CHƯƠNG
11
MỘT
SỐ THỰC PHẨM CÓ DƯỢC TÍNH
NGĂN
NGỪA BỆNH TẬT
Càng
ngày càng có nhiều khoa học gia trên thế giới khuyên bệnh
nhân của mình nên ăn uống cẩn thận để phòng bệnh, và
một số trường hợp để trị bệnh, mà không cần sử dụng
thuốc.
Các
chuyên gia nghiên cứu chế độ ăn uống của Anh đã đưa ra
danh sách những thức ăn mà ở chừng mực nào đó có đặc
tính chữa bệnh, nhờ những chất tích cực có trong đó:
Chất
kháng sinh: Tỏi, hành, táo, củ cải, rau cần tây, dầu
ô-liu, trà xanh, hạt cải dầu có hoạt tính sát trùng rất
mạnh, tức là có khả năng diệt nhiều vi sinh vật gây bệnh.
Chất
chống đông: Đó
là chất làm cho máu lâu đông, giúp cơ thể tránh khỏi những
căn bệnh của hệ tim mạch. Hiện nay aspirin, là thuốc chống
đông có hiệu quả nhất. Ngoài ra, những chất như quế, các
loại nho sẫm màu, dưa hấu, dưa bở, rượu vang đỏ cũng
có tác dụng chống đông.
Chất
chống căng thẳng thần kinh: Thức ăn cũng có thể thay
đổi tâm trạng của con người. Ví dụ như ly cà phê hay sô
cô la nóng, kẹo sô cô la, mật ong, gừng, quả lê có thể
làm giảm căng thẳng thần kinh (stress).
Chất
hạ huyết áp (giảm áp suất động mạch) Rau cần tây,
bưởi, lê và nước ép từ các loại rau quả này, dầu thực
vật (các chuyên gia Mỹ khẳng định dầu olive và dầu canola
là loại dầu thảo mộc tốt nhất) là những thức ăn phần
nào có thể cản trở việc tiết ra những hoóc môn làm cho
áp suất động mạch tăng.
Chất
chống ôxy hoá: Đây là chất cần thiết để chống
những căn bệnh mãn tính và lão hoá. Cà rốt, bắp cải, ớt,
tỏi, hành, broccoli, cà chua, bí ngô, khoai lang, gừng, cam quýt
là những thức ăn chứa nhiều chất này. Nên dùng những loại
rau, quả có màu sắc thật đậm. Ví dụ, nên chọn cà rốt
có màu vàng cam sậm. Còn đối với hành thì nên chọn loại
hành màu vàng, tím, không dùng hành màu trắng. Quả càng có
màu sắc rực rỡ, càng có nhiều chất chống ôxy hoá cần
thiết cho cơ thể.
Chất
chống viêm loét: Bắp cải, chuối, vả, lá chè xanh
là những thức ăn có lợi cho dạ dày.
Chất
kích thích miễn dịch: Muốn duy trì khả năng miễn
dịch của mình, bạn nên thường xuyên ăn sữa chua và tỏi
. Bởi những thức ăn này có chứa chất đặc biệt có thể
kích thích hoạt động của hệ miễn dịch và tăng khả năng
đề kháng của cơ thể. Tuy nhiên dùng nhiều tỏi thường
bị táo bón. Những người bị bệnh loét dạ dầy, suy gan
và thận không nên dùng tỏi.
Chất
giảm đau: cà phê, rau húng, bạc hà là những chất
giảm đau tự nhiên. Hơn nữa, theo kinh nghiệm dân gian, dầu
đinh hương (cây có nụ hoa trông như cái đinh, hoa có bốn
cánh, mùi thơm, dùng làm thuốc hay gia vị) có tác dụng chống
đau răng rất tốt. Những nghiên cứu gần đây của các bác
sĩ nha khoa Mỹ đã phát hiện thấy trong dầu đinh hương có
thêm hai thành phần lạ có khả năng chống lại những vi khuẩn
gây đau răng và lợi. Như vậy có thể trong thời gian tới
các bác sĩ nha khoa sẽ khuyên bệnh nhân nên dùng đinh hương
để phòng các bệnh về răng, ngoài những liệu pháp vệ sinh
thông thường.
CÀ CHUA
Cà
chua chứa nhiều chất beta carotene, vitamin B, C, E, folate, và
potassium, là nguồn cung cấp chất lycopene, một chất antioxidant,
có công năng phòng vệ một vài chứng bệnh ung thư.
Nhờ
chứa nhiều vitamin A nên cà chua có tác dụng bảo vệ mắt
và da, tái tạo các tế bào, do đó giữ gìn nét tươi trẻ,
làm chậm tiến trình lão hóa con người. Nhờ vitamin B và C,
cà chua quân bình được những chất dinh dưỡng và giúp điều
hòa hệ thần kinh, chống bệnh hoại huyết, giúp chuyển hóa
các thức ăn, tăng sức đề kháng trong cơ thể, chống những
bệnh nhiễm trùng.
Trong
cà chua có chứa nhiều muối khoáng mang tính kiềm như citrat,
tartrat, nitrat, chất sắt, cần cho máu, và chất phosphor cần
cho hệ thần kinh.
Lợi
Ích Đặc Biệt
Những
nghiên cứu khoa học gần đây cho biết rằng đàn ông ăn nhiều
cà chua có thể ngăn ngừa được sự phát triển của bệnh
ung thư tiền liệt tuyến (nhiếp hộ tuyến) (prostate cancer).
Họ cũng cho hay ăn cà chua chín tốt hơn là cà chua sống.
