được.
Bỡi
vì sao ? Nhiều người như chúng tôi đọc đến câu ngắn ấy,
liền tự nghĩ : "ông tăng này tu Phật mà nói chê hay không
chê cơm chay" thì làm sao tu được. Vì trước hết, nếu ông
ta thật sự chê thì không cách gì sống nổi để tu, còn nếu
muốn sống phải phạm giới. Vả lại ông ta tu pháp thanh tịnh,
là Bất-Nhị Pháp-Môn mà mở miệng đã bị ràng buộc vào
các pháp Thường, Đoạn rồi ( chê, và không chê) thì ông
này nếu không rơi vào tà kiến ắt phải rơi vào đoạn diệt
tướng không sai.
Lại
nữa, đã là người tu Phật sao lại nói là "không chấp nhận
thành kiến ăn chay". Ăn chay sao lại gọi là thành kiến. Bộ
ăn chay là xấu, là trái với luân thường đạo lý, là nghịch
với mỹ tục của người mình, của đạo Phật hay sao mà
nói thành kiến với không thành kiến trong đây.
Bài
tựa của một Thượng-tọa trên một quyển sách có khác nào
một bài pháp, tuỳ duyên giáo hóa. Vì nếu đã là Tỳ-kheo
thì phải Như-Pháp mà thuyết, là chỗ nào cũng có thể thuyết
được, cũng có thể làm lợi cho người được; nghĩa là
thuyết từ trong Pháp-tánh, cũng là không lìa tự tánh mà thuyết
vậy.
Thế
mà chỉ một câu ngắn của TT đã gồm đủ cả trói buộc,
sáo rỗng thì pháp nào TT có thể dẫn người đến giải thoát,
tức là lìa dính mắc của hai bên.
Ăn
chay mà là thành kiến à?. Nếu đã có thành kiến với nó
thì làm sao có thể làm tăng, làm cư-sĩ mà tu Phật được.
Hoặc giả, TT có thể nói lại, tôi tu thì tôi ăn chay, nhưng
tôi không chấp nhận thành kiến ăn mặn đối những những
thiện nam tín nữ tu tại gia. Chuyện gì mà TT phải lo cho người
ta không ngon miệng, hay là TT thương người mà căm ghét thú
vật? Nói như TT đó thì hoàn toàn không thể chấp nhận được,
vì người xuất gia tu Phật mà lại nói lên cái điều đi
ngược lại đức "hiếu-sinh" của Tổ Phật (phải thể hiện
đức hiếu sinh đối với tất thảy chúng sanh). Bỡi vì các
Ngài lúc nào cũng khuyến khích con người thật hành đức
hiếu sanh mà. Nếu một người bình thường như ông Chính-Trực
chẳng hạn mà nói ra câu này, thì tạm có thể chấp nhận
được, vì dù sao ông ta cũng chỉ là một thân cận nam của
nhà Phật, cùng lắm là chỉ làm thập hạnh. Còn riêng với
người xuất gia, đã thọ đầy đủ tất cả Giới (Cụ-túc
Giới), chẳng những không khuyến khích người ta mở rộng
lòng từ bi mà ban ban vui cứu khổ đối với loài vật thì
chớ, TT lại nói gần như khuyến khích người khác làm ngược
lại giới hạnh của Thế-tôn đã dạy không bằng. Thế thì
lòng "từ" TT để ở đâu ?
Tất
thảy chúng sanh đều có Phật tánh. Tiền nhân bao kiếp trước
của TT, của chúng tôi biết đâu cũng có trong số những chúng
sanh đang chờ người ta thọc huyết, trấn nước hay sắp bẻ
cổ kia.
TT
nói, TT không chấp nhận thành kiến an chay vì có lẽ ảnh
hưởng tinh- thần Bát-nhã. TT làm gì mà nhận ra Bát-nhã mà
nói ảnh hưởng với không ảnh hưởng. Nếu đã có chút xíu
Bát-nhã trí sanh trong tâm TT thì không bao giờ TT nói ra những
lời như thế. Đó là điều chơn thật. Vì khi hành giả tự
một với nó thì liền có chỗ thấy biết như thật rằng,
vạn loại chúng sanh cùng mình đều từ trong chỗ một tuyệt
đối của tánh Phật; mà cùng tột tánh này không ngoài tình
thương bao la, rộng lớn đối với hàm-linh hữu tình, như
cha mẹ thương con không chỗ phân biệt.
