|
|
|
PHẦN
THỨ NHẤT: DINH DƯỠNG VÀ SỨC KHỎE
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
PHẦN
THỨ HAI:
THỰC
HÀNH
Biên Soạn:
Tâm Linh
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
c
DINH DƯỠNG
NGĂN NGỪA BỆNH TẬT
Biên Soạn:
Tâm Diệu và Tâm Linh
Sửa Chữa
Bản In: Liên Hương
In Lần
Thứ Nhất Tại Hoa Kỳ 3500 Cuốn Tháng 6 Năm 2001
CHUƠNG
3
TẠI
SAO ĂN RAU ĐẬU
CÓ
THỂ PHÒNG NGỪA ĐƯỢC BỆNH TẬT?
Trong
nhiều thập niên qua, chúng ta đã biết ngũ cốc, rau đậu
và trái cây đã cung cấp cho chúng ta nhiều chất dinh dưỡng
cần thiết để duy trì sức khỏe, như vitamins, minerals, fiber,
và complex carbohydrates. Nhiều nghiên cứu khoa học đã liên
tục chứng minh ăn nhiều rau, trái cây và đậu hạt có thể
giảm mức độ lâm bệnh tim mạch và ung thư. Bởi vì chúng
không có cholesterol, ít chất béo bão hòa, và có nhiều chất
xơ.
Gần
đây, các nhà khoa học đã khám phá thêm một nhóm chất mới
có chứa trong rau, trái cây và đậu hạt, có khả năng phòng
vệ cho cơ thể chúng ta tránh được nhiều thứ bệnh và làm
chậm tiến trình lão hóa. Đó là chất phytochemicals.
Phytochemical
là một loại hóa chất chứa trong thực vật, nhằm giúp cho
chúng có mầu sắc, mùi vị, và bảo vệ cho chính chúng tránh
khỏi sự ác nghiệt của thời tiết và các tật bệnh. Đối
với con người, phần lớn phytochemicals hoạt động chống
lại sự ốc xy hóa (antioxidants), bảo vệ các mô tế bào và
các bộ phận cơ thể chúng ta tránh bị tàn phá bởi free
radicals.
Free
radicals là những độc tố (toxic oxygen molecules) tiết ra bởi
khói thuốc, khói xe, không khí ô nhiễm, tia nắng mặt trời,
tia quang tuyến x-rays, và phó sản của tiến trình biến hóa
năng lượng (by-product of our metabolism) trong cơ thể chúng ta.
Free radicals, tạm dịch là "gốc tự do", là những cấu trúc
hóa học không ổn định và rất dễ gây phản ứng, vì ở
lớp ngọại vi của nó có một điện tử đơn độc, luôn
luôn đi tấn công các phân tử kế cận để cặp đôi với
một điện tử khác, do đó phát sinh ra phản ứng hóa học
"ốc xy hóa", và các phân tử bị tấn công lại biến
thành free radical, sinh ra phản ứng dây chuyền. Thêm vào đó,
free radical còn tấn công các enzyme và các protein của tế bào.
Các họat động rối loạn này của free radical làm cho các
tế bào suy yếu, do đó khả năng biến đổi năng lượng
suy giảm và cuối cùng sinh ra bệnh tật. Tính phá hoại
của free radical đối với toàn bộ các thành tố tế bào,
đóng vai trò chủ yếu trong quá trình suy yếu con người.
Các
nghiên cứu khoa học cho biết, phytochemicals hiện diện trong
mọi giai đoạn của tiến trình phát triển ung thư. Một số
hoạt động ngay ở giai đoạn đầu tiên bằng cách ngăn không
cho enzyme kích thích các genes ung thư hoặc phòng vệ không cho
một số chất thành lập các mầm gây ung thư. Một số khác
ngăn cản không cho các mầm ung thư đã phát sinh phá hoại
các mô tế bào, các bô phận cơ thể, hay giúp cơ thể sản
xuất các enzymes cần thiết để phá hủy các mầm ung thư.
Phytochemicals
cũng giúp cơ thể chống lại các bệnh liên hệ đến tim và
mạch. Một vài loại phytochemicals có khả năng làm giảm áp
huyết máu và lượng cholesterol trong máu, cũng như ngăn không
cho ốc xy hóa chất cholesterol xấu LDL, ngăn ngừa sự hư hại
hay tắc nghẽn động mạch.