Các
nhà khoa học cũng tìm thấy chất lycopenes tức chất bioflavonoids,
một chất tương tự như chất beta carotene, có tác dụng chống
ung thư và cản trở tiến trình lão hóa. Chất lycopenes cũng
tìm thấy nơi trái bưởi hồng (grapefruits) và dưa hấu.
Cuộc
nghiên cứu của Viện Đại Học John Hopkins cho biết, những
người có ít chất lycopene trong máu có nguy cơ mắc bệnh ung
thư lá lách, năm lần nhiều hơn những người có nhiều chất
lycopene.
Một
nghiên cứu khác của Viện Đại Học Harvard gần đây cho biết
một người nam ăn khoảng 10 khẩu phần (serving size) mỗi tuần
các thực phẩm làm từ cà chua, sẽ giảm nguy cơ đến 45%
bệnh ung thư nhiếp hộ tuyến (prostate cancer). Bác sĩ Jean G.
Ford và các phụ tá của bà đã nghiên cứu các chất sinh tố
trong máu của 204 người, phân nửa mắc bệnh ung thư phổi.
Họ đã tìm thấy những người có chất lycopene cao trong máu
lại nằm ở nhóm người không mắc bệnh ung thư phổi. Sau
khi trừ đi yếu tố hút thuốc, kết quả cho biết những người
có lượng lycopene thấp bị nguy cơ ung thư gấp ba lần so với
những người có lượng cao lycopene.
Giá
Trị Dinh Dưỡng
Một
trái cà chua cỡ vừa chứa 25 calories, 20 mg vitamin C và 1.400
I.U. vitamin A trong dạng beta carotene. Các thực phẩm biến chế
từ cà chua như sauce cà chua, paste cà chua có giá trị dinh dưỡng
khác nhau. Một số sản phẩm cà chua có chứa nhiều muối,
những người kiêng cữ muối nên lưu ý. Trung bình một nửa
cup sauce cà chua chứa 85 calories, còn loại paste cà chua chứa
80 calories, 2.100 I.U. vitamin A và 50 mg vitamin C, một số viatmin
nhóm B và 970 mg potassium. Nước cà chua hộp (canned tomato juice)
là nguồn cung cấp nhiều vitamin A. Trong tiến trình chế biến
cà chua, một số vitamin C bị tiêu hủy, nhưng sau đó, các
nhà sản xuất lại cho thêm (vitamin C) vào sản phẩm ở khâu
cuối của tiến trình, cho cân bằng với cà chua tươi.
Cà
chua chín đỏ chứa nhiều vitamin A gấp bốn lần cà chua xanh.
Được biết, trước khi chín, cà chua phải trải qua một giai
đoạn xanh, tức giai đoạn tiếp thu năng lượng mặt trơi
(diệp lục tố), năng lượng này được chuyển hóa ngay khi
cà chua xúc chạm vị giác lưỡi của chúng ta.
Cách
Dùng và Công Dụng:
Nên
dùng trái cà chua nguyên vẹn, bao gồm cả vỏ, hạt và nước:
- Vỏ
cà chua có tác dụng làm nhu động đường ruột, chia nhỏ
phân bã, giúp đẩy phân bã tích tụ chung quanh ruột ra ngoài,
do đó có khả năng chống táo bón.
- Hạt
cà chua với những chất nhầy xung quanh, làm cho xung quanh bờ
thành ruột trở nên trơn, do đó tạo thêm điều kiện tốt
để phân bã có thể di chuyển nhanh hơn ra ngoài.
-
Nước cà chua chiếm 90 phần trăm thể tích trái cà chua có
khả năng giữ cho máu điều hòa, làm tan những kết tinh u-rê,
kiềm hóa máu chứa nhiều acid, gìn giữ da mặt tươi trẻ.
- Cà
chua có tác dụng ngăn ngừa bệnh thấp khớp, bệnh thống
phong (gout), phong thấp và táo bón.
-
Nhờ đặc tính tẩy độc, lọc máu và tái tạo các mô tế
bào, cà chua có khả năng ngăn ngừa và chữa trị bệnh sưng
động mạch, cứng động mạch và những bệnh sinh ra do suy
nhược.
Muốn
có những tác dụng như trên, người ta phải dùng cà chua thường
xuyên. Mỗi tuần ăn từ 4 đến 10 khẩu phần (serving
size).
BƯỞI(GRAPEFRUIT)
Bưởi
chứa nhiều vitamin C và potassium, là nguồn cung cấp chất vôi
(calcium), folate, iron, và chất khoáng khác. Bưởi đỏ hay bưởi
hồng chứa nhiếu chất beta carotene, tức tiền thể của vitamin
A. Cũng chứa nhiều chất xơ và ít calories, nhiều chất bioflavonoids
và một vài hóa chất khác có khả năng ngăn ngừa bệnh ung
thư và tim mạch.
Một
nửa trái bưởi hồng cỡ vừa, cung cấp cho chúng ta nhiều
hơn 50 phần trăm vitamin C do RDA đòi hỏi. Nó cũng gồm có
325 mg potassium, 25 mcg folate, 40 mg calcium, và 1 mg iron. Bưởi
hồng cũng cho nhiều chất beta carotene, một chất antioxidant,
mà cơ thể sẽ biến đổi ra vitamin A.
Một
cup nước bưởi nguyên chất chứa 95 mg vitamin C, nhiều hơn
150 phần trăm RDA đòi hỏi và có hầu hết các chất dinh dưỡng
tìm thấy trong rau quả tươi.
Nhiều
năm trước đây, người ta tin rằng ăn bưởi giúp cho bớt
mập vì nó có khả năng đốt chất mỡ trong cơ thể. Điều
này không đúng, không có một loại thực phẩm nào có khả
năng như vậy. Sỡ dĩ bưởi có tác dụng giảm trọng lượng
một phần nào vì chứa ít calories, và nhiều chất xơ.
