CHƯƠNG
10
CÁC
CHẤT GIA VỊ
Đường,
muối, dấm và bột ngọt là những gia vị chính được nêm
nếm vào các món ăn cho ngon miệng. Tuy nhiên có nhiều vấn
đề liên quan đến sức khỏe mà chúng ta cần phải để ý.
Riêng ở Việt Nam, các bà nội trợ còn có thói quen là dùng
hàn the (borax granular) và phèn chua (alum) khi biến chế các món
ăn. Hai chất này là hai chất hóa học độc hại, đã bị
cấm sử dụng tại gia từ lâu ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên chúng tôi
cũng viết tóm gọn nơi phần cuối chương này để lưu ý
các độc giả tại Việt Nam.
ĐƯỜNG
Theo
báo cáo của bộ Nông Nghiệp, người dân Hoa Kỳ tiêu thụ
trung bình 150 pounds đường cát trắng mỗi năm tức khoảng
20 teaspoons đường mỗi ngày, hay tương đương với 320 calories.
Số lượng này không bao gồm đường tự nhiên có trong nhiều
loại thực phẩm như trái cây và rau đậu. Đây là số lượng
được thêm vào trong thực phẩm.
Phần
lớn đường chúng ta tiêu thụ có từ nhiều nguồn cung cấp
khác nhau, như nước giải khát soda, cereals ăn sáng, juices,
các loại bánh kẹo như cookies, muffins, donuts, cheesecake, cinnabon,
và các thực phẩm biến chế khác.
Đường
mang nhiều dạng thể và tên gọi khác nhau như đường trắng,
đường nâu, đường thô, can sugar, corn syrup, honey, molasses,
sorghum syrup, và fruit juice concentrate.
Đường
là một chất dinh dưỡng đem năng lượng cho con người. Cứ
1 gram đường cung cấp 4 calories. USDA khuyến cáo người dân
Hoa Kỳ nên giới hạn ở mức 6 teaspoons đường cho những
người áp dụng chính sách ăn uống 1.600 calories một ngày.
Tiêu thụ 20 teaspoons đường một ngày hiện nay là quá nhiều.
Nên
nhớ ăn một cái bánh pecan roll của Au Bon Pain hay cái bánh
cinnabon của Cinnabon có tới 11 teaspoons đường, 45 gram chất
béo, và 800 calories, nhiều hơn cả một bữa ăn sáng với hai
trứng gà ốp la, hai miếng nhỏ bacon, hai cái sausage links, và
hai pancakes.
Cho
đến nay, cơ quan FDA cũng như hiệp hội các nhà sản xuất
đường vẫn cho rằng đường là thực phẩm an toàn (sugar
is safe). Đúng! Nhưng họ không nói rõ số lượng tiêu thụ
nào mới là an toàn.
Các
nhà sản xuất còn nói thêm là cơ thể con người hấp thụ
mọi thứ đường carbohydrates giống nhau. Ngược lại các nhà
nghiên cứu khoa học cho rằng đường đơn giản (simple sugar
hay simple carbohydrate) như đường trắng, mật ong, mật mía,
nho khô.. hấp thụ nhanh chóng và làm gia tăng độ đường
trong máu lên cấp kỳ hơn là loại đường tạp (complex carbohydrate).
Năm
1981, Dr. David Jenkins thuộc viện đại học, University of Toronto,
phổ biến trên tập san The American Journal of Clinical
Nutrition bảng chỉ số đường (glycemic index), biểu thị
độ nhanh của thức ăn chứa nhiều carbohydrate được chuyển
hóa thành glucose và đưa đường trong máu lên cao đến mức
độ nào đó. Đường, như đường cát, mật ong, mật mía
hay nho khô, có chỉ số đường 100 đến 126. So sánh với chỉ
số này, đậu nành có chỉ số từ 10 đến 20, đậu lentil
có chỉ số trung bình 50, và gạo lứt có chỉ số ø 78.