Người
đã thâm nhập Bát nhã là người tự một với Bát nhã, mà
không còn thấy có tinh thần nào hết. Kim-Cang là Kim-Cang, mà
cũng chẳng có tinh thần nào là Kim-Cang hết. Hễ tự một
được trong nó, cũng là kiến tánh thì không năng không sở,
không khác không hai với nó, chứ chẳng có gì là tinh thần
để ảnh hưởng hay không ảnh hưởng hết. Chỗ nói ảnh
hưởng đó chỉ là vọng tưởng của tự tâm trong chỗ vọng
cầu, vọng thấy mà thôi.
Một
khi TT đã "một" được với nó rồi thì TT sẽ không bao giờ
nói một câu không ra gì như : "tôi không chấp nhận thành
kiến ăn chay".
Chỉ
một câu này đã đủ nói lên TT chưa là gì cả đối với
Bát nhã vậy, vì nó đã tự lìa xa Bát-nhã . Hễ được thì
nó đã tự saün một cùng mình, không đâu không mình là một
nó; bằng chưa được thì ngàn trùng xa thẳm, dẫu cố kiếm
tìm muôn kiếp cũng không ra, chứ nói chi là ảnh hưởng với
không ảnh ảnh; bỡi nó có phải là tướng giả hợp của
sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, của thọ, tưởng, hành
, thức đâu mà nói có tinh thần hay có ảnh hưởng.
Phật
dạy "Nhược thế giới thật hữu giả, tức thị nhứt hiệp
tướng. Nhứt hiệp tướng giả, tức bất khả thuyết - Bằng
thế giới mà thật có, thì đó tức là tướng Nhứt hợp.
Tướng Nhứt hợp đó, nói không thể tới vậy".
Bát
nhã là Nhứt hợp tướng, là tướng nhứt hiệp, là chơn tánh,
là chơn-như mà nói không thể tới vậy.
Cho
nên, Bát nhã đâu đâu cũng có mà không có tinh thần để
TT có thể ảnh hưởng. Chỉ tùy duyên mà tỏ cùng không, chứ
Bát-nhã chẳng có tinh thần. Thí như nói, người chết là
hoàn toàn hết thở, mà hoàn toàn hết thở là chết, chứ
chẳng thể nói rằng, tôi đã chết mà còn thở (còn nói)
được.
Chỗ
mà TT nói là tinh thần Bát nhã chỉ là tưởng tượng để
loè người.
Nếu
TT là Bát nhã, Bát nhã là TT, thì chổ thuyết của TT sẽ không
lìa tữ tánh, sẽ không năng không sở, chứ chẳng phải ràng
buộc đủ thứ như chỉ trong một câu nói ngắn ở trên mà
có đủ cả tứ tướng.
Chúng
tôi biết ý TT muốn nói rằng, TT là người đã đạt đạo,
đã vô ngã, đã thõng tay vào chợ, là Thánh rồi, nên không
còn có cái tâm nề hà, câu chấp gì về chuyện chay mặn cả.
Nghĩa là đối với TT thì sao cũng được, TT đến đi đã
tự tại, an nhiên rồi.
Thưa
! Chưa được gì cả đâu! Tâm chưa như-như đâu. Bằng chứng
là bốn tướng còn hiện to đùng trong mỗi câu nói của TT.
Lại nữa, trong chỗ vi tế, điều mà TT nghĩ suy, và có ý
muốn khoe ra đó, chính là sợi dây trói buộc của tự ngã,
và hoàn toàn đi ngược lại, là chống lại Bát-nhã vậy.
Chỉ
một câu nói ngắn mà còn chưa hết phàm tình, chưa rổng rang
không một ý, chẳng phải từ tự tánh xuất sanh thì làm sao
TT có thể nói là có chỗ tự chứng để không còn biết phân
biệt chay mặn, thiện ác được. Thật khổ tâm !
Vì
TT lấy Lục Tổ ra nói, nên chúng tôi mới đem Pháp Bảo đàn
ra nói chuyện cùng TT.
Lục
Tổ nói : Ngột ngột bất tu thiện,
Đằng
đằng bất tạo ác,
Tịch
tịch đoạn kiến văn.
Đãng
đãng tâm vô trước.
Tạm
dịch : An nhiên không tu thiện.
Tự
tại ác chẳng làm.
Lặng
lẽ lìa nghe thấy,
Vô
sở trụ, tâm trụ.
Lục
Tổ Huệ-Năng lại cũng nói :
Tâm
bình hà lao trì giới,
Hạnh
trực hà dụng tu thiền.
Tâm
bình đẳng chẳng đợi giữ giới,
Hạnh
thẳng ngay không đợi tu Thiền.
Thế
nào là "an nhiên không tu thiện", thế nào là "tự tại ác
chẳng làm" ?