Chất
pectin, một chất solube fiber của bưởi có tác dụng làm giảm
cholesterol trong máu. Thêm vào đó bưởi còn chứa những chất
khác có tác dụng ngăn ngừa bệnh tật.
Bưởi
hồng (pink and red grapefruits) có chứa nhiều chất lycopene, một
chất antioxidant có khả năng làm giảm mức độ lâm bệnh
ung thư tuyến tiền liệt nơi đàn ông. Một nghiên cứu của
viện đại học Harvard University với 48.000 bác sĩ và nhân
viên y tế dùng 10 khẩu phần thực phẩm có chứa nhiều chất
lycopene như bưởi, cà chua mỗi tuần cho kết quả là giảm
50 phần trăm mức độ lâm bệnh ung thư tuyến tiền liệt.
Những
hóa chất khác tìm thấy trong bưởi bao gồm chất phenolic acid,
limonoids, terpenes, và monoterpenes, giúp sản xuất chất xúc tác
enzymes, ngăn ngừa ung thư; và một chất khác, chất bioflavonoids,
giúp ngăn trở các hoạt động của hormones mà nó promote sự
phát triển các bướu u.
Bưởi
giúp chúng ta ăn ngon, kích thích sự tiêu hóa vì tăng cường
sự tiết mật và tiết dịch vị. Dùng bưởi vào buổi sáng
lúc bụng đói có tác dụng lợi tiểu và tẩy chất độc,
giúp lọc máu, thải những chất bẩn và độc tố ở thận
và gan ra ngoài.
Một
số người bị bệnh thấp khớp (rheumatoid), viêm khớp (arthritis),
lupus, hoại huyết, và kinh phong (inflammatory disorders) đã lành
nhờ ăn bưởi thường xuyên.
KHOAI LANG(YAM
AND SWEET POTATOES)
Khoai
Lang chứa nhiều chất beta carotene, là nguồn cung cấp vitamin
C và B-6, folate, và potassium, và nhiều chất xơ lẫn chất ngọt
thiên nhiên.
Tòan
bộ dây, lá và củ đều được dùng làm thức ăn rất tốt.
Củ chứa 24,6% tinh bột, 4,17% chất béo không bão hòa, chỉ
số đường thấp, một số vitamin A, B-6 và C. Tưởng cũng
nên biết, vitamin B-6 rất quan trọng cho sự chuyển hóa các
amino acids, đặc biệt cho tế bào thần kinh và vỏ não, còn
vitamin C giúp cho sự phát triển, điều hòa và bảo vệ cơ
thể.
Đọt
khoai lang đỏ (lá non) có một chất gần giống như chất insulin,
ở lá già không có chất này. Do đó những người bị bệnh
tiểu đường nên ăn lá khoai lang non.
Khoai
lang có tác dụng nhuận trường vì thế có thể chữa trị
được bệnh táo bón. Ngoài ra, củ khoai lang là một thức
ăn tốt cho những người bị suy yếu gan.
Giống
như các loại rau và củ mầu vàng, khoai lang chứa rất nhiều
beta carotene, tiền vitamin A. Trung bình 3,5 ounces khoai lang cung
cấp 20.063 IU tức 401-502% vitamin A do RDA đòi hỏi, 23 mg tức
38% vitamin C, 0,3 mg tức 15% vitamin B-6, 12 mg beta carotene, 10 phần
trăm folate, và 400 mg portassium.
Khoai
lang mau hư, nên để trong mát (không phải để ở trong tủ
lạnh), muốn để lâu hơn một tuần, nên luộc hay hấp xong
bỏ vào tủ lạnh.
Yams
là một loại khoai lang Hoa Kỳ gốc từ Phi Châu, to hơn khoai
lang Á Châu và Mexico, ngọt hơn nhưng không chứa nhiều vitamin
bằng.
BÔNG CẢI
XANH (BROCCOLI)
Chứa
rất nhiều vitamin C, là nguồn cung cấp vitamin A, folate, một
số lượng nhỏ protein, calcium, iron và một vài chất khoáng
khác. Đặc biệt chứa nhiều chất bioflavonoids và những hóa
chất có khả năng ngăn ngừa bệnh ung thư. Ngoài ra, cũng chứa
nhiều chất xơ và cung cấp ít calories.
Broccoli
được các nhà dinh dưỡng học Hoa Kỳ mệnh danh là "the most
popular anti-cancer food", là một loại rau giầu chất dinh dưỡng
nhất trong tất cả các loại rau, nó cũng là loại rau có nhiều
khả năng đề kháng nhất, chống lại nhiều chứng bệnh ung
thư thông thường.
Những
hóa chất có trong rau bông cải xanh này mang nhiều dược tính,
một số ngăn cản các hoạt động kích thích tạo mầm ung
thư của hormones, một số khác ngăn cản sự phát triển các
u bướu hoặc gia tăng sự phòng vệ các chất xúc tác enzymes.
Bông
cải xanh cũng chứa rất nhiều chất bioflavonoids và chất antioxidants,
những chất bảo vệ các tế bào chống lại sự phá hoại
của các phân tử không ổn định (unstable molecules).
Bông
cải xanh chứa rất nhiều vitamin và minerals. Một cup bông cải
xanh nấu vừa chín chỉ chứa 28 calories, trong khi đó chứa
nhiều hơn hai lần hàm lượng vitamin C (200%) do RDA đòi hỏi,
39% vitamin A, và 39% folacin. Một cup broccoli cũng cung cấp 130
mg calcium, 325 mg potassium, 1,2 mg iron, 3 g protein, và 2,5 g fiber.