Nói
tóm lại, tiêu thụ nhiều đường không tốt, có hại cho sức
khỏe vì số calories do đường cung cấp không tiêu dùng hết
sẽ được cơ thể hoán đổi thành chất béo triglyceride và
dự trữ ở các mô tế bào dưới dạng mỡ. Nên dùng các
thực phẩm có chỉ số đường thấp. (xem bảng kê khai nơi
chương 4)
MUỐI
Muối
là một loại chất khoáng (mineral) có tự nhiên trong các loại
thực phẩm, rất cần thiết cho con người. Chúng giúp sự
cân bằng lượng nước trong cơ thể, điều hòa áp suất máu,
truyền tín hiệu não bộ, và cầm giữ sự hoạt động bình
thường của các cơ bắp thịt.
Tiêu
thụ nhiều muối có thể ảnh hưởng đến chứng cao áp suất
máu (high blood pressure, or hypertension). Cao áp suất máu là yếu
tố nguy hiểm chính cho các bệnh tim mạch, như nhồi máu cơ
tim, tai biến mạch máu não, và bệnh thận.
Phần
lớn chúng ta tiêu thụ muối nhiều hơn là cơ thể chúng ta
cần. Ngay cả nếu bạn không bị chứng cao áp suất máu, bạn
cũng nên giữ lượng muối nhập vào cơ thể hằng ngày một
cách giới hạn vừa đủ.
Muối
được tái tuần hoàn (recycled) trong cơ thể và nó chỉ cần
được thay thế số lượng muối thất thoát qua hệ thống
bài tiết bình thường hằng ngày mà thôi. Số lượng thay
thế cần từ 1 đến 3 grams muối một ngày, tức khoảng 1/2
đến 1 1/2 teaspoons. Nên nhớ, 1 teaspoon muối bằng 2.000 milligrams.
Người
dân Hoa Kỳ hiện nay tiêu thụ muối hằng ngày từ 4.000 đến
6.000 milligrams.
Trong
tất cả các thực phẩm chúng ta ăn đều có saün muối, từ
thịt cá đến rau, đậu và trái cây. Tuy nhiên, phần lớn
người dân Hoa Kỳ tiêu thụ muối qua các thực phẩm biến
chế đã được các nhà sản xuất cho thêm vào dưới dạng
sodium chloride để cho ngon miệng. Muối cũng được ẩn dấu
trong các chất hóa học thêm vào, như sodium nitrite, sodium benzoate
saccharin, sodium, and monosodium glutamate. Kết quả là chúng ta
không biết rằng chúng ta đã tiêu thụ nhiều muối gấp đến
5 lần nhu cầu cơ thể cần.
Những
người ăn thực phẩm tự nhiên như ăn 4 nhóm thực phẩm nguyên
chất (unprocessed): ngũ cốc, đậu, rau, và trái cây có thể
xem là đủ lượng muối cần thiết cho cơ thể hằng ngày.
Những
cơ quan chăm sóc sức khỏe cho người dân Hoa Kỳ và Anh Quốc
hiện nay chống lại việc ăn quá nhiều muối vì nó có ảnh
hưởng đến áp suất máu trong cơ thể.
Tại
sao ăn nhiều muối lại ảnh hưởng đến áp suất máu? Bởi
vì gia tăng lượng muối vào cơ thể, gây nên nhu cầu cần
thêm nước trong máu. Lượng máu gia tăng, đòi hỏi tim phải
làm việc nặng nhọc hơn để bơm máu lưu thông và do đó
gia tăng áp suất máu
Theo
ước lượng 70% muối nhập vào cơ thể chúng ta hằng ngày
từ các thực phẩm biến chế. Vì thế đường lối cắt giảm
muối dễ dàng nhất là không ăn những thực phẩm biến chế.