Là
đã tự thể hiện cái tâm nhứt như, bình đẳng rồi, nên
mới được như thế.
Tại
sao Tâm bình thì chẳng cần trì giới, Hạnh trực thì chẳng
đợi tu thiền ?
Đó
là đã tự sống "một" trong Pháp-giới tánh, cũng là thể
hiện cái tâm tuyệt đối sáng trong, như như, bình đẳng,
cùng một với pháp giới tánh không hai không khác.
Thế
TT Giác-Chánh đã "một" trong Pháp-tánh chưa, đã tự một với
bình đẳng tánh chưa mà TT tuyên bố là với tinh thần phá
chấp mà TT nói và làm như thế.
Thưa
! Đây chẳng phải là tinh thần phá chấp gì ráo, mà là tinh
thần phá giới và khuyến khích người phá giới thì có!
Phật
tử mà nghe TT Giác-Chánh thuyết kiểu này ắt trở thành dân
ma hết.
Nếu
TT thật sự "vô chấp", trọn một trong Pháp tánh, Bình đẳng,
như-như, không ngã, không nhơn , không chúng sanh, không thọ
mạng, thì lời nói của TT không phải bị trói buộc từng
câu từng chữ như thế này đâu. Tôi sẽ chỉ ra cho TT trong
những bài viết sau nếu có dịp.
TT
Giác-Chánh viết "Soạn giả cũng như dịch giả của tập sách
này chắc chắn không có ý chỉ trích hay xuyên tạc người
ăn chay, chỉ muốn
biện minh vấn đề ăn chay không phải
là một trong tám muôn bốn ngàn pháp môn của đức Phật Gotama,
mà chỉ là "Giáo ngoại biệt truyền" thôi.
Tại
sao lại có Giáo ngoại biệt truyền lọt vô trong này.
À
thì ra ông TT này chơi chữ cho thiên hạ khớp mà thôi chứ
ý nghĩa câu trên (chay mặn) chẳng có chút gì dính dấp tới
ông già Hồ mắt xanh cả. Đây chỉ là một cách loè người
bằng chữ nghĩa.
Tại
sao chúng tôi dám khẳng định là TT loè ?
Bỡi
vì trong lời giới thiệu cho quyển sách, TT nói nào là tinh
thần phá chấp (Vô-chấp, Vô-ngã), nào là tinh thần Bát-nhã
mà thật ra TT chẳng thể hiện một chút gì là vô ngã cả,
chí ít là trong lời nói; cũng như tâm thể hiện hoàn toàn
trói buộc với sanh diệt pháp mà chẳng có chút gì rổng rang
không dính mắt của lẽ như ( tự thể hiện trong lời nói
của TT), và cũng chẳng có chút gì dính dấp tới Bát nhã
trong này cả.
Đã
nói là phá chấp mà còn viết : "Tôi không chê đồ chay, nhưng
tôi không chấp nhận thành kiến ăn chay".TT phá chấp, vô ngã
cái kiểu này thì những người nghe TT giảng pháp ắt là vào
tà kiến, đoạn diệt hết. Đó là do tâm TT còn chất chứa
vô số chấp, nhứt là tâm cống cao, ngã mạn.
Trong
lời giới thiệu, TT. Giác-Chánh có nói "Thành thật mà nói,
tục lệ ăn chay do các tu sĩ Phật giáo về sau xu hướng theo
Bà-la-môn (Aán-độ giáo) ở Aán-dộ và đaọ Tiên ở Trung-Quốc
để dễ thu hút tín đồ của họ, như ngài Huệ năng nói
:
"Muốn
lo toan độ thế,
Phương
tiện phải saün sàng.
Chớ
để người nghi hoặc
Tánh
họ mới minh quang".
Thiệt
tình chúng tôi không biết TT này nói gì. Ở phần trích dẫn
phía trên, đang nói về việc chay mặn, ông ta đem đút ông
già Hồ vào (Giáo Ngoại Biệt Truyền), không chút gì ăn khớp
với ý của bài viết. Còn ở đây thì đem việc chay mặn
của các tu sĩ Phật giáo có xu hướng theo Bà la môn Aán độ
và Đạo-giáo ở Trung quốc ra nói, rồi cắm vào đó bốn
câu rút ra từ trong "bài kệ vô tướng" của Lục-Tổ không
dính dấp, ăn nhập gì tới chuyện chay lạt hết, như thể
lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia vậy, thật là xà bát, chứ
chẳng thấy có chút gì là Bát-nhã cả.
Nguyên
lai bốn câu kệ ấy ở trong bài kệ vô tướng mà Lục tổ
dạy người nên tu.