Trong
thập niên 1970s, Lee Wattenberg, PhD, of the University of Minnesota,
đã khám phá những con vật được nuôi sống bằng broccoli,
Brussels sprouts, và các loại rau thuộc họ bắp cải (cabbage
family) đã có tỷ lệ mắc bệnh ung thư thấp hơn nhóm những
con vật khác. Cũng tương tự, các nhà khoa học tại John Hopkins
University đã tìm thấy những con vật ăn rau giảm 90 phần
trăm bệnh ung thư sau khi chúng được cho nhiễm ung thư. Cũng
vậy, trong những năm 1970s, các khoa học gia người Đức đã
khám phá ra rằng những người Nhật tiêu thụ đậu hũ và
các sản phẩm biến chế từ đậu nành, mà trong đó có chất
genistein, đã có tỷ lệ thấp bị bệnh ung thư so với chế
độ ăn uống không có đậu hũ của người Tây phương. Dưới
đây là những kết quả đã tìm thấy:
Allium
compounds (trong hành và tỏi): Một nghiên cứu rộng lớn
với 41,000 phụ nữ, được biết đến với tên là Iowa
Women's Health Study đã tìm thấy một chế độ ăn uống
bao gồm rau, trái cây và tỏi đã giảm mức lâm bệnh ung thư
kết tràng (colon cancer) đến 35 phần trăm. Một nghiên cứu
khác ở thành phố Quảng Đông, Trung Hoa cho biết những người
ăn hành và tỏi thường xuyên giảm mức lâm bệnh ung thư
dạ dầy đến 40 phần trăm.
Lycopenes
(trong cà chua và những rau quả có mầu đỏ và mầu da cam):
Một nghiên cứu của viện y tế Ý Đại Lợi với 5.500 người,
đã tìm thấy ăn cà chua là phương pháp hữu hiệu nhất phòng
ngừa các bệnh ung thư, nhất là ung thư nhiếp hộ tuyến.
Những người ăn cà chua ít nhất 7 lần trong một tuần đã
giảm 50 phần trăm mức nguy hiểm lâm bệnh ung thư so với
những người chỉ ăn có một lần trong một tuần. Những
nghiên cứu khác cũng cho những kết quả tương tự. Một nghiên
cứu kéo dài sáu năm tại viện đại học Harvard Medical School,
với 48.000 đàn ông, tuổi từ 40 đến 75, đã cho biết những
người ăn cà chua từ bốn đến bẩy lần trong một tuần
đã giảm thiểu mức độ lâm bệnh ung thư nhiếp hộ tuyến
đến 22 phần trăm và những người ăn nhiều hơn mười lần
một tuần giảm đến 35 phần trăm.
Beta
carotene (trong các trái cây mầu đỏ, mầu da cam và rau
mầu xanh đậm): Nhiều nghiên cứu khoa học cho biết tiêu thụ
nhiều loại rau có chứa chất beta carotene này, đã giảm thiểu
mức độ lâm bệnh tim mạch đến 33 phần trăm.
Lutein
and zeaxanthin (chất carotenes trong rau mầu xanh đậm):
Một nghiên cứu gần đây đã thấy những người ăn các loại
rau xanh, như spinach và collards, ít nhất năm lần trong một
tuần đã giảm mức độ nguy hiểm của chứng bệnh mờ võng
mạc của mắt đến 50 phần trăm, so sánh với những người
ăn ít hay không ăn. Hai chất carotenoids, lutein and zeaxanthin,
có tác dụng bảo vệ võng mạc mắt.
The
National Health and Nutrition Examination Survey
tìm thấy ở những người ăn nhiều rau và trái cây cũng có
kết quả tương tự.