Trong
vòng hai mươi năm qua, rất nhiều nghiên cứu khoa học đã
tìm thấy những người ăn nhiều bông cải xanh giảm được
nguy cơ lâm nhiều thứ bệnh ung thư, như kết tràng (colon),
vú (breast), cổ tử cung (cervix), phổi (lungs), nhiếp hộ tuyến
(prostate), thực quản (esophagus), thanh quản (larynx), và bọng
đái (bladder).
Tháng
ba năm 1992 một toán những nhà khoa học tại trường đại
học John Hopkins đã tuyên bố rằng chất Sulforaphane có lượng
cao trong bông cải xanh chính là nhân tố có tác dụng quan trọng
chống lại bệnh ung thư. Trong các công cuộc nghiên cứu mới
đây nhất (Orange County Register 12-4-1994), các nhà khoa học đã
thử nghiệm chất Sulforaphane bằng cách chích vào 29 con chuột
bạch, đồng thời cùng với một chất có tính cách gây ra
bệnh ung thư Dimethyl Benzanthracene. Để so sánh, họ chỉ chích
chất Dimethyl Benzanthracene vào nhóm 25 con chuột bạch khác (không
chích thuốc Sulforaphane). Kết quả cho thấy rằng nhóm đầu
có chích chất Sulforaphane chỉ có 35% mắc bệnh còn nhóm thứ
hai không có chích chất Sulforaphane có tới 68% mắc bệnh ung
thư vú. Chất Sulforaphane không bị hủy diệt khi nấu bằng
lửa hay bằng micro-wave.
Ngoài
chất Sulforaphane, bông cải xanh còn mang nhiều chất hóa học
Indole có khả năng khử trừ những nhân tố gây ra chứng ung
thư. Họ giải thích rằng chất Indole có tác dụng thúc đẩy
sự trung hòa chất kích thích tố nữ hormone oestrogene là nhân
tố gây ra chứng ung thư ngực của người nữ. Đem thí nghiệm
ở loài chuột, họ đã nhận thấy chất Indole này làm tiêu
hao các bướu ung thư.
Bông
cải xanh loại tươi và đông lạnh có bán thường xuyên tại
các siêu thị. Các nhà dinh dưỡng cho rằng bông cải xanh đông
lạnh tốt hơn bông cải xanh loại tươi vì các nhà sản xuất
cho đông lạnh ngay khi bông cải xanh đạt đến điểm tốt
nhất, trong khi đó rau trái bày bán tại siêu thị thường
là gặt hái trước mùa để trừ hao thời gian vận chuyển
và tồn trữ.
Mặc
dầu bông cải xanh có thể ăn sống được, nhưng phần lớn
người ta vẫn thích ăn chín hay gần chín. Bông cải hấp hay
xào sơ trên chảo dầu nóng vẫn còn giữ được đầy đủ
các chất dinh dưỡng. Nấu quá chín thường hủy diệt các
chất đề kháng ung thư và vitamin.
CHUỐI
Chuối
là loại trái cây miền nhiệt đới, chứa nhiều vitamin B6
nhất trong các loại trái cây. Những loại thực phẩm khác
cũng có vitamin B6, nhưng khi nấu chín, một phần vitamin bị
mất đi, vì vậy, chỉ cần ăn hai trái chuối cỡ trung bình
mỗi ngày là đủ hàm lượng vitamin B6 cần thiết.
Vitamin
B6 giúp phụ nữ cân bằng hoóc môn, thiếu loại vitamin này
có thể dẫn đến nhiều chứng bệnh như: buồn chán, nổi
mụn trên da, cáu kỉnh, yếu ớt và cả bệnh thiếu máu.
Ngoài
ra, chất serotonin có trong chuối có tác động mạnh tới cơ
thể, 45% ngừời mắc chứng buồn chán là do thiếu serotonin
trong não bộ. Để chống lại chứng buồn chán, người ta
dùng phương pháp brozac duy trì thường xuyên mức serotonin trong
cơ thể, giúp con người tìm thấy hạnh phúc. Vitamin B6 rất
tốt cho trạng thái yên ổn con người, qua quá trình chuyển
hoá tryptophan thành micotic acid (vitamin nhóm B). Chất tryptophan
giúp sản xuất chất serotinin. Vitamin B6 đóng vai trò lớn trong
việc chống bệnh stress (căng thẳng thần kinh) và sự lo lắng.
Vì thế chuối có thể giúp bạn xoá bớt nỗi ưu phiền.
Chuối
cũng có nhiều sinh tố A, B, C, chất sắt, và chất vôi. Chất
vôi tránh cho chúng ta bịnh đau lưng và các chứng đau xương.
Chất sắt bổ máu, chất lưu huỳnh (phosphore) bổ óc, tuỷ
và gân. Chuối đem lại cho chúng ta nhiều sinh tố cần thiết,
nhờ vậy, chúng ta có thể tránh được sự thiếu máu và
bệnh phù thũng. Nước ép từ chuối chín rất tốt và tinh
khiết, có tác dụng tốt về thận.
Nhờ
chế độ ăn uống chọn lọc gồm nhiều chất potassium và
chất xơ mà những người bị bệnh cao áp suất máu có thể
giảm dần số lượng thuốc điều trị. Đó là lời giải
thích mới nhất của Viện Y Khoa Nội Thương và Bệnh Tiêu
Hóa trường đại học Naplea, Ý Quốc.
Họ
chia ra làm hai nhóm người thử nghiệm. Nhóm đầu tiêu thụ
từ 3 đến 6 khẩu phần thực phẩm hàng ngày có chứa nhiều
chất potassium trong các loại rau và trái cây mà chủ yếu là
chuối. Nhóm thứ hai vẫn ăn như thường.
Trong
vòng một năm thử nghiệm, kết quả cho biết 81% bệnh nhân
trong nhóm một, đều có áp suất máu tốt và họ giảm lượng
thuốc điều trị xuống còn phân nửa. Còn nhóm thứ hai tình
trạng không thay đổi nên vẫn không giảm lượng thuốc chữa
trị. Do kết quả này các nhà nghiên cứu khuyến cáo các y
sĩ nên yêu cầu bệnh nhân ăn nhiều rau trái, đặc biệt là
chuối vì chuối là nguồn cung cấp cao số lượng potassium
và chất xơ.
CÀ RỐT
Cà
rốt được tiếng là một thứ thực phẩm kỳ diệu, có khả
năng làm mắt sáng. Thực tế đã cho thấy rằng cà rốt có
tác dụng bổ dưỡng mắt, vì chúng có chứa nhiều chất beta-carotene,
mà sau khi hấp thụ vào cơ thể, chất này chuyển hóa thành
sinh tố A, một vitamin thiết yếu cho các hoạt động võng
mạc của mắt (retina). Tuy nhiên sinh tố A không chữa lành
được viễn thị cũng như cận thị. Nó chỉ giúp cho mắt
cải thiện tầm nhìn khi nào căn bệnh gây nên bởi khiếm
khuyết sinh tố A.
Chất
beta-carotene trong cà rốt cũng có khả năng ngăn ngừa bệnh
ung thư và làm giảm lượng cholesterol trong máu cùng là làm
chậm tiến trình lão hóa con người. Những nghiên cứu khoa
học gần đây cho thấy rằng những người ăn một cup tức
khoảng 7 ounces cà rốt tươi một ngày có thể giảm thiểu
ít nhất là 11% hàm lượng cholesterol trong máu sau ba tuần thực
hiện. Giảm cholesterol tức là giảm mức độ nguy cơ lâm bệnh
tim mạch.
Cà
rốt có vị ngọt tự nhiên, nhiều chất xơ, nhiều vitamin
A, lại thấp calories, nên là loại thực phẩm rất tốt. Nếu
cà rốt được nấu chín, giá trị dinh dưỡng lại được
gia tăng, bởi vì nó phá vỡ những cellular chứa beta carotene.
Để chuyển hóa beta carotene thành vitamin A, cơ thể cần một
lượng nhỏ chất béo, vì vitamin A là loại hòa tan trong chất
béo, không phải nước.
Nói
vậy không có nghĩa là cà rốt tươi không tốt. Nước cà
rốt tinh chất rất tốt, giầu vitamin A. Một cup cà rốt tươi
cắt nhỏ có chứa 28.129 IU vitamin A, tức nhiều hơn từ 5 đến
7 lần lượng vitamin A do RDA đòi hỏi (563% cho nam và 703% cho
nữ), 17 mg beta carotene, 323 mg potassium, và 9 mg vitamin C.
Cà
rốt cũng chứa nhiều chất carotenoids, chất sắc tố mầu
vàng và nhiều chất bioflavonoids. Dùng nhiều cà rốt có thể
làm vàng da, nhưng không sao cả. Nó sẽ tự biến mất sau một
vài tuần giảm ăn cà rốt.
MƯỚP
ĐẮNG
Mướp
đắng hay còn gọi là khổ qua, họ bầu bí, có tính lạnh,
vị đắng, không độc. Với tác dụng giải nhiệt, bổ thận,
nhuận tỳ, thông tiểu, phù thũng do gan nóng, tiêu khát, bớt
mệt mỏi, nhất là trong các ngày nắng nóng nên mứớp đắng
được xem như một vị thuốc quý.
Người
miền Nam xem mướp đắng là một món ăn ngon và quý, người
miền Bắc cũng đã dần dần quen thuộc với vị đắng rất
đặc biệt này.
Mướp
đắng có nhiều tác dụng chữa bệnh: Dây mướp đắng đun
sôi để nguội dùng để tắm sẽ trị chứng rôm sảy và
mụn nhọt. Nước lá mướp đắng có tác dụng hạ nhiệt
và giúp cho những người bị bệnh tiểu đường. Một số
món ăn được chế biến từ quả mướp đắng không chỉ
là những món ăn ngon miệng, hấp dẫn, bổ dưỡng mà còn
là các bài thuốc rất hiệu nghiệm, như mướp đắng nhồi
nhân đậu hũ với nấm mèo (hấp cách thuỷ hoặc chiên) hoặc
mướp đắng xào là những công thức món ăn tốt cho những
người bị tiểu đường. (xem công thức món ăn)
Ngoài
ra, mướp đắng có tính giải nhiệt, làm nước uống dùng
để giải khát rất tốt. Mùa hè khi đi nắng về hoặc khi
khát nếu uống một ly nước mướp đắng chỉ 10 phút sau,
cơn mệt mỏi và cơn khát sẽ tan biến, cơ thể sẽ dễ chịu
và sảng khoái hơn. Cách chế biến loại nước giải khát
này rất đơn giản: Mướp đắng tươi 50g rửa sạch, thái
lát cho vào một chiếc cốc sạch, sau đó đổ 200ml nước
sôi vào cốc, đậy nắp lại khoảng 10 phút là dùng được.
Nếu không có mướp đắng tươi thì dùng mướp đắng đã
phơi khô cũng tốt. Hiện nay ở các siêu thị và các cửa
hàng bán bánh kẹo có bán các loại trà khổ qua được đóng
gói thành từng túi nhỏ, rất thuận tiện trong việc sử dụng.
HÀNH VÀ
TỎI
Nơi
các quốc gia vùng Trung Âu, thì hành và tỏi là một trong những
món ăn chính trong các bữa ăn và theo thống kê, vùng dân số
này có tuổi thọ cao, mà hầu hết những người cao tuổi
này không mắc bệnh phong thấp. Lý do có thể giải thích được.
Hành và tỏi chống phong thấp rất mạnh, vì nó có tác dụng
làm tiêu tan và thải hồi nhanh chóng chất thải acid uric.
Tưởng
cần biết, sự nhiễm trùng phát sinh thuận lợi trong môi trường
acid. Nhưng hành và tỏi, với nhiều chất lưu huỳnh (sulfur)
và potassium, sản xuất ra chất kiềm (bazơ). Do đó hành và
tỏi làm cho máu và các dịch chất trong cơ thể trở nên kiềm,
giúp cơ thể phòng vệ tốt, chống lại sự xâm nhập và phá
hoại của các vi trùng độc hại.
Khoa
học ngày nay đã khám phá ra nhiều dược tính kỳ diệu của
hành và tỏi do bởi chúng mang nhiều hợp chất lưu huỳnh.
Khi đem đựng trong ống nghiệm, các chất đó đã diệt hết
các vi khuẩn, các loại nấm và virus.
Đối
với con người, khi dùng nước ép ra từ tỏi sẽ có tác dụng
làm chậm lại sự đông đặc của máu và do đó giảm thiểu
được những rủi ro máu đọng thành cục, giảm cholesterol
xấu LDL, và gia tăng lượng cholesterol tốt HDL trong máu, tất
cả đều có liên hệ đến các bệnh tim mạch.
Ngoài
ra, những chất hóa học chứa trong tỏi và hành có khả năng
trị liệu bệnh ung thư, như chống lại chất carcinogene, một
chất gây ra mầm mống bệnh ung thư vú, ruột già, nhiếp hộ
tuyến, dạ dầy, phổi, và gan.
Cuộc
nghiên cứu gần đây ở Viện Đại Học Pennsylvania cho thấy
rằng những con chuột bạch được cho ăn những chất lấy
ra từ tỏi đã làm giảm chứng ung thư vú đến 71%. Một nghiên
cứu khác thực hiện tại Viện Đại Học Loma Linda, California
cho biết tỏi cũng có thể chống lại bệnh ung thư đang có
trong cơ thể bằng cách làm cho cơ thể gia tăng sức đề kháng.
Họ nghiên cứu và cho kết quả là chất diêm trong tỏi làm
gia tăng sự hoạt động của macrophages và T-lymphocytes, đó
là hai thành tố miễn nhiễm có khả năng hủy diệt các tế
bào ung thư.
Trong
hành và nhất là tỏi có khá nhiều tiền vitamin A, vitamin B,
C và các chất sắt, lưu huỳnh, phosphor, silic, iodine, calcium,
potassium, và sodium.
Các
loại vitamin A, B, C đều là những vitamin rất cần thiết để
bảo vệ mắt, gìn giữ da, điều hòa hệ dinh dưỡng, hệ
thần kinh, chống bệnh hoại huyết, gia tăng sức đề kháng,
chống các bệnh nhiễm trùng, giúp ích sự chuyển hóa thức
ăn. Chất lưu huỳnh diệt vi khuẩn trong máu.
Hành
và tỏi giúp ngủ ngon, tiêu hóa các chất bột dễ dàng và
thông tiểu. Tuy nhiên dùng tỏi nhiều quá sẽ bị nóng và
táo bón.
Vào
thập niên 1960s, Cơ Quan Y tế Thế Giới của Liên Hiệp Quốc
(WHO) phát hiện Ai Cập là một nước nghèo, khí hậu sa mạc
khắc nghiệt, nhưng sức khoẻ của nhân dân Ai Cập lại vào
loại tốt, ít bệnh tật, tuổi thọ tương đối cao, nên đã
huy động nhiều chuyên gia y tế chia nhau đi xuống các vùng
dân cư có khí hậu khắc nghiệt, nghiên cứu về chế độ
dinh dưỡng. Cuối cùng các nhà nghiên cứu thuộc nhiều nước
mà đông đảo nhất là Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản, nhận xét
là nhà nào cũng có một chai rượu ngâm tỏi để uống. Dân
Ai Cập nói, từ lâu đời, dân nước họ vẫn làm như thế.
Được
biết ngày xưa, Ai Cập là một đế quốc lớn, chinh chiến
liên miên, chủ yếu dùng gươm giáo chém giết nhau. Khi bị
thương họ chỉ dùng tỏi để uống và rửa các vết thương.
Ơ' các vùng, tỏi được ngâm rượu theo nhiều công thức
khác nhau. Chuyên gia các nước đem những công thức đó về
nước mình, nghiên cứu phân tích. Năm 1980 WHO tổ chức hội
thảo tổng kết và họ thông báo: Rượu tỏi chữa được
bốn nhóm bệnh: (1) Thấp khớp, sưng khớp, vôi hoá các khớp,
mỏi xương cốt, (2) Tim mạch: huyết áp thấp, huyết áp cao,
hở van tim, (3) Phế quản: Viêm phế quản, viêm họng, hen phế
quản, và (4) Tiêu hoá: ăn khó tiêu, ợ chua, viêm tá tràng,
loét dạ dầy.
Đến
năm 1983: Nhật lại thông báo rượu tỏi chữa đựợc hai
nhóm bệnh nữa, (2) Trĩ nội và trĩ ngoại, (2) Tiểu đường.
Nhật cũng công bố: "Đây là món thuốc hay của nhân loại
vì dễ làm, rẻ tiền, không gây phản ứng phụ, hiệu quả
chữa bệnh cao".
Được
biết con người tuổi từ 40 trở đi hay sinh nhiều bệnh, các
bộ phận trong cơ thể bắt đầu thoái hoá, bộ phận nào
yếu thì thoái hoá nhanh, đặc biệt làm cho các chức năng
hấp thụ chất béo, chất đường bị suy giảm. Các thứ đó
không hấp thụ hết qua đường chuyển hoá, phần thừa không
thải ra ngoài được, dần dần lắng đọng trong bờ thành
các mạch máu, làm xơ cứng động mạch và xơ cứng một số
bộ phận khác, lâu ngày gây ra những bệnh nêu trên. Dưới
đây là Công thức điều chế và cách dùng:
Tỏi
khô 40 grams, rửa sạch, thái nhỏ cho vào lọ thủy tinh.
Rượu
Vodka trắng, 100 ml ngâm với 40g tỏi, để trong 15 ngày.
Mới bắt đầu màu trắng sau chuyển sang màu vàng, đến ngày
thứ 15 thì có màu vàng nghệ.
Cách
dùng: Ngày uống 2 lần mỗi lần 40 giọt. Sáng 40 giọt
trước khi ăn. Tối 40 giọt trước khi ngủ. Vì rất ít nên
phải pha thêm nước vào thì mới uống dễ. Uống liên tục
cả đời. Lượng rượu không đáng kể cho nên bất cứ ai
cũng dùng được. Bốn mươi grams tỏi, uống khoảng 20 ngày
thì hết, cho nên cứ sau 15 ngày thì ngâm một lọ nữa để
gối đầu, mới có rượu để uống liên tục.
BẮP CẢI
Bắp
cải thuộc họ cải (cruciferous vegetables), rất giầu chất
bổ dưỡng, có đặc tính chống ung thư. Với 3.5 ounces bắp
cải cung cấp đủ hàm lượng vitamin C cần thiết hàng ngày.
Ngoài ra, bắp cải có chứa một hàm lượng hợp chất nitrogen
đáng kể có tên khoa học là indoles có tác dụng giảm
thiểu sự phát triển các mầm mống tế bào ung thư.
Trước
kia, bắp cải chỉ có vào mùa đông ở xứ lạnh. Ngày nay,
các nhà khoa học đã tạo giống để loại rau này có thể
trồng ở xứ nóng và thu hoạch quanh năm. Có hàng trăm loại
bắp cải khác nhau trên thế giới, nhưng ở Hoa Kỳ có ba loại
căn bản: red cabbage, green cabbage, và savoy cabbage. Ngoài ra các
siêu thị ở California còn có thêm hai loại du nhập từ Trung
Hoa là napa cabbage (cải bắp thảo), và bob choy.
Ngay
từ thời cổ La Mã, bắp cải đã được các thầy thuốc
sử dụng để chữa các bệnh: chậm tiêu, táo bón, loét bao
tử, nhóm bệnh ngoài da như mụn nhọt, ngứa.
Kết
quả thử nghiệm của trường đại học y khoa Stanford (Mỹ)
về trị loét bao tử bằng nước ép bắp cải cho thấy, 262
trong số 265 trường hợp đã khỏi bệnh sau 3 tuần điều
trị. Hoạt chất trị lành vết loét dạ dày là sinh tố U
(sinh tố ép từ nước bắp cải) - hợp chất có lưu huỳnh
Methylmethiomin Sulfomium. Chất này đã được đưa vào công nghiệp
dược phẩm trong thập niên 50 dưới tên đặc chế Epaclyn
U.
Cách
ép nước bắp cải tươi: lựa lá bắp cải tươi, không sâu,
rửa sạch, nhúng nhanh vào nước sôi, để ráo rồi ép lấy
nước. 1 kg bắp cải ép đợc 0,5 lít nước.
Loại
nước này khó tồn trữ nên chỉ trữ trong tủ lạnh và chỉ
dùng trong ngày. Uống nước này thường xuyên thay nước, mỗi
ngày 1 lít, mỗi đợt uống 2 tháng liền. Uống nhiều đợt
cho đến khi bệnh thuyên giảm. Trường hợp bệnh nặng, nôn
nước chua, chỉ uống nước ép sau bữa ăn. Uống nước ép
vẫn có thể dùng thêm các loại thuốc đau dạ dày khác, không
sao cả.
Ngòai
ra, bắp cải còn dùng để trị viêm ruột, đầy bụng, chậm
tiêu, táo bón. Một vài thử nghiệm khác cho thấy, bắp cải
làm giảm quá trình đồng hóa glucid và giảm lượng đường
- huyết. Do có ít chất đường nên bắp cải có thể dùng
cho người bị bệnh tiểu đường. Bắp cải có khả năng
sinh nhiệt thấp, lại chứa acid taetrorid, một chất trị béo
mập...
Những
nghiên cứu khoa học khác cho thấy rằng nhóm người ăn thường
xuyên bắp cải có tỷ lệ bị bệnh ung thư ruột colon and
rectal cancer thấp hơn nhóm đối nghịch. Đối với thử nghiệm
vào thú vật cũng cho những kết quả tương tự.
CÀ TÍM
Cà
tím có tên khoa học là solanum melongema, họ cà. Thành phần
của cà tím có 92% nước, 5,5% glucid, 1,3% protid, 0,2% lipit. Các
khoáng chất (tính theo mg/100g) gồm: kali 220, phốt pho 15, magiê
12, calcium 10, lưu huỳnh 15, clor 15, sắt 0,5, mangan 0,2, kẽm
0,2, đồng 0,1, iod 0,002. Các vitamin B1, B12, PP rất ít, nhiều
chất nhầy.
Cà
tím giúp trị các bệnh gan, mật, điều hòa tiêu hóa; ngoài
ra có tác dụng lọc máu nhẹ, chống cholesterol và áp huyết
cao. Kết hợp với tác dụng thông tiểu, cà tím là món ăn
cho người bị bệnh cao huyết áp, bệnh thống phong.
Giống
như các loại rau khác, cà tím không có chất béo và chất
cholesterol. Tuy nhiên, theo các nhà khoa học Úc Đại Lợi, cà
tím có đặc tính thấm dầu rất nhanh hơn bất cứ một loại
rau nào, họ đã thấy rằng cà tím thẩm thấu 83 grams chất
béo trong 70 giây, bốn lần nhiều hơn khoai tây chiên, tức
nhiều hơn 700 calories. Khi dùng cà tím trị bệnh nên ăn sống
hoặc nướng là tốt nhất.
GIÁ ĐẬU
Giá
đậu là hạt các loại đậu nảy mầm nên có tính chất của
đậu cộng thêm tính chất của mầm chồi đang phát triển.
Ở Á Châu người ta hay dùng giá đậu xanh (mung bean sprouts)
và giá đậu nành (soybean sprouts). Người Hoa Kỳ thường hay
dùng giá alfalfa. Tuy vậy người ta cũng ăn các loại giá khác
như radish sprouts, lentil sprouts, sunflower sprouts, pea sprouts và
red bean sprouts.
Giá
đậu cung cấp một số vitamin B, C, Niacin, Folacin và iron. Trong
bài này chúng tôi đặc biệt khảo sát loại giá đậu xanh
mà người Việt chúng ta ưa dùng.
Giá
đậu xanh có vị nhạt, tính mát, tác dụng vào hệ tiêu hóa.
Có tính giải nhiệt, giải độc, trị khát. Có chức năng
thông đường tiểu, tiêu thực, trị bụng đầy hơi, trị
khô cổ, khản tiếng do nói nhiều.
Giá
đậu xanh có thành phần hóa học khá đặc biệt, nhiều nước,
ít protid, glucid, sắt, đồng, phốt pho, sinh tố nhóm B, C, E,
phytosterol, các men tiêu hóa. Do khả năng sinh nhiệt thấp (ít
calories), những người béo nên dùng giá đậu thường xuyên
trong các bữa ăn hàng ngày.
Đặc
biệt, giá đậu xanh có chứa nhiều vitamin E giúp hạn chế
quá trình oxy hóa, giảm tiến trình lão hóa con người.
TRÁI BÍ
(SQUASH)
Ở
Hoa Kỳ, người ta phân chia ra làm hai loại bí, bí mùa Hạ
(summer squashes), bao gồm zucchini xanh, zucchini vàng, trái su (chayote),
và crookneck; và bí mùa Đông (winter squashes) bao gồm pumpkin,
acorn, butternut, hubbard và spaghetti.
Bí
mùa Đông có chứa rất nhiều vitamin A, beta carotene, vitamin
C và Folacin. Trong các loại bí mùa Đông này, bí butternut squash
được xem là loại bổ dưỡng nhất. Với 1 cup bí butternut
cắt vuông nhỏ tức khoảng 3,5 ounces cung cấp 45 calories, 12
grams carbohydratye, 1 gram protein, 4 mg muối, 7800 IU vitamin A tức
156% RDA cho người nam và 195% RDA cho phái nữ, 21mg vitamin C (35%),
34 mg magnesium (10%), và 352 mg potassium.
Bí
mùa Đông là một loại rau quả dễ tồn trữ nhất. Nó có
thể giữ lâu trên ba tháng trong nhiệt độ mát và khô. Nếu
để trong tủ lạnh chỉ lưu giữ được khoảng từ một tuần
đến hai tuần.
Ở
Việt Nam chúng ta có bí đao, bầu, mướp và bí ngô. Tất cả
các loại này cũng thuộc họ bầu bí.
RONG
BIỂN (Seaweed)
Rong
biển là một loại rau mọc ở dưới đáy biển, được xem
là nguồn thực phẩm quan trọng cho dân chúng các vùng ven biển
ở khắp nơi trên thế giới, từ Hawaii, đến Úc Đại Lợi,
từ Nhật Bản, Đại Hàn đến Tô Cách Lan.
Rong
biển được xếp loại thực phẩm tốt cho sức khỏe (healthful
foods) bởi vì các nghiên cứu khoa học cho thấy rằng rong biển
có chứa nhiều chất xơ và chất khoáng (minerals), nhất là
calcium, potassium, magnesium, và iron.
Kombu,
Wakame và Nori là các loại thực phẩm bằng rong biển rất
phổ thông tại Nhật. Họ dùng để nấu canh, chiên, xào, gói
cơm, và gói sushi. Bạn có thể tìm thấy các thực phẩm bằng
rong biển dưới hình thức lá mỏng khô tại các health food
stores và tại các siêu thị Việt Nam, Nhật Bản hay Đại Hàn.
Một
vài điểm nhỏ cần lưu ý quý độc giả là khi mua thực phẩm
rong biển nên mua loại đã được công nhận là loại rong
biển gặt hái từ các vùng biển không ô nhiễm và phần lớn
thực phẩm rong biển có chứa lượng muối hơi cao, vì thế
những người bị bệnh cao áp huyết không nên ăn.