Dục nghị hóa tha nhơn,
Tự tu hữu phương tiện.
Vật linh bỉ hữu nghi.
Tức thị tự tánh hiện,
Nếu muốn hóa độ người
Tu và có phương tiện.
Chớ để người nghi lầm,
Tức là tự tánh hiện.
TT thuyết
cái kiểu này, những người đọc như chúng tôi nghe qua, xem
qua rồi bỏ thì được, chứ nếu động não để mà hiểu
cho được ý TT muốn nói gì, thì ắt là tẩu hỏa nhập ma
mất.
Kính
thưa quý vị,
Tình
cờ, Hướng tôi đọc được bài dưới đây của một vị
tỳ kheo viết để giới thiệu tập sách "Vấn đề ẩm thực
trong Phật giáo" do một vị tỳ kheo khác viết. Người viết
bài giới thiệu tự giới thiệu về bản thân là..."...không
chê đồ chay nhưng không chấp nhận thành kiến ăn chay, có
lẽ ảnh hưởng tinh thần Bát nhã "..."..thấy các vật thực
vốn là nguyên chất đất, nước, lửa, gió..."...ăn mặn nói
ngay, ăn chay nói dối ..."..."Với tinh thần phá chấp, tôi xin
trân trọng giới thiệu ...." vân vân và vân vân ...
Hướng
tôi có mấy điều lấn cấn trong tâm như sau, xin trình ra với
chư vị Sứ Giả Như Lai, chư Đại Thiện Tri Thức và quý
đạo hữu:
---Phải
chăng tinh thần Bát Nhã trong đạo Phật là tu sĩ được tự
do thoải mái ca ngợi sự ăn thịt chúng sinh, tự biện minh
rằng " cá thịt nhưng không phải là cá thịt, nếu lúc ăn
có "chánh niệm tỉnh giác", thấy các vật thực vốn là nguyên
chất đất, nước, lửa, gió ..", nếu vậy, khi thấy người
khác phái, ôm chầm lấy với tinh thần Bát Nhã, thấy "ngưới
khác phái nhưng không phải là người khác phái" ...,... thấy
thây người chết cháy cũng ăn thịt họ luôn , coi như thịt
quay vì "...vốn là nguyên chất đất, nước , lửa, gió ..",
được chăng?
Vị
này dùng từ ngữ " đồ chay mà tâm mặn" để nói móc những
người ăn những món chay có tên giả món mặn như thịt quay,
cá kho v.v... Hướng tôi cầu sao cả thế giới đều chỉ ăn
toàn đồ chay với tên mặn, như vậy, cả thế giới sẽ thoát
được nợ máu lẫn nhau, cha mẹ đời quá khứ của Hưởng
tôi (đức Phật dạy rằng"Tất cả chúng sinh đều là cha
mẹ đời quá khứ và là chư Phật tương lai") sẽ không còn
phải sống trong đau thương khốn khổ trong những trại tù
suốt cả cuộc đời, kết thúc bằng cái chết kinh hoàng,
treo dốc đầu xuống bằng chân sau, để lãnh nhát dao của
người đao phủ (hay nhiều nhát dao mới chết đi được) kết
thúc cuộc đời khốn khổ , ngõ hầu thỏa mãn những cái
lưỡi tham ăn ngon, trong số đó có cả những vị tu sĩ trong
đạo Phật từ bi, bình đẳng, dùng "tinh thần Bát Nhã" để
ngụy biện cho sự ăn thịt chúng sinh (chẳng biết khi ăn các
vị đó có tinh thần Bát Nhã không, chứ lúc viết bài này,
Hướng tôi nghi rằng chỉ có tinh thần "tham ăn thịt chúng
sinh cho ngon miệng", một trong ba độc Tham Sân Si , chi phối
ngòi bút, mà thôi !!!)
Kính
thưa quý vị đang ăn những món "chay giả mặn":
Xin
quý vị cứ việc "ăn chay mà tâm mặn " đi, dầu sao, quý vị
đã cứu cha mẹ đời quá khứ của tôi thoát khỏi sự thống
khổ, đã cứu dòng nghiệp lực của chư vị thoát xiềng xích
nợ máu lẫn nhau, thanh lọc bầu trời không bị những làn
sóng tâm thù hận, kinh hoàng làm ô nhiễm...,xin quý vị hãy
nhận nơi đây muôn ngàn đảnh lễ của Cung Đình Hướng !
Sau
đây, Hướng tôi xin kính gửi tới toàn thể chư vị những
lời Phật dạy trong kinh Tâm Địa Quán:
..."...Các
ông Tỳ khưu! Các ông nghe cho kỹ! nghe cho kỹ!