Genistein
(trong đậu nành, đậu xanh và giá alfalfa sprouts): Nhiều nghiên
cứu cho thấy đậu nành có chứa nhiều chất có khả năng
chống ung thư rất cao, bao gồm các hóa chất phytates, protease
inhibitors, phytosterols, saponins and isoflavonoids. Các nghiên cứu
khoa học cho biết tiêu thụ nhiều thực phẩm đậu nành đã
có tác dụng giảm bệnh ung thư vú và ung thư nhiếp hộ tuyến
ở Nhật Bản. Ở Trung Hoa vùng dân số tiêu thụ nhiều thực
phẩm đậu nành có tỷ lệ bị bệnh ung thư vú, bao tử, kết
tràng, và phổi ít hơn 50 phần trăm vùng dân số ăn ít hay
không ăn. Được biết thực phẩm đậu nành như đậu hũ
rất giầu chất isoflavones, genistein và diadzein. Những chất
isoflavonoids này ngăn cản sự phát triển các mầm mống ung
thư. Sau đây là bảng kê khai những nhóm thực phẩm có chứa
nhiều chất phytochemicals nhất:
|
Thực
Phẩm
|
Chất
Chống Ung Thư
|
Tác
Dụng
|
| Cam,
bưởi, chanh |
Limonene
Carotenoids,
Flavonoids |
Chống
ung thư, chống ốc xi hóa (antioxidant) |
| Dâu
Tây, bao gồm: strawberries, bluberries, blacberries, raspberries, currants. |
Anthocyanidins,
Ellagic acid |
Cả
hai chất này đều có tác dụng chống ốc xi hóa, giảm sự
phát triển các u bứu (tumor) bằng cách cản trở không cho
sản xuất các enzymes dùng bởi tế bào ung thư. Ellagic acid
giúp phòng ngừa sự thành lập các tế bào ung thư mới. Anthocyanidins
cũng
giúp ngăn ngừa các bệnh tim mạch. |
| Nho
bao gồm red grapes, red wine |
Resveratrol,
Quercetin, Anthocyanidins, Phytosterols,
Ellagic
acid |
Resveratrol
bảo vệ các tế bào khỏi bị hư hại và chế ngự sự phát
triển các khối u, ngăn ngừa ung thư da và giảm cholesterol.
Quercetin
giúp ngăn ngừa bệnh tim. Anthocyanidins và Ellagic acid
tác dụng chống ốc xi hóa |
| Nhóm
trái cây và nhóm rau có mầu vàng và mầu cam cùng nhóm rau
lá xanh |
Carotenoids
như beta carotene, lutein, zeaxanthin |
Chống
ung thư, gia tăng sức mạnh của hệ thống miễn nhiễm, bảo
vệ võng mạc mắt khỏi bị hư hại bởi các tia phóng xạ,
vì thế giảm nguy cơ hư mắt. Nhóm trái cây và rau này cũng
giầu vitamin C và fiber. |
| Nhóm
Rau Xoắn bao gồm: broccoli, broccoli sprouts, Brussels sprouts, kale,
cabbage, cauliflower |
Indoles,
Isothiocynates, (sulphoraphane), Carotenoids (beta carotene) |
Được
xem là thực phẩm chống ung thư.
Sulphoraphane tác dụng
gia tăng sự sản xuất các enzymes, ngăn cản không cho các mầm
ung thư phá hoại các tế bào khác. Giúp làm chậm sự phát
triển các u bứu và giảm nguy cơ lâm bệnh ung thư phổi. Indolesgiúp
kích thích các enzymes, giảm sự tác dụng chất hormone estrogen,và
cải thiện sự đáp ứng của hệ thống miễn nhiễm cơ thể.
Giúp giảm nguy cơ lâm bệnh ung thư vú và buồng trứng.
Nhóm
rau này cũng giầu vitamin B (folic acid), vitamin C, fiber và carotenoids. |
| Nhóm
họ tỏi bao gồm:hành, tỏi, hẹ |
Allylic
sulfides |
Chống
các mầm ung thư và các khối u, giảm nguy cơ bệnh ung thư
kết tràng colon, dạ dày và các thứ ung thư khác. Ngăn ngừa
các bệnh tim mạch. |
| Nhóm
Đậu bao gồm: đậu lima, kidney, navy, lentils... |
Isoflavonoids,
phytic
acid,
saponins,
phytosterols |
Tác
dụng chống ung thư, ngăn ngừa các bệnh liên hệ đến tim
mạch. Phytosterols cũng có thể chống ung thư kết tràng.
Nhóm đậu này chứa vitamin B (folic acid) và những chất dinh
dưỡng khác cũng như nhiều chất xơ, có tác dụng giảm cholesterol. |
| Cà
Chua |
Carotenoids,
phần lớn là Lycopene (cũng có một lượng nhỏ trong trái bưởi
hồng, dưa hấu, soài và red peppers) |
Đảm
nhiệm chức năng antioxidant, bảo vệ cơ thể tránh không cho
sự phá hoại của free radical. Lycopene giúp giảm nguy
cơ lâm bệnh tim mạch, ung thư kết ràng (colon), ung thư nhiếp
hộ tuyến (prostate), và ung thư lá lách (pancreatic).Lycopene chiến
đấu chống ung thư bằng nhiều phương cách trong đó có cách
giảm sự hiệu nghiệm của testosterone. |
| Ngũ
cốc nguyên chất bao gồm gạo, lúa mì, lúa mạch (barley), yến
mạch (oats) và rye |
Saponins,
terpenoids, phytic acid, ellagic acid, phytoestrogens |
Saponins
trung hòa các hóa chất gây nên mầm ung thư trong ruột. Terpenoids
và
phytic acid giúp giảm nguy cơ bệnh nhồi máu cơ tim
và ung thư. Cũng giầu chất xơ, tác dụng giảm cholesterol và
giảm nguy cơ bệnh ung thư kết tràng. |
| Đậu
Nành bao gồm đậu hũ, sữa, các sản phẩm từ đậu nành |
Isoflvonoids,
daidzein, genistein, lignans, saponins, phytosterols |
Giảm
cholesterol, ngăn ngừa các bệnh tim mạch và bệnh ung thư |
| Bí,
Khoai lang, bắp ngô, carrots, peaches cantaloupe, apricots, spinach,
kale |
Alpha-carotene,
Beta
carotene
(a
carotenoid) |
Có
tác dụng làm chậm lại sự phát triển các tế bào ung thư,
giúp giảm thiểu nguy cơ lâm bệnh ung thư phổi. Chống sự
ốc xy hóa. Giúp giảm thiểu nguy cơ lâm bệnh tim và các loại
bệnh ung thư kết tràng (colon), bọng đái (bladder), và da, cũng
như kích thích hệ thống miễn nhiễm cơ thể. |
Source:
- UC Berkeley Wellness Letter, April 1999: Beyond Vitamins: The New Nutrition
Revolution
-
The Wellness Encyclopedia of Foods and Nutrition, University of California
at Berkeley, 1992
Nói
tóm lại, các chất phytochemicals tìm thấy đã được các nhà
khoa học đặt tên và phân thành bốn nhóm: (1) Nhóm thanh
lọc độc tố: Giúp tế bào nhận diện, phá hủy và
thải hồi các chất độc trong cơ thể. Các độc tố này
do nguồn thức ăn (các thứ phân bón, thuốc trừ sâu, chất
thải thẩm thấu...), do nước uống, do khói thuốc, và do không
khí ô nhiễm. Nhóm này bao gồm limonenes trong cam,
chanh, bưởi,
isothiocynates trong họ rau cải, ally
sulfides trong tỏi, hành, hẹ. (2) Nhóm chống ốc
xy hóa: là những đội quân tác chiến chống lại sự
gây rối loạn của free radicals, không cho chúng có cơ hội
kích thích, tác động các mầm ung thư nảy sinh. Nhóm này bao
gồm carotenoids trong cà rốt, cà chua, bí ngô, khoai
lang, lutein trong các lá rau có mầu xanh đậm, lycopen
trong cà chua. (3) Nhóm điều hòa tế bào: kiểm
soát sự phát triển các tế bào nảy u (tumor), ngăn cản không
cho chúng tăng trưởng. Thí dụ như genistein trong
đậu nành. (4) Nhóm điều hòa kích thích tố: giúp
điều hòa hệ sản xuất kích thích tố, ngăn cản không cho
sản xuất khi lượng lên cao hơn bình thường và tăng sản
xuất khi lượng xuống thấp. Thí dụ như isoflavones
trong đậu nành và indoles trong nhóm rau cải cruciferous
vegetables

|