Hãy đọc nhãn hiệu thực phẩm và chỉ nên dùng những thực
phẩm nào có chứa ít hơn 100 milligrams sodium cho một khẩu
phần ăn (serving size). Thí dụ như phải loại bỏ ngay Nissin
Cup Noodle with Shrimp, vì nó có chứa tới hơn một nghìn
milligram muối (1.070 mg) và
Nongshim Bowl Noodle (Korea) có
chứa tới gần một ngàn rưỡi milligram muối (1.470 mg), đó
là chưa kể đến nhiều chất béo không bão hòa, làm từ dầu
nhiệt đới palm oil. Thông thường những thực phẩm chưa biến
chế (unprocessed foods), ở dạng tự nhiên, có một hàm lượng
sodium thấp, khoảng 120 milligrams mỗi khẩu phần, những thực
phẩm này bao gồm các rau trái tươi, ngũ cốc nguyên chất
(whole grains), các loại đậu (beans).
DẤM CHUA
Dấm
(Vinegar) là một món gia vị có vị chua dùng để nêm nếm
thực phẩm cho có mùi vị đậm đà. Hiện nay trên thị trường
Hoa Kỳ có ba loại dấm khác nhau, đó là dấm trắng (white
distilled vinegar), dấm rượu vang (wine vinegar), và dấm táo (apple
cider).
Hai
loại dấm trắng và dấm rượu vang được làm từ sự lên
men bởi chất acid acetic C2H4O2, từ dung dịch có chất rượu
như rượu lên men (fermented wine) và mạch nha lên men (malt liquors).
Chất acid acetic là một loại acid độc, nó hủy hoại hồng
huyết cầu, gây ra bệnh cứng gan cùng làm trở ngại tiêu
hóa.
Dấm
táo (apple cider), ngược lại, có chứa chất acid malic (C4H6O5)
là một chất acid hữu cơ có ích trong tiến trình tiêu hóa
thực phẩm. Nó cũng có khả năng làm tan bệnh máu đông, giúp
mạch máu lưu thông bình thường, vì thế có người dùng để
trị bệnh máu ra nhiều lúc có kinh nguyệt hay khi bị áp huyết
cao.
Chúng
tôi khuyên quý bạn chỉ nên dùng loại dấm táo khi không có
chanh tươi, và loại dấm táo làm từ trái táo chứ không phải
làm từ vỏ táo và ruột táo (peelings and apple cores). Nên chọn
loại nguyên chất.
BỘT NGỌT
Bột
ngọt, tên chính thức là monosodium glutamate, thường viết tắt
là MSG, là một loại muối glutamic acid, một thứ amino acid
có tự nhiên trong cơ thể con người, trong protein thịt động
vật và trong thực vật, như nấm rơm, đậu peas, cà rốt,
rong biển, v...v...
Mặc
dầu bột ngọt là một trong 24 amino acid của protein nhưng nó
không nằm trong nhóm 8 loại amino acid thiết yếu cho cơ thể,
mà cơ thể không tự tạo ra được. Nếu trong khẩu phần
ăn bình thường hàng ngày của chúng ta có đủ lượng amino
acid từ các loại thực phẩm thì đã có đủ lượng glutamic.
Nếu sự cung cấp qua con đường ăn uống không đủ thì cơ
thể có thể tự tạo ra được. Thực sự cơ thể chúng ta
không cần glutamic dưới dạng bột ngọt.
Được
biết, người Nhật đã khám phá ra đầu tiên chất bột ngọt
lấy từ tinh chất rong biển (seaweed) và sản xuất thương
mại, từ hơn hai nghìn năm nay. Người Trung Hoa cũng dùng bột
ngọt rất phổ thông, từ nhà đến nhà hàng, từ các loại
bánh kẹo đến các món ăn.
Dưới
đây là bảng kê một số thực phẩm có chứa chất bột ngọt
"glutamate tự nhiên":
| Nước
cà chua, 1 cup |
0,827
mg glutamate |
| Cà
chua, 3 slices |
0,339
mg |
| Meat
loaf dinner, 9 oz. |
0,189
mg |
| Sữa
người, 1 cup |
0,176
mg |
| Sữa
bò, 1 cup |
0,032
mg |
| Nấm
rơm, 1 cup |
0,376
mg |
| Bắp
ngô, 1 cup |
0,062
mg |
| Đậu
peas, 1 cup |
0,048
mg |
Source:
U.S. Food and Drug Administration
Ngày
nay, bột ngọt được làm bằng tinh bột, tinh đường mía,
tinh đường củ cải đỏ, và tinh đường bắp ngô. Bột ngọt
cũng được chế tạo bởi tiến trình biến chế thực phẩm
qua dạng lên men (fermantation) hay qua tiến trình thủy phân,
nhiệt phân hay bằng phân hóa tố enzymes.
Chất
bột ngọt chế tạo bởi tiến trình biến chế thủy phân
chất đạm được gọi là "free glutamic acid" hay "free
glutamate" và cơ quan FDA đặt chỉ danh là Monosodium Glutamate
MSG nếu sản phẩm đạt 99% pure MSG. Tuy nhiên, khi chất
đạm đã thủy phân (hydrolyzed protein) chứa ít hơn 99% pure
MSG, cơ quan FDA không đòi hỏi phải kê khai MSG. Một số chỉ
danh như hydrolyzed soy protein, sodium caseinate và autolyzed yeast..
được ghi nơi nhãn hiệu thực phẩm đều có ngầm chứa chất
bột ngọt MSG.
Bột
ngọt MSG được dùng như một chất thêm vào thực phẩm nhằm
kích thích khẩu vị để gia tăng mùi vị thơm ngon của thực
phẩm. Tuy nhiên, nó cũng đã trở nên vấn đề tranh luận
từ 30 năm qua bởi vì có những nghiên cứu cho hay có nhiều
trường hợp bị phản ứng khi dùng bột ngọt.
Nhiều
nghiên cứu khoa học trong thập niên 1970's đã cho biết có
ít nhất 25% dân số Hoa Kỳ bị phản ứng khi ăn chất bột
ngọt MSG, từ chứng nhức đầu, chóng mặt, mặt nổi đỏ,
đến ói mửa. Cơ quan FDA thừa nhận loại bột ngọt bị phản
ứng là loại bột ngọt sản xuất qua tiến trình biến chế,
tức là loại "free glutamic acid" MSG.
Tại
Trung Quốc, vì có quá nhiều người ăn bột ngọt bị ngộ
độc hay dị ứng hen phế quản, nổi mề đay nên trong sách
y khoa của họ có nhóm từ "hội chứng cao lâu Trung Quốc"
để chỉ định bệnh liên hệ đến bột ngọt.
Có
nhiều nghiên cứu cũng đã cho biết, trẻ em là nhóm dễ bị
nguy hiểm nhất, và vì vậy các nhà sản xuất bột ngọt tại
Hoa Kỳ đã đồng ý loại bỏ chất bột ngọt MSG trong các
thực phẩm baby food từ năm 1970. Tuy nhiên, ngày nay, các nhà
khoa học đã tìm thấy những sự liên hệ giữa bột ngọt
và các chứng bệnh liên hệ đến não bộ như Parkinsonism,
Huntington's disease, và Alzheimer's disease, mà chúng thường xảy
ra nơi người già. Trước đây họ nghĩ rằng nơi người lớn,
các tế bào não bộ được bảo vệ khỏi sự xâm nhập của
bột ngọt, nay họ tin rằng có ít nhất năm vùng trong não
bộ không được bảo vệ.
Năm
1959, FDA đã sắp loại bột ngọt MSG như là một loại thực
phẩm an toàn như các loại gia vị khác, salt, vinegar, hoặc
baking powder. Năm 1986, FDA cũng lập lại rằng chất bột ngọt
an toàn.
Các
thực phẩm rau, đậu và trái cây có chứa nhiều chất bột
ngọt tự nhiên nên những người ăn chay hay không ăn chay không
cần thiết phải tìm kiếm một thứ bột ngọt hãy còn trong
vòng tranh cãi. Khi đi chợ hãy mua rau, đậu, và trái tươi,
tránh các thực phẩm biến chế, nếu quá cần thiết phải
mua, nên đọc cho kỹ nhãn hiệu thực phẩm. Ngoài chữ
monosodium
glutamate chỉ danh bột ngọt, còn có những chữ như monopotassium
glutamate, autolyzed yeast, hydrolyzed soy protein, sodium cascinate,
cũng đều có chứa chất bột ngọt msg. Những thực phẩm
loại broth, bouillon, hay có đề chữ
natural flavoring, và natural
flavor cũng ẩn chứa chất bột ngọt msg vì cơ quan FDA không
đòi hỏi nhà sản xuất thực phẩm phải kê khai rõ khi dùng
hydrolyzide
protein trong thành phần cấu tạo sản phẩm.
Nói
tóm lại, bột ngọt chỉ là một chất gia vị phụ thuộc,
không chứa thành phần dinh dưỡng nào cần thiết đối với
cơ thể, vì vậy quý bà nội trợ không nên dùng. Hãy nên
tạo ra vị ngon ngọt thực sự của các món ăn bằng thực
phẩm tự nhiên.
Nếu
vì do thói quen từ lâu đã dùng bột ngọt khó từ bỏ ngay
được, nên thay thế tạm bằng bột nêm chay loại natural vegetarian
seasoning, như một "optional", có bày bán tại các tiệm thực
phẩm chay.
Có
nhiều loại bột nêm chay, nhưng loại natural vegetarian seasoning
mang nhãn hiệu Chef's Magic Natural Vegetarian Seasoning của công
ty All Vegetarian Inc. ở Hoa Kỳ và Spice of Natural Mushroom Drop
của công ty Hsin Sui ở Taiwan, được làm bằng tinh bột nấm
rơm "shiitake mushroom extract powder", và "vegetable &
fruit powder".
Nhà
sản xuất nói rõ là không có chất bột ngọt MSG (monosodium
glutamate) và chất hóa học preservative. Tin hay không tin về
những lời nói của nhà sản xuất tùy thuộc thẩm quyền
nơi quý độc giả. Tuy nhiên, nếu "có" mà họ ghi "không có"
nơi nhãn hiệu thực phẩm là hành động vi phạm luật an toàn
thực phẩm liên bang Hoa Kỳ.
HÀN THE
VÀ PHÈN CHUA
Hàn
the (borax) là một chất muối mầu trắng, công thức
hóa học là Na2B4O7, có đặc tính của loại acid yếu, được
dùng để làm thuốc sát trùng, làm bẫy thú vật, trừ gián
kiến, làm xà phòng, chất tẩy trắng.
Hàn the hòa
tan trong nước, thành lập chất kềm (alkaline), trở nên một
dung dịch khử trùng, và có khả năng tẩy sạch những dơ
bẩn. Vì thế nó là một loại hóa học độc hại với người
và vật. Có những nghiên cứu cho biết tiêu thụ một lượng
cao chất hàn the đưa đến tình trạng rối loạn tiêu hóa
và làm hư hại bộ phận cật.
Phèn Chua
(alum) là một chất muối mầu trắng, được điều chế bằng
cách cho chất quặng bauxite tác dụng với sulfuric acid, công
thức hóa học là Al2(SO4)3 aluminum sulfate. Phèn chua được dùng
trong kỹ nghệ nhuộm, kỹ nghệ thuộc da và dùng để lọc
nước.
Hai hóa chất
hàn the và phèn chua không được phép dùng trong việc biến
chế thực phẩm tại Hoa kỳ. Riêng tại Việt Nam, chúng tôi
không được biết rõ, nhưng xem qua các sách nấu ăn mặn cũng
như ăn chay xuất bản tại Việt Nam, thì hầu như tất cả
các món ăn, không món nào thiếu ba chất không cần thiết
được thêm vào trong tiến trình nấu nướng, là bột ngọt,
hàn the và phèn chua.