Vào
bể Phật pháp, TÍN là căn bản, qua sông sinh tử, GIỚI là
thuyền bè. Nếu người xuất gia không giữ giới cấm, tham
trước khoái lạc ở đời, hủy giới quý báu của Phật,
hoặc mất chánh kiến, vào rừng tà kiến, dẫn vô lượng
người rơi xuống hố sâu lớn, Tỳ khưu như thế không gọi
là xuất gia, chẳng phải Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn, hình
tựa Sa-môn, tâm thường tại gia, Sa-môn như thế không có
hạnh viễn ly (xa-lìa).
Hạnh
viễn ly có hai thứ:
---Một
là, thân viễn ly
---Hai
là, tâm viễn ly
Thân
viễn ly , như người xuất gia ở nơi thanh vắng, không nhiễm
dục cảnh là "thân viễn ly". Thân tuy xa lìa thế tục , nhưng
tâm tham dục cảnh, người như thế không gọi là viễn ly
được. Như tịnh-tín-nam và tịnh-tín-nữ, thân ở nơi làng
xóm, phát tâm vô thượng, lấy tâm đại từ bi đem lại lợi
ích cho hết thảy, tu hành như thế là "chân viễn ly". Lúc
đó , lục quần Tỳ khưu ác tính nghe pháp âm ấy được "Nhu-thuận-nhẫn".
Nam
mô đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn Linh Cảm Quán Thế
Âm Bồ Tát .
Kính
bái,
Cung
Đình Hướng
Xin
post lên nguyên văn bài giới thiệu đã được đề cập:
Lời
giới thiệu
Mạnh
Tử nói "Kiếm ký sanh bất nhẩn thực kỳ nhục", nên "Quân
tử bất nhập trù phòng". Tuy có quan niệm như vậy, nhưng
các nhà Nho đâu có ăn chay, có lẽ gần giống quan điểm "Tam
Tịnh Nhục" của Phật giáo .Thành thật mà nói: tục lệ ăn
chay do các tu sĩ Phật giáo về sau xu hướng theo Bà La Môn
(Ấn Độ giáo) ở Ấn Độ và Đạo Tiên ở Trung Quốc để
dễ thu hút tín đồ của họ, như ngài Huệ Năng nói:
"Muốn
toan lo độ thế
Phương
tiện phải saün sàng
Chớ
để người nghi hoặc
Tánh
họ mới minh quang"
Giòng
Thiền Tào Khê Trung Quốc và giòng Thiền Trúc Lâm Việt Nam,
các vị tổ cũng không quá cố chấp tập quán ăn chaî Một
số nước Phật giáo Đại Thừa như Mông Cổ, Triều Tiên,
Nhật Bổn v.v...họ cũng không bảo thủ tục ăn chay, với
họ thì "quân tử ưu đạo bất ưu thực" cũng như người
Việt Nam thường nói "ăn để sống chớ không phải sống
để ăn"; hay là "tham lam sân hận không chừa, bo bo mà giữ
tương dưa ít gì!"; hoặc "uổng ngật mê chay nan liễu đạo,
khống đồ xướng niệm đạo nan thành!"
Riêng
tôi thì "không chê đồ chay, nhưng không chấp nhận thành kiến
ăn chay", có lẽ ảnh hưởng tinh thần Bát nhã "cá thịt nhưng
không phải là cá thịt" (nếu lúc ăn có chánh niệm tỉnh
giác, thấy các vật thực vốn là nguyên chất đất, nước,
lửa, gió...), "tuy không phải cá thịt nhưng là cá thịt" (bởi
khi ăn các món chay mà hình thức lẫn tên gọi đều là đồ
mặn như thịt quay, cá kho v.v...đồ chay mà tâm mặn). Vì vậy
mới bị người ta phê bình là "ăn mặn nói ngay, ăn chay nói
dối"
Soạn
giả cũng như dịch giả tập sách này chắc chắn không có
ý chỉ trích, xuyên tạc người ăn chay, chỉ muốn biện minh
vấn đề ăn chay không phải là một trong tám muôn bốn ngàn
Pháp môn của đức Phật Gotama mà chỉ là "giáo ngoại biệt
truyền" thôi!
Với
tinh thần phá chấp, tôi xin trân trọng giới thiệu tập
sách "Vấn đề ẩm thực trong Phật giáo" do Tỳ
Kheo Thích Thiện Minh dịch, đến chư Phật tử đọc và
suy gẩm.
Biên
Hòa ngày 20-6-99
Thượng
Tọa Giác Chánh
Trưởng
Ban Văn Hóa Phật Giáo, Tỉnh Hội Đồng Nai