DANH
LAM NƯỚC VIỆT
Võ Văn Tường
và Huỳnh Như Phương
Lời
giới thiệu của Hòa thượng Thích Thiện Siêu
-
Phần
III: CÁC CHÙA NAM BỘ
-
.
-
TP.
HỒ CHÍ MINH
-
CHÙA
GIÁC LÂM [^]
Vị trí bề thế, nhưng
quy mô lại khiêm tốn, chùa Giác Lâm là một trong những ngôi
chùa cổ nhất của thành phố Hồ Chí Minh đã được Bộ
Văn hóa ra quyết định số 1288 VH/QĐ ngày 16 - 11 - 1988 công
nhận là một di tích lịch sử - văn hóa. Chùa tọa lạc ở
số 118 đường lạc Long Quân, phường 23, quận Tân Bình, trong
vùng Phú Thọ Hòa.
Chùa vốn ở trên gò
Cẩm Sơn, còn gọi là Cẩm Đệm và Sơn Can, do ông Lý Thụy
Long, người Minh Hương, quyên tiền của xây dựng vào mùa
xuân năm Giáp Tý (1744), đời Chúa Nguyễn Phúc Khoát. Sách
Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức miêu tả khu
vực này như sau : rộng ba dăm, cây cao như rừng, hoa nở tựa
gấm, sáng chiều mây khói nổi bay quanh quất, địa thế tuy
nhỏ mà có nhã thú. Thi nhân du khách, mỗi dịp tết Thanh minh,
Trùng cửu rảnh rỗi, kết bầy năm ba người đến mở tiệc
thưởng hoa, chuốc chén ngâm vịnh, ngó xuống chợ búa rộn
ràng xa cách ra ngoài tầm mắt…"
Năm 1772, Hòa thượng
Viên Quang thuộc dòng Lâm tế tới trụ trì, từ đó mới đổi
tên là Giác Lâm.
Chùa đã trải qua nhiều
lần trùng tu. Lần thứ nhất, vào khoảng năm 1799 - 1804, Hòa
thượng Viên Quang cho xây lại ngôi chùa. Đến năm 1906 - 1909,
Hòa thượng Hồng Hưng với sự giúp sức của Hòa thượng
Như Phòng, đã cho tôn tạo lại ngôi chùa một lần nữa. Các
sự kiện này được ghi lại trong đôi liễn mừng lạc thành,
nay còn treo ở chánh điện.
Khuôn viên chùa khá rông,
nằm lọt giữa phố phường đông đúc, chung quanh là những
bức tường xây. Qua cổng chùa, ngay giữa sân có dựng tượng
Bồ - tát Quan Thế Âm dưới bóng cây bồ đề tán lá xanh
tốt. Đây là cây bồ đề do Đại đức Narada mang từ SriLanca
sang trồng ngày 18-6-1953. Nhân dịp này Ngài cũng cúng cho chùa
Xá-Lợi Phật Thích-ca.
Ngày 17 tháng 6 năm 1994,
Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức lễ khánh thánh
Bảo tháp Xá-lợi và cung nghinh Xá-lợi Phật từ chùa Long
Vân, Bình Thạnh về chùa Giác Lâm, tôn trí tại Bảo tháp
(nguyên từ năm 1953, Xá-lợi Phật được đưa về tôn trí
tại chính điện chùa Long Vân). Bảo tháp gồm 7 tầng, hình
lục giác, mỗi tầng đều có mái ngói, cửa ra vào. Tháp được
xây từ năm 1970 theo đồ án của kiến trúc sư Vĩnh Hoằng,
đến năm 1975 thì tạm ngưng cho đến năm 1993 mới được
tiếp tục. Tháp cao 32m, mặt hướng Đông, là một trong những
bảo tháp lớn và nổi triếng nhất thành phố.
Ngôi chùa có hình chữ
nhật, dài 65m, rộng 22m, gồm 3 lớp nhà chính: chánh điện,
giảng đường và nhà trai, không kể các dãy nhà phụ. Chùa
có tất cả 98 cột. Trên cột có khắc 86 câu đối dính liền,
chữ thếp vàng, khung viền chung quanh được trạm trổ rất
công phu. Các đầu kèo đều tạc hình đầu rồng. Các bàn
thờ trong chánh điện đều được làm bằng gỗ quý nên rất
chắc chắn. Gian giữa có ba tấm bao lam hình Tứ quí (mai, lan,
cúc, trúc), Tứ linh (long, lân, qui, phụng) và Cửu Long.
Chùa có 113 pho tượng
cổ, chủ yêu bằng danh mộc (gỗ mít nài) được sơn son thếp
vàng. Ngoài ra có 7 pho tượng đồng. Toàn bộ tượng, bao lam,
ghế bàn, bảo tháp đều được chạm khắc cực kỳ tinh xảo.
Pho tượng Phật cổ nhất ở chùa là tượng đức Phật Thích-ca
Mâu-ni ngồi trên tòa sen, bằng gỗ, cao 0,65m ; bề ngang hai
gối 0,38m, được tôn trí ở giảng đường, có niên đại
vào khoảng thế kỷ XVIII. Toà Cửu Long diễn tả sự tích
đức Phật Thích-ca đản sinh, được đúc bằng đồng, tôn
trí ở bàn thờ chánh điện. Khá đặc sắc về nghệ thuật
tạc tượng là hai bộ Thập bát La-hán. Bộ La-hán nhỏ, mỗi
pho tượng cao khoảng 0,57m (tượng cao 0.50m và đế cao 0.07m)
được tạo tác vào đầu thế kỷ XIX ; bộ La-hán lớn, mỗi
pho tượng cao khoảng 0.95m (tượng cao 0.80m và đế cao 0.15m)
được tạo tác vào những năm đầu thế kỷ XX, đặt hai
bên điện Phật ở chánh điện.
Bên trái khuôn viên chùa
có khu mộ tháp của các vị Tổ đã trụ trì ở đây: Viên
Quang, Hải Tịnh, Minh Vi, Minh Khiêm, Như Lợi, Như Phòng …
Ở đây còn có cả tháp của Tổ Phật Ý, thầy của Tổ Viên
Quang, trụ trì Sắc tứ Từ Ân, được dời về chùa Giác
Lâm vào năm 1923.
CHÙA
ẤN QUANG [^]
Tổ đình Ấn Quang được
xây dựng cách nay không lâu, nhưng lại giữ một vị trí rất
đặc biệt trong lịch sử Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Nơi đây đã từng chứng
kiến nhiều sự kiện quan trọng trong những bước thăng trầm
và phát triển của đạo Phật ở miền Nam. Chùa Ấn Quang
đã là nơi đặt trụ sở của Phật học đường Nam Việt,
Giáo hội Tăng già Nam Việt (1959-1963), văn phòng Viện Hóa
Đạo và Viện Tăng Thống (1976 - 1980), nay là trụ sở Ban Trị
sự Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Giáo
hội Phật giáo Việt Nam (từ năm 1982).
Chùa Ấn Quang hiện tọa
lạc tại 243 Sư Vạn Hạnh, Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.
Chùa được Hòa thượng Thích Trí Hữu từ chùa Linh Ứng ở
Ngũ Hành Sơn, Đà nẵng vào lập nên vào năm 1948. Lúc đầu
đây chỉ là một ngôi Phật tự nhỏ bằng cây lợp lá, mang
tên là Ứng Quang Tự.
Năm 1950, Hòa thượng
Thích Thiện Hòa (1907 - 1978), thuộc dòng thiền Lâm Tế đời
thứ 43, sau 10 năm tu học về đạo pháp và giới luật tại
Tây Thiên Phật học đường, Báo Quốc Phật học đường
và chùa Quán Sứ, trở về Sài Gòn. Ngài được Hòa thuợng
Thích Trí Hữu giao cho quyền quản lý chùa Ứng Quang để hoằng
dương Phật pháp. Với tư cách là Viện chủ, Hòa thượng
Thích Thiện Hòa đã cho xây dựng ngôi chánh điện theo kiểu
chùa Từ Đàm ở Huế. Từ đó trong suốt hơn một phần tư
thế kỷ, Hòa thượng Thích Thiện Hòa đã hiến trọn tâm
trí và công đức để tôn tạo ngôi chùa và thành lập trường
Phật học để giáo dục và hoằng pháp.
Đầu năm 1951, Hòa thượng
Thích Thiện Hòa đã vận động các trường Phật học Liên
Hải, Mai Sơn, Sùng Đức và Ứng Quang hiệp nhất thành Phật
học đường Nam Việt. Chùa Ứng Quang được đổi tên thành
Ấn Quang và được chọn làm trụ sở của Phật học đường.
Hòa thượng Thích Thiện Hòa được bầu làm Tổng giám đốc.
Năm 1955, chùa xây dựng
thêm dãy lẫu nhà tổ và trai đưởng. Liên tục hai năm sau
đó, xây nhà in Sen Vàng, xưởng nhang Bổ Đè, thư viên, nhà
xuất bản, nhà phát hành Hương đạo. Năm 1959, xây lại dãy
lầu giảng đường. Đến năm 1966, chánh điện được tôn
tạo; năm sau lầu tăng xá, nhà trai được tái thiết. Kiến
trúc chùa được xây dựng theo đồ án của kiến trúc sư
Nguyễn Hữu Thiện. Bên trong chùa ngoài tượng đức Bổn Sư
Thích-ca và tượng các vị Phật được tôn trí trang nghiêm
tại chánh điện, còn có tượng Tổ Sư Đạt ma (tạc bằng
gỗ) và bộ tranh sơn mài Quan Âm, Văn-thù, Phổ Hiền do nghệ
nhân Trương Văn Thanh (tức Đại đức Minh Tịnh) thực hiện.
Từ năm 1974, do Hòa thượng
Thích Thiện Hòa lâm bệnh nặng, một Hội đồng Quản trị
Tổ đình Ấn Quang gồm chín vị, do Hòa thượng Thích Huệ
Hưng làm Tổng lý, đã được bầu ra để đảm đương Phật
sự. Hòa thương Thích Thiện Hòa viên tịch năm 1978. Tên tuổi
Hòa thương gắn liền không chỉ với sự nghiệp mở mang chùa
Ấn Quang và còn với sự nghiệp đào tạo hàng trăm giảng
sư và hàng nghìn Tăng Ni sinh làm sứ giả của Như Lai đi bổ
xứ trụ trì các chùa ở các tỉnh miền Nam.
CHÙA
XÁ LỢI [^]
Chùa Xá Lợi nằm trên
một khuôn viên rộng 2500m2, giữa một khu phố khá
yên tĩnh, cổng chính nhìn ra đường Bà Huyện Thanh Quan, cổng
phụ nhìn ra đường Sư Thiện Chiếu. Chùa được khởi công
xây dựng vào ngày 5-8-1956 dưới sự quản đốc công trường
của hai kỹ sư Dư Ngọc Ánh và Hà Tố Thuận, thi công theo
họa đồ của hai kiến trúc sư Trần Văn Đường và Đỗ
Bá Vinh. Chủa được khách thành vào các ngày 2-3-4 tháng 5
năm 1958. Có được kết quả này là nhờ vào sự đóng góp
của Phật tử 21 tỉnh miền Nam lúc đó, dưới sự tổ chức
xây dựng của Hội Phật học Việt Nam.
Tương truyền rằng trong
quá trình xây cất, ở đây có biển đề "Công trình Chùa
thờ Xá-lợi Phật". Do đó, nhân dân quen gọi là chùa Xá Lợi.
Đến khi khánh thành, theo ý kiến Hòa thượng Khánh Anh, chùa
đã lấy tên này như cách gọi của nhân dân.
Cấu trúc ngôi chùa gồm
có : chánh điện, giảng đường, thư viện, văn phòng, phòng
hội đồng, phòng họp, phòng khách, phòng tăng và vãn sinh
đường. Chánh điện ở lầu một, dài 31m, rộng 15m. Trong
lễ đường chỉ tôn trí một vị Phật là đức Thích-ca Mâu-ni.
Tượng này do Trường Mỹ nghệ Biên Hòa thực hiện năm1958
bằng bột đá mầu hồng. Trên tường chánh điện có những
bức tranh minh họa đời sống đức Phật Thích-ca từ lúc
đản sinh cho đến khi nhập niết bàn. Các tác phẩm này do
họa sĩ Nguyễn Văn Long thực hiện vào các năm 1959-1960.
Phía bên trái tam quan
chùa trên đường Bà Huyện Thanh Quan có một tháp chuông cao
7 tầng, được khởi công xây dựng vào ngày 15-12-1960 và khánh
thánh vào ngày 23-12-1961. Đại hồng chung đã phải đúc hai
lần mới thành công và được đem lên tháp ngày 17-10-1961
với sự chứng minh của Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh
Khiết.
Nếu chùa Ấn Quang gắn
liền với sự ra đời và hoạt động của Phật học đường
Nam Việt, thì chùa Xá Lợi lại có quan hệ mật thiết với
lịch sử của Hội Phật học Nam Việt. Hội này thành lập
năm 1951 tại Sài Gòn, do bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, thầy Quảng
Minh và cụ Chánh Trí Mai thọ Truyền lần lượt làm Hội trưởng.
Hội đã từng có chi nhánh ở hầu hết các tỉnh miền Nam
trước đây với cơ quan ngôn luận là tạp chí Từ Quang. Chùa
Xá Lợi từng được chọn làm trụ sở của Ủy ban Liên phái
bảo vệ Phật giáo năm 1963 và là nơi tổ chức thành lập
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất họp từ ngày 30-12-1963
đến ngày 01-01-1964. Chùa cũng là nơi tổ chức lễ tiếp nhận
và phát hành hai tập kinh đầu tiên Đại Tạng Kinh Việt Nam
vào ngày 31-8-1991.
Từ năm 1981 đấn tháng
5 năm 1993, chùa đặt trụ sở Văn phòng II Giáo hội Phật
giáo Việt Nam tại phía Nam. Kể từ rằm tháng tư năm Quí
Dâu - 1993, Văn phòng II được dời về Thiền Viện Quảng
Đức ở 294 nam Kỳ khởi Nghĩa, Quận 3.
Do vị trí quan trọng
và sự đóng góp lớn lao của chùa trong việc hoằng dương
chánh pháp, chùa Xá Lợi đã nhiều lần đón các vị khách
quốc tế và là nơi thường xuyên có nhiều du khách, Phật
tử đến tham quan, chiêm bái.
Chùa
VĨNH NGHIÊM [^]
Từ phi trường Tân Sơn
Nhất đi về trung tâm thành phố Hồ Chí Minh, trên đường
Nam Kỳ Khở Nghĩa, qua khỏi cầu Công Lý, du khách sẽ thấy
hiện lên sừng sững ngọn tháp của chùa Vĩnh Nghiêm.
Có thể nói đây là
ngôi chùa có kiến trúc bề thế vào bậc nhất nước ta hiện
nay. Chùa mang tên Vĩnh Nghiêm, một trung tâm Phật giáo thời
Trần ở tỉnh Bắc Giang cũ, nay là Hà Bắc. Vĩnh Nghiêm còn
là tên tôn xưng Sư tổ Thanh Hanh (1838 - 1936), một cao tăng
được tấn tôn Thiền gia Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Bắc
Kỳ. Trước năm 1975, Tăng Ni Phật tử miền Bắc sinh sống
tại miền Nam tụ tập thành miền Vĩnh Nghiêm, mà trung tâm
chính là ngôi chùa này.
Chùa được khởi công
xây dựng từ năm 1964 và khánh thành năm 1971 do kiến trúc
sư Nguyễn Bá Lăng thiết kế với sự cộng tác của hai kiến
trúc sư Lê Tấn Chuyên và Cổ Văn Hậu. Chùa làm theo kiểu
chữ "Công" hai lớp mái chồng diêm, mang dáng dấp kiến trúc
cổ kính Á Đông.
Chùa gồm một tầng
trệt và một tầng lầu. Tầng trệt có phòng đọc sách, giảng
đường, văn phòng, phòng tăng chúng. Tầng lầu có sân thượng
rộng khoảng 10m, bên trái là tháp Quan Âm với 7 tầng mái,
bên phải có tháp chuông treo quả đại hồng chung do Giáo hội
Phật giáo Nhật Bản hiến cúng. Bái điện là một tòa phạm
vũ nguy nga, bề rộng 22m, dài 35m. Những công trình chạm khắc
gỗ ở đây có bao hàm tứ linh, bao lam Cửu Long. Đặc biệt
có phù điêu trên hương án chạm các ngôi chùa danh tiếng
trong nước và các nước châu Á.
Bàn thờ Phật được
thiết kế rất trang nghiêm. Ở bảo điện : chính giữa thờ
dức Phật Thích-ca, hai bên là Bồ-tát Phổ Hiền tượng trưng
cho đạo hạnh và Bồ-tát Văn-thù tượng trưng cho trí tuệ.
Tại chánh điện đât
6 bức phù điêu La-hán : Khuyến Học La-hán, Thuyết Pháp Văn
Pháp La-hán, Đạo Sơn Địa Ngục Tiếp Hóa La-hán, Cúng Dàng
La-hán, Cúng Dàng Bố Thí La-hán, Đại Hàn Địa Ngục Tiếp
Hóa La-hán. Đó là những tác phẩm chạm khắc gỗ dựa vào
bản chính của phái Tịnh độ Nhật Bản. Ở hàng hiên, trước
lối vào chánh điện mỗi bên có một pho tượng Kim Cương
lớn.
Các mái chùa đều uốn
cong theo kiểu chùa miền Bắc, mái trước chồng diêm. Giữa
đỉnh nóc có bánh xe pháp luân và các góc chạm hình đầu
phượng.
Nói đến chùa Vĩnh Nghiêm,
ngoài tháp chuông, không thể quên hai ngôi tháp đặc sắc là
tháp Quan Âm và tháp Xá Lợi Cộng Đồng. Tháp Quan Âm dựng
ở bên trái sân thượng trên một diện tích 200m2
. Tháp có 7 tầng mái, từ mặt đất lên đến đỉnh tháp
cao 35m. Tháp xây hình vuông, mỗi cạnh ở tầng một dài 7m.
hai bên cửa ra vào có hai pho tượng Kim Cương đắp nổi, cao
1,48m, ngang 0,74m. Ở 7 tầng của tháp, trên vách đắp nổi
25 tượng Thất Phật Thế Tôn và các vị Tổ, mỗi tượng
có khung vuông, cạnh 1,05m.
Tháp Xá Lợi Cộng Đồng
xây ở phía sau chùa về bên phải, khởi công năm 1982 và hoàn
thành năm 1984. Tháp có 4 tầng, cao 25m, mang nét đặc trưng
của kiến trúc Việt Nam. Tháp là nơi đặt thờ tro hài cốt
của những người do gia đình ký gởi, trong đó có những
văn nhân thi sĩ tên tuổi như Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương
…
Chùa Vĩnh Nghiêm hiện
là nơi đặt trụ sở của trường Cơ bản Phật học thành
phố Hồ Chí Minh.
Tịnh
xá TRUNG TÂM [^]
Tịnh xá Trung Tâm tọa
lạc tại số 7 đường Nguyễn Trung Trực, quận Bình Thạnh,
thành phố Hồ Chí Minh. Đây là ngôi tịnh xá thuộc hệ phái
Tăng già Khất sĩ Việt Nam. Hệ phái này do Tổ sư Minh Đăng
Quang, thế danh là Nguyễn Thành Đạt, người làng Phú Hậu,
tổng Bình Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, sáng lập từ
năm 1944 với hạnh nguyện mà cũng là danh nghĩa để sau này
trở thành truyền thống :
-
"Nối truyền Thích-ca chánh
pháp
-
Đạo Phật Khất sĩ Việt
Nam"
Ngài lập phương châm hành
đạo với chủ trương : "Nên tập sống chung tu học" trong
giới tăng đồ. Ngài cũng khuyến khích mọi người cùng chung
xây dựng một cõi đời hạnh phúc, nhân đạo tại trần gian
bằng cách :
-
Mỗi người phải biết
chữ,
-
Mỗi người phải thuộc
giới,
-
Mỗi người phải tránh
ác,
-
Mỗi người phải (học
đạo) làm thiện.
Ngài phát tâm thể hiện
chí nguyện đi theo và tái tạo con đường phạm hạnh sa môn
khất sĩ của chư Phật - Tăng xưa bằng hình ảnh :
-
Nhất bát thiên gia phạn
-
Cô thân vạn lý du
-
Dục cùng sanh tử lộ
-
Khất hóa dộ xuân thu
Nghĩa là :
-
Một bát cơm ngàn nhà
-
Thân đi muôn dặm xa
-
Muốn thoát đường sinh
tử
-
Xin độ tháng ngày qua
Tịnh xá được bắt đầu
xây dựng vào tháng 4 năm 1965 và kéo dài suốt 10 năm, trong
một khuôn viên rộng 5490m2 do Bà Phán Nguyễn Văn
Chà, pháp danh Diệu Kiến phát tâm cúng dường. Lúc đầu Tịnh
xá bao gồm tòa chánh điện, nhà thờ Cửu huyền thất tổ,
hai dãy nhà tăng và các cốc của chư tăng. Nơi đây trở thành
trụ sở của Trung ương Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt
Nam từ năm 1966 đến năm 1980.
Từ tháng 11 năm 1980,
Thượng tọa Giác Toàn (trụ trì) và Thượng tọa Giác Phúc
(giáo phẩm hệ phái) đã tổ chức trùng tu Tịnh xá bao gồm
tầng trệt và tầng lầu. Chánh điện xây pháp tháp kiểu
bát giác, theo họa đồ của kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thiện.
Phần tháp cao 4,40m, mỗi cạnh 2,25m. Ở nóc tháp có 13 tầng,
tượng trưng cho 13 tầng nấc tiến hóa của chúng sinh (lục
phàm, tứ thánh, tam tôn). Tháp được làm bằng gỗ giáng hương,
chung quanh chạm nổi hình hoa sen. Phần trên là 12 bức chạm
nổi minh họa cuộc đời đức Phật Thích-ca. Toàn bộ cấu
trúc của tháp do ông Thiện Ngộ và nhóm thợ Trường Mỹ
nghệ Long An thực hiện từ năm 1982 đến năm 1984.
Bên trong pháp tháp chánh
điện tôn trí bảo tượng đức Phật Thích-ca. Chung quanh vách
tường có 8 bức phù điêu, mỗi bức cao 2,20m, dài 4,50m, giới
thiệu cuộc đời đức Phật. Đây là công trình của các
điêu khắc gia Minh Dung và Hai Long.
Phía sau chánh điện
là nơi thờ Cửu huyền thất tổ, giữa có tháp thờ Bồ-tát
Địa Tạng. Ngoài sân trước có pho tượng Bồ-tát Quan Thế
Âm cao 9m, đứng trên tòa sen cao 3m.
Trước năm1975, trên
toàn miền Nam. Giáo hội Tăng già Khất sĩ có khoảng 300 tịnh
xá, mà văn phòng trung ương là Tịnh xá Trung Tâm. Hội đồng
lãnh đạo Giáo hội do ngài Trưởng lão Giác Chánh làm Tăng
chủ và Thượng tọa Giác Nhiên làm Tổng trị sự trưởng
tức Viện trưởng Viện Hành Đạo. Theo gương của Tôn sư
Minh Đăng Quang, các đệ tử của Ngài đã thành lập nhiều
đoàn du tăng khất sĩ, gồm 6 giáo đoàn chư tăng và 3 giáo
đoàn ni giới. Với bộ y vàng, không nón mũ, giày dép, tay
bưng bát, các nhà sư khất sĩ đã dấn bước trên khắp các
thành phố và làng mạc miền Nam. Đi đến đâu họ cũng tổ
chức thuyết pháp, xây cất tịnh xá, tích cực tham gia quyên
góp cứu trợ đồng bào nạn nhân chiến tranh và thiên tai.
Trên những nẻo đường hành đạo, nhà thơ Trần Quê Hương
đã cảm tác thành những dòng thơ in trong tập Suối về Hoa
Nghiêm :
-
Mỹ Tho thành phố quê hương
mẹ
-
Gót trải đầu tiên bước
nhịp nhàng
-
Bình bát ngàn nhà cơm gạo
tẻ
-
Nhớ tình phụ mẫu, nhớ
mang mang.
-
…
-
An Đức già lam dừng bước
nghỉ
-
Bên con sông nhỏ nước
êm đềm
-
Khi đêm dìu dịu hương
lan lý
-
Say ngất mùi thiền, vượt
cõi thiên.
Mỹ Tho cũng chính là nơi
mà năm 1946, Tôn sư Đăng Minh Quang, sau một thời gian hơn 2
năm tu trì tại chùa Linh Bửu, đã bắt đầu dẫn đoàn du
tăng đi hành đạo. Từ 1976 đến nay, những đệ tử của
Ngài đã tiếp nối bước chân hoằng hóa bằng cách tĩnh tu
và hành đạo tại những ngôi tịnh xá của hệ phái, dưới
ánh sáng những lời giáo huấn và sự chứng giám của chân
dung Tổ sư được tôn trí thờ phụng tại Tịnh xá Ngọc
Viên (Tổ đình), Tịnh xá Trung Tâm và tịnh xá các nơi.
Thiền
viện VẠN HẠNH [^]
Tại thành phố Hồ Chí Minh, trên
đường từ Phú Nhuận đi Gò Vấp, đến số 716 đường Nguyễn
Kiệm, du khách sẽ thấy hiện ra cổng tam quan bề thế của
Thiền viện Vạn Hạnh.
Trước năm 1975 nơi đây là Phân
khoa Khoa học ứng dụng thuộc Viện Đại học Vạn Hạnh do
Hòa thượng Thích Minh Châu làm Viện trưởng. Năm 1976, Hòa
thượng đã tạo lập thiền viện này làm nơi tu trì và nghiên
cứu Phật học.
Thiền viện tọa lạc trên một
diện tích khoảng 1 hecta, bao gồm ngôi chánh điện ; một nhà
tổ ; các dãy nhà làm trụ sở trường Cao cấp Phật học
Việt Nam, văn phòng Viện nghiên cứu Phật học, văn phòng
Hội đồng phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam ; dãy nhà tăng
và trai đường.
Cổng thiền viện được xây
dựng năm 1990 theo kiểu kiến trúc cổ Phật giáo ở Huế do
Đại đức Tâm Đoan và Đại đức Tịnh Quang đảm trách.
Ngôi chánh điện gồm hai tầng. Ở tầng trệt, gian giữa thờ
tượng đức Phật Thích-ca màu trắng ngà ngồi trên tòa sen,
vẻ mặt đầy bao dung. Nơi đây bài trí đơn sơ nhưng rất
nghiêm cẩn. Hai bên là phòng đọc sách của thư viện với
nhiều sách quý. Tầng lầu là phòng khách và phòng làm việc
của Hòa thượng Viện chủ.
Ngôi nhà Tổ cũng có hai tầng.
Tầng lầu thờ Phật và thờ Tổ. Trên bàn thờ Tổ có chân
dung cố Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Tăng thống
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trước đây. Tầng
trệt là giảng đường, nơi thường tổ chức các buổi giảng
kinh, thuyết pháp, nói chuyện chuyên đề, biểu diễn văn nghệ…
Thiền viện Vạn Hạnh giữ một
vị trí rất quan trọng trong việc nghiên cứu và hoằng dương
Phật pháp. Đây là nơi làm việc của Viện nghiên cứu Phật
học Việt Nam do Hòa thượng Thích Minh Châu, Tiến sĩ Triết
học và Phật học, làm Viện trưởng. Cơ cấu của Viện gồm
có : Ban Phật giáo Việt Nam, Ban Phật giáo quốc tế, Ban Phật
giáo chuyên môn, Ban in ấn và xuất bản. Ngoài ra, ở đây
còn đặt văn phòng Hội đồng phiên dịch Đại Tạng Kinh
Việt Nam do Hòa thượng Thích Minh Châu làm Chủ tịch. Trong
bốn năm qua, Viện đã xuất bản nhiều bộ kinh trong Tam Tạng
kinh điển như : Kinh Trường Bộ (2 tập), Kinh Trung Bộ (3 tập),
Kinh Tương Ưng (5 bộ) … được Hòa thượng Thích Minh Châu
dịch từ nguyên bản Pali ra tiếng Việt ; Kinh Trường A Hàm
(2 tập), Trung A Hàm (3 tập), Tạp A Hàm (2 tập) … được
các vị Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Thích Trị Siêu … dịch
từ bản Hán tạng ra tiếng Việt. Đây là một sự kiện quan
trọng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam cũng như trong đời
sống văn hóa dân tộc.
Thiền viện Vạn Hạnh còn là
một trung tâm đào tạo tăng tài cho các tỉnh phía Nam. Nơi
đây đặt trường Cao cấp Phật học Việt Nam. Ban Giám hiệu
của Trường hiện nay (khóa III, nhiệm kỳ III, 1993 - 1997) gồm
có :
-
Hiệu trưởng : Hòa thượng Thích
Minh Châu
-
Phó Hiệu trưởng : Hòa thượng
Thích Thiện Siêu
-
Phó Hiệu trưởng : Thượng tọa
Thích Giác Toàn
-
Phó Hiệu trưởng : Cư sĩ Tống
Hồ Cầm
-
Tổng Thư ký : Cư sĩ Trần Tuấn
Mẫn
-
Chánh văn phòng : Đại đức Thích
Đạt Đạo
Trường đào tạo theo phương thức
tập trung thông qua một kỳ thi tuyển, mỗi khóa học kéo dài
4 năm, với văn bằng tương đương trình độ đại học. Từ
năm 1984 đến nay, Trường đã mở được 3 khóa, đào tạo
hơn 400 Tăng Ni sinh. Chương trình giảng dạy gồm phần nội
điển do chư tôn túc giảng sư của Giáo hội phụ trách và
phần ngoại điển do các giáo sư, giảng viên các trường
Đại học đảm nhiệm.
Ngoài các trách vụ lãnh đạo
Viện nghiên cứu Phật học và trường Cao cấp Phật học,
Hòa thượng Thích Minh Châu còn đảm đương nhiệm vụ Phó
Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội đồng Trị sự Giáo hội
Phật giáo Việt Nam kiêm Trưởng ban Phật giáo quốc tế, Phó
Chủ tịch Hội Phật giáo Châu Á vì hòa bình (ABCP), Chủ tịch
Trung tâm ABCP Việt Nam. Hòa thượng đã nhiều lần tham gia
các diễn đàn, hội thảo, hội nghị về văn hóa Phật giáo
ở nước ngoài.
Thiền viện Vạn Hạnh thường
xuyên được vinh dự đón tiếp các đoàn đại biểu các Giáo
hội Phật giáo trên thế giới và nhiều đoàn khách quốc
tế đến làm việc, thăm viếng, cùng đông đảo du khách,
Phật tử đến lễ bái, sinh hoạt, nhất là vào ngày lễ Phật
đản, Vu lan …
-
ĐỒNG
NAI
-
Chùa
BỬU PHONG [^]
Chùa Bửu Phong là một
danh lam thắng cảnh không chỉ của tỉnh Đồng Nai mà còn
của cả miền Nam. Chùa tọa lạc trên núi Bửu Long thuộc
thôn Bình Điện, xã Tân Bửu, cách thành phố Biên Hòa 4km.
Do địa danh ấy nên còn có tên là chùa Bình Điện.
Chùa được Hòa thượng
Bửu Phong dựng vào khoảng thế kỷ XVII, lúc đầu chỉ là
một am tranh nhỏ thờ Phật. Sách Đại Nam nhất thống chí
viết rằng : "Núi Bửu Phong ở phía Nam huyện Phước Chánh
13 dặm, phía Tây trông xuống sông lớn, phía sau làm hộ vệ
cho núi Long Ẩn. Trên núi có chùa Bửu Phong khói mây man mác,
cây cối um tùm là thắng cảnh thứ nhất trên tỉnh hạt.
Xưa có nhà sư là Hòa thượng Bửu Phong lập chùa trên núi,
cho nên thường gọi tên là núi Bửu Phong".
Vào cuối thế kỷ XVIII,
số người Hoa đến vùng đất này sinh sống ngày càng đông,
trong đó có những người mộ đạo Phật đã xây cất lại
ngôi chùa bằng gạch ngói. Họ đã mời Thiền sư Thành Trí,
pháp danh Pháp Thông - Thiện Hỉ, thuộc Thiền phái Tào Động
thế hệ thứ 36, đến trụ trì và tôn làm vị Tổ đầu tiên
của chùa. Thiền sư Pháp Thông cũng là người có công khai
sơn chùa Long Ẩn dựng trên núi Long Ẩn phía trước núi Bửu
Long. Ngày nay tại chùa này còn tháp của Tổ sư Pháp Thông
xây theo hình khối lục giác.
Theo tài liệu của ông
Nguyễn Hiền Đức in trong sách Thiền sư Việt Nam của Hòa
thượng Thích Thanh Từ, thì Hòa thượng Pháp Thông không có
đệ tử thay thế, nên Thiền sư Viên Quang là người Minh Hương
thuộc Thiền phái Lâm Tế đời thứ 36 được cử về trụ
trì chùa Bửu Phong. Năm 1760, Thiền sư Viên Quang đã trùng
tu chùa này.
Đến năm Ký Sửu (1829)
chùa được xây cất lại và mở rộng do Tham tướng Nguyễn
Văn Hiệp và Hương bảo Nguyễn Văn Tâm pháp nguyện hiến
cúng. Ngoài ra chùa còn được sửa chữa nhiều lần vào cuối
thế kỷ XIX và những năm gần đây.
Đến thăm chùa Bửu
Phong, sau khi leo lên 100 bậc cấp, du khách có ấn tượng sâu
sắc khi đứng trước tòa kiến trúc này. Mặt tiền có ba
cửa vòng cung lớn, hai bên lại có bốn ô cửa vòng cung nhỏ.
Bên trên mặt tiền trang
trí các hoa văn đắp nổi bằng mảnh sành, mảnh sứ rất
công phu và độc đáo. Trước chùa có tượng Bồ-tát Quan
Thế Âm do Yết-ma Thiện Giáo dựng vào năm 1963. Hai câu đối
ở hai cột chính nói lên ý nghĩa của tên chùa :
-
Bửu nhạc phối đề y
Thứu Lĩnh
-
Phong sơn qún mỹ tự Kỳ
Viên
Nghĩa là :
-
Bửu nhạc dịu dàng như
Thứu Lĩnh
-
Phong sơn đẹp đẽ tựa
Ký Viên
-
(Giản Chi dịch)
Bên trong chánh điện có
tượng Phật Di-đà cổ. Điện Phật được trang hoàng rực
rỡ. Xá-lợi Phật được tôn trí ở ngôi bảo tháp sau chánh
điện.
Hiện nay vùng núi Bửu
Long đã trở thành một quần thể di tích thắng cảnh du lịch
của tỉnh Đồng Nai. Du khách đến Đồng Nai không thể không
viếng chùa Bủu Phong nằm trong toàn cảnh núi Bửu Long hay
núi Bình Điện và sông Trường Giang, tức sông Đồng Nai :
-
Phía sau Bình Điện ngăn
phong lãnh
-
Mé trước Trường Giang
nước chảy quanh
Chung quanh khu vực này còn
có các ngôi tháp cổ và những pho tượng lộ thiên khá lớn
như tượng đức Phật đản sinh, tượng đức Phật thiền
định, tượng đức Phật nhập niết bàn
-
SÔNG
BÉ
-
Chùa
HỘI KHÁNH [^]
Chùa Hội Khánh được
Thiền sư Đại Ngạn (thuộc dòng Lâm Tế) khai sơn năm Cảnh
Hưng thứ 2, đời Lê Hiển Tông, tức năm Tân Dậu (1741). Lúc
đầu chùa được xây trên một ngọn đồi cao, nhưng đến
năm thứ 14 đời Tự Đức, tức năm Tân Dậu (1861), chiến
tranh đã thiêu hủy toàn bộ ngôi chùa. Bảy năm sau (1868),
chùa được Hòa thượng Chánh Đắc cho xây dựng lại dưới
chân đồi, cách vị trí chùa cũ khoảng 100m về phía Nam. Địa
chỉ của chùa hiện nay là 35 đường Yersin, phường Phú Cường,
thị xã Thủ Đầu Một, tỉnh Sông Bé, cách thành phố Hồ
Chí Minh 25km về phía Nam.
Chùa nằm cách đường
lộ 150m. Sau cổng tam quan cổ kính có chạm trổ rồng phượng
là khuôn viên chùa yên tĩnh, với nhiều cây cao bóng cả, trong
đó đặc biệt có bốn cây dầu cao chót vót , cành lá sum
suê, được trồng lúc chùa mới bắt đầu xây dựng, nay tuổi
cây đã trên một thế kỷ.
Chùa đã được tôn
tạo và trùng tu nhiều lần , nhưng vẫn giữ được kiến
trúc cổ mang màu sắc dân tộc. Giảng đường và Đông lang
được xây lại năm 1917, Tây lang được xây lại năm 1984.
Ngôi chánh điện được xây dựng trong hai năm 1990-1991. Và
gần đây nhất , ngày 29-2-1992, Ban Trị sự Tỉnh hội Phật
giáo tỉnh Sông Bé đã tổ chức lễ lã==ạc thành trùng tu
di tích chùa Hội Khánh.
Trong chùa, toàn bộ diện
tích chánh điện, giảng đường, Đông lang và Tây lang rộng
đến 700 m2. Ở chánh điện, các pho tượng Phật
Thích-ca, Địa Tạng, Chuẩn Đề … đều được tạc bằng
gỗ, sơn son thếp vàng. Ba tấm bao lam chạm khắc Tứ linh,
Tứ quí, Cửu long và Thập bát La-hán rất tinh vi, có giá trị
nghệ thuật cao. Hai bên tường của chánh điện có bộ tượng
Thập điện Minh Vương và bộ Thập bát La-hán. Các tác phẩm
chạm khắc gỗ này được tạc vào những năm cuối thế kỷ
XIX đầu thế kỷ XX do nhóm thợ điêu khắc nổi tiếng ở
Thủ Dầu Một lúc đó thực hiện.
Hơn 250 năm nay, chùa
Hội Khánh lưu truyền kế vị đến 10 đời, trong đó có 9
vị đã viên tịch là : Đại Ngạn, Chân Kính, Chánh Đắc,
Trí Tập, Thiện Quới, Từ Văn, Ấn Bửu - Thiện Quới, Thiện
Hương, Quảng Viên. Trước sân chùa có những ngôi tháp của
các vị trụ trì đã viên tịch. Hiện nay trụ trì chùa là
Đại đức Thích Huệ Thông, Chánh Thư ký Ban Trị sự Tỉnh
hội Phật giáo tỉnh Sông Bé.
Chùa Hội Khánh là trung
tâm Phật giáo Cổ truyền của cả vùng đất Bình An xưa kia.
Đây cũng là trung tâm đào tạo tầng lớp sĩ phu của đất
Bình An và đất Thủ Dầu Một sau này. Các nhà sư cũng chính
là người dạy học chữ Hán. Chùa Hội Khánh đã góp phần
đào tạo nhiều thế hệ tu sĩ để trụ trì các chùa khác
trong vùng. Một trong những danh tăng xuất thân từ chùa là
Hòa thượng Thích Từ Văn được xem là Tăng thống Phật giáo
Nam Kỳ và được mời sang Marseille (Pháp) làm lễ cầu siêu
và thuyết pháp vào năm 1920. Chính Ngài đã thỉnh tượng Phật
và đưa thợ thủ công sang Pháp để xây dựng chùa Hội Khánh
bên đó.
TRong những năm 1923 -
1926, ở chùa Hội Khánh có lập Hội Danh dự Yêu nước gồm
các sĩ phu tham gia chữa bệnh, dạy học để truyền bá đạo
lý. Cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh,
đã sống và hoạt động tại chùa trong thời gian này.
Sau năm 1945, chùa Hội
Khánh là nơi qui tụ các Tăng Ni của 40 ngôi chùa khác trong
tỉnh Thủ Dầu Một, lập ra Hội Phật giáo Cứu quốc do Thượng
tọa Thích Minh Tịnh làm Chủ tịch.
Do bề dày lịch sử
của chùa Hội Khánh, ngày nay nơi đây đã vinh dự được
chọn đặt trụ sở Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo tỉnh
Sông Bé và được Bộ Văn hóa công nhận là di tích lịch
sử - văn hóa quốc gia.
-
TIỀN
GIANG
-
Chùa
VĨNH TRÀNG [^]
Du khách đến Mỹ Tho mà không thăm
chùa Vĩnh Tràng là một điều thiếu sót. Đây là ngôi chùa
cổ danh tiếng và là một công trình kiến trúc tiêu biểu
ở Nam Bộ. Chùa tọa lạc trên mảnh vườn cây ăn trái rộng
gần 2 hecta, thuộc làng Mỹ Hóa, nay là xã Mỹ Phong, bên con
rạch Bảo Định hiền hòa nước ngọt quanh năm.
Vào nửa đầu thế kỷ XIX, chùa
vốn là một thảo am do ông Tri Huyện Bùi Công Đạt phát nguyện
xây cất để di dưỡng tinh thần sau khi về hưu. Ông thỉnh
Hòa thượng Từ Lâm ở chùa Bửu Lâm về trụ trì. Sau khi
ông Bùi Công Đạt qua đời, Hòa thượng Huệ Đăng dã vận
động tín đồ xây dựng thành ngôi đại tự với tên Vĩnh
Tran2g, hoàn thành vào mùa hè năm Canh Tuất (1850).
Khi thực dân Pháp đánh chiếm
Định Tường, chùa Vĩnh Tràng bị hư hại khá nặng. Người
kế vị Hòa thượng Huệ Đăng là Hòa thượng Thiện Đề,
sư đệ của Ngài, nối tiếp công việc trùng tu ngôi chùa.
Sau khi Hòa thượng Thiện Đề viên tịch, chùa Vĩnh Tràng hương
tàn khói lạnh. Năm 1890 tín đồ đã đến chùa Sắc tứ Linh
Thứu thỉnh Hòa thượng Trà Chánh Hậu về trụ trì. Ngài
quê ổ Mỹ Tho, là đệ tử Hòa thượng Minh Phước gốc Tổ
đình Bửu Lâm. Năm 1895 Hòa thượng Chánh Hậu cùng bổn đạo
trùng tu toàn bộ ngôi chùa. Đến năm 1904, do một trận bão
lớn, chùa lại bị tàn phá, vì vậy mà 3 năm sau (1907), chùa
Vĩnh Tràng được trùng tu một lần nữa. Hòa thượng Chánh
Hậu trụ trì 33 năm (1890 - 1923) thì qua đời, Kế tục sự
nghiệp của Ngài , Hòa thượng Minh Đàn, pháp danh Tâm Liễu,
cho xây dựng cổng tam quan, mặt tiền, chánh điện và nhà
thờ tổ.
Trước cửa chùa có tam quan tráng
lệ do tốp thợ người Huế thực hiện năm 1933, với sự
tài trợ về kinh phí của hai ông Huỳnh Trí Phú và Lý Văn
Quang. Chiếc cổng giữa bằng sắt lâu nay vẫn đóng kín. Hai
cổng bên bằng bê-tông cốt thép vươn cao như hai tòa lâu
đài cổ. Nét độc đáo của tam quan chùa Vĩnh Tràng thể hiện
ở nghệ thuật ghép mảnh sành, mảnh sứ để tạo nên những
bức tranh với màu sắc hài hòa, minh họa những sự tích nhà
Phật, những truyện tích dân gian và những đề tài Tứ quí,
Tứ linh, hoa lá … Tầng lầu thượng của cổng tam quan có
vòm cửa rộng, bên phải đặt tượng Hòa thượng Chánh Hậu,
bên trái đặt tượng Hòa thượng Minh Đàn. Cả hai tượng
này đều đắp bằng xi măng giống như người thật, do điêu
khắc gia Nguyễn Phi Hoanh thực hiện.
Mặt tiền chùa Vĩnh Tràng trang
trí theo kiểu kết hợp đặc điểm kiến trúc cả Á lẫn
Âu. Ở đây có những hoa văn theo kiểu thời Phục Hưng, vòm
cửa theo kiểu La Mã, bông sắt của Pháp, gạch men của Nhật
Bản … Chữ Hán viết theo lối chữ triện cổ kính , còn
chữ quốc ngữ lại viết theo lối chữ gô-tích. Từ xa trông
vào, du khách có thể hình dung ngôi chùa như đền Ăng-co có
năm tháp. Theo lời truyền tụng của nhân dân địa phương,
thì Hòa thượng Minh Đàn và ông Huỳnh Trí Phú đã từng du
lịch sang xứ Chùa Tháp nên tiếp thu được cái đẹp trong
kiến trúc ngôi chùa bên đó, kết hợp với kiến trúc phương
Tây.
Ở chánh điện có các bao lam
được chạm trổ công phu, trong đó có bộ phù điêu Bát Tiên
cỡi thú do các nghệ nhân tại địa phương thực hiện vào
khoảng năm 1907 - 1908. Trên bàn thờ có nhiều pho tượng Phật
như A-di-đà, Thích-ca, La-hán và tượng các vị Bồ-tát. Hai
bên bàn thờ là tượng chân dung Hòa thượng Chánh Hậu và
người kế pháp là Hòa thượng Minh Đàn. Các Hòa thượng
Huệ Đăng, Chánh Hậu, Minh Đàn đều thuộc Thiền phái Lâm
Tế.
Bộ tượng cổ nhất ở chùa
Vĩnh Tràng là bộ Tam Tôn (Di-đà, Quan Âm, Thế Chí) bằng đồng.
Tiếc rằng tượng Quan Âm đã bị thất lạc từ lâu. Sau này
Hòa thượng Chánh Hậu phải thuê thợ làm tượng khác bằng
gỗ thế vào cho đủ bộ. Tượng Ngọc Hoàng cũng bằng đồng,
to gần bằng người thật, cùng phong cách với tượng Già
Lam, Đạt-ma ở chùa Bửu Lâm. Khác với thông lệ xưa nay,
Ngọc Hoàng ở đây không có Nam Tào, Bắc Đẩu cầm sổ sinh
tử đứng hầu hai bên. Thay vào chỗ đó là Ông Thiện và
Ông Ác.
Hai bên tường chánh điện là
bàn thờ Thập điện Minh Vương. Đặc biệt ở đây có bộ
Thập bát La-hán là những tác phẩm chạm khắc gỗ độc đáo
mà một số nghệ nhân ở Nam Bộ đã tạc vào năm 1907 theo
sự chỉ đạo của Hòa thượng Chánh Hậu. Bộ tượng này
bằng danh mộc, mỗi tượng cao khoảng 0,80m, bề ngang 0,58m,
được đặt hai bên điện Phật gọi là sáu căn : mắt, tai,
lưỡi, mũi, thân và ý ; ở ba thời : quá khứ, hiện tại
và vị lai. Các tượng La-hán này được tạo hình cân đối,
sinh động, cỡi trên các con thú như trâu, bò, ngựa, lạc
đà, hà mã, tê giác v.v…
Trong khuôn viên chùa Vĩnh Tràng
có nhiều chậu cây cảnh, hòn non bộ được chăm sóc thường
xuyên. Dưới bóng cây, tháp Hòa thượng Chánh Hậu và gia đình
được xây dựng bề thế có tường rào bao bọc.
Nhìn chung, vẻ đẹp của chùa
Vĩnh Tràng tập trung ở nghệ thuật tạo hình. Có ý kiến
cho rằng có thể xem chùa Vĩnh Tràng là một bản tổng kết
lịch sử mỹ thuật của đất Tiền Giang.
Hiện chùa Vĩnh Tràng l2 nơi đặt
văn phòng Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo và trường Cơ
bản Phật học tỉnh Tiền Giang. Chùa đã trở thành điểm
du lịch và hành hương của tỉnh, thu hút du khách và Phật
tử hàng ngày. Tết Tân Dậu (1982) nhà thơ Xuân Thủy đã đến
viếng chùa và viết tặng một bài thơ :
-
Đức Phật giàu tình thương
-
Nên chùa tên Vĩnh Tràng
-
Nhà sư vốn yên nước
-
Lòng như sông Tiền Giang
-
SÓC
TRĂNG
-
Chùa
KH’LEANG [^]
Thị xã Sóc Trăng có khá
nhiều ngôi chùa, trong đó Kh’Leang là ngôi chùa cổ nhất.
Bên cạnh những ngôi chùa Việt mà chúng ta thường thấy,
đây là một công trình kiến trúc khá độc đáo mang đậm
dấu ấn của văn hóa Khmer.
Tọa lạc trên một khuôn
viên rộng 3,5 hecta với nhiều cây cao bóng cả, lúc đầu đây
chỉ là một ngôi chùa làm bằng gỗ lợp la, sau mới sửa
lại bằng gỗ lợp ngói. Từ khi xây dựng (năm 1533) đến
nay, chùa đã được trùng tu nhiều lần, lần trùng tu gần
nhất cách nay cũng đã trên 80 năm. Tính từ vị tổ đầu
tiên là Đại đức Thạch Sóc cho đến Đại đức Tăng Nô
trụ trì hiện nay, chùa Kh’Leang đã trải qua 21 đời truyền
thừa.
Có hai lối đi vào chùa
: cổng chính ở số 71 đường Mậu Thân, cổng phụ ở đường
Nguyễn Chí Thanh. Nền chùa cao hơn mặt đường khoảng 1m có
ba bậc sân, mỗi bậc được bao bọc bởi một tường rào
xây bằng gạch. Có bốn cửa ra vào mở theo theo bốn hướng.
Cữ==ửa ngoài cùng xây rất công phu, gần như cổng chính.
Ở trung tâm nền chùa,
ngôi chánh điện vươn cao lên nền trời, với diện tích gần
200 m2 (chiều rộng (,20m, chiều dài 20,80m). Bộ khung
mái gồm ba cấp, chia thành 9 nếp, làm toàn bằng gỗ. Mái
được đỡ bằng 12 cây cột to, xây theo kiểu corinthien của
Hy Lạp, có chu vi tới 1,10m, phủ sơn đen bóng và có vẽ hình
rồng, hình cá uốn lượn màu vàng lộng lẫy. Trước bàn
thờ có một tấm bao lam cao tới mái, được sơn son thếp
vàng. Ở chính giữa tôn trí pho tượng đức Phật Thích-ca
chiều cao 6,80m, phần tượng cao 2,70m. Tấm bia bằng chữ Khmer
phía sau pho tượng cho biết L "Đại đức Liêu Đuông, đời
truyền thừa thứ 17, đã đứng ra lập tượng Phật vào năm
Phật lịch 2460 với sự cúng dường của gia đình ông Lum
Sum".
Nói đến kiến trúc
đặc biệt của chùa Kh’Leang, cần lưu ý các khái niệm và
hình tượng có liên quan đến văn hóa Khmer sau đây :
- Hô Cheang là tên gọi
hai đầu hồi được các nghệ nhân Khmer chạm trổ rất công
phu với các họa tiết trang trí và theo phép đối xứng.
- Krud hay Garuda là hình
tượng một loại chim thần có mình người ; đầu, chân và
hai cánh của chim, mỏ ngậm một viên hồng ngọc. Loài chim
này là kẻ thù truyền kiếp của rắn. Cho nên, nếu hình tượng
khúc đuôi rắn dài và cong vút được đắp trên đầu các
góc mái chùa, thì hình tượng Krud được án ngữ ở chỗ
tiếp giáp đầu cột với đuôi mái chùa.
- Yeak (Chằn) trong các
chuyện cổ Khmer là nhân vật tượng trưng cho cái Ác, thường
gieo điều dữ cho con người. Hình tượng Yeakcó dáng vẻ của
một người mang bộ mặt dữ tợn, miệng to, răng nanh dài,
mắt lồi, lông mày xếch. Mình Yeak mặc áo giáp, đầu đội
mũ nhọn và tay cầm cái chày dài. Trong nghệ thuật trang trí
chùa Khmer, Yeak đã được đức Phật cải hóa và đặt đứng
hai bên bậc thềm ở phía trước chánh điện nhằm mục đích
bảo vệ ngôi chùa.
- Reach Cha Sei là con vật
mà Tiên nữ và Yeak đứng trên đó khi giao đấu với nhau.
Hình tượng này được chạm trổ trên hai cánh cửa ra vào
chánh điện.
- Teahu là hình tượng
người có bộ mặt hung dữ, hai tay bưng mặt trời hay mặt
trăng chuẩn bị nuốt vào bụng. Hình tượng này cũng được
trang trí tren khung cửa ra vào.
- Sala là dãy nhà sàn
rộng rãi, thông thoáng được xây bên cạnh chánh điện, dùng
làm chỗ cử hành lễ dâng cơm cho sư sãi và nơi hội họp
của các Phật tử trong các ngày lễ hội.
Trong khuôn viên chùa
có sáu tháp để cốt của các sư sãi và Phật tử đã qua
đời. Chùa Kh’Leang đã được Bộ Văn hóa công nhận là
di tích lịch sử - văn hóa ngày 27-4-1990. Đợt trùng tu mới
nhất của chùa được hoàn thành vào cuối năm 1994.
-
AN GIANG
-
Chùa
TÂY AN [^]
Chùa Tây An là một trong
những ngôi chùa cổ nổi tiếng ở Nam bộ, có giá trị về
mặt lịch sử và kiến trúc. Chùa do Tổng đốc tỉnh An Giang
là Doãn Uẩn xây dựng năm 1847, tọa lạc ở ngã ba Núi Sam,
cách thị xã Châu Đốc 5km. Sách Đại Nam nhất thống chí
đã giới thiệu: "Chùa ở định phận thôn Vĩnh Tế, huyện
Tây Xuyên, nguyên Tổng đốc mưu lược tướng Trung Tĩnh Tử
Doãn Uẩn kiến trúc năm Thiệu Trị thứ 7 (1847). Chùa đứng
trên núi, mặt trước trông ra tỉnh thành, phía sau dựa theo
vòm núi, tiếng người lặng vắng , cổ thụ âm u, cũng một
thắng cảnh thiền lâm vậy".
Gần 150 năm qua, chùa
Tây An đã được sữa chữa nhiều lần. Hai lần sửa chữa
lớn nhất là: Năm 1861, Hòa thượng Nhất Thừa trùng tu lại
chánh điện và hậu tổ. Đến năm 1958, Hòa thượng Bửu Thọ
đứng ra vận động dân góp tiền của, công sức xây dựng
ba ngôi lầu cổ, mặt chính của chùa và sữa chữa ngôi chính
điện. Kiến trúc chùa mang phong cách nghệ thuật Ấn Độ
và Hồi giáo kết hợp với kiến trúc cổ dân tộc.
Nơi cổng tam quan có
bức tượng Quan Âm Thị Kính bế con Thị Mầu. Trước thềm
chùa có hai con voi - một con màu đen hai ngà, một con màu trắng
sáu ngà - đứng chầu. Bên trong chánh điện có khoảng 200
pho tượng Phật, Bồ-tát, La-hán, Thần và Tiên… đa số bằng
danh mộc, mang ý nghĩa triết lý Phật giáo và có giá trị
nghệ thuật cao. Sinh động nhất là bộ tượng Tứ Thiên Vương
(Đông Thiên Vương, Tây Thiên Vương, Nam Thiên Vương, Bắc
Thiên Vương) và bộ tượng Bát bộ Kim Cương.
Chùa còn có nhiều câu
đối và hoành phi trạm trổ rất công phu. Tất cả công trình
được tạo tác bởi bàn tay điêu luyện của các nghệ nhân
An Giang, Đồng Tháp vào thế kỷ XIX.
Phía sau chùa có nhiều
tháp mộ, Trong đó đáng chú ý nhất là mộ Phật Thầy Tây
An. Thầy tên là Đoàn Minh Huyên quê ở Tòng Sơn (Sa Đéc),
sinh năm Đinh Mão (1807), mất năm Bính Thìn (1856). Là người
có tinh thần cải cách tôn giáo, Từ năm 1849, Thầy đã đi
truyền đạo nhiều nơi và chữa bệnh cho nhiều người nên
có uy tín lớn trong nhân dân. Sau đó Thầy về tu tại chùa
Tây An. Nhân dân kính trọng tài năng và đức độ của thầy
nên đã tôn xưng là Phật Thầy Tây an.
Hằng năm, chùa Tây An
có các ngày lễ chính: rằm tháng giêng (thượng nguyên), rằm
tháng mười (hạ nguyên) và 12 tháng 8 âm lịch (giỗ thầy
Tây An). Vào các ngày lễ ấy và các tháng lễ hội núi Sam,
Châu Đốc (từ tháng 1 đến hết tháng 4 âm lịch hàng năm),
khách hàng hương các nơi đến chùa chiêm bái rất đông.
-
KIÊN
GIANG
-
Chùa
SẮC TỨ TAM BẢO [^]
Tỉnh Kiên Giang có hai ngôi
chùa nổi tiếng đều tên là Tam Bảo : một chùa ở Rạch
Giá, một chùa ở Hà Tiên. Chùa Tam Bảo ở Rạch Giá vốn
là nơi tu hành của bà Dương Thị Cán tục gọi là bà Hoặng.
Bà là ân nhân đã giúp đỡ Nguyễn Ánh lúc còn bôn ba, nên
sau khi vua Gia Long lên ngôi, chùa này được Vua sắc tứ để
tạ ơn.
Chùa tọa lạc tại số
6 đường Thích Thiện Ân, thị xã Rạch Giá . Từ trên đường
Nguyễn Trung Trực, du khách đã thấy tấm bản đề "Sắc tứ
Tam Bảo Tự". Ngôi chánh điện của chùa kiến trúc theo kiểu
thượng lầu hạ hiên. Ở mặt tiền bên trên hàng hiên là
ngọn bảo tháp ba tầng tượng trưng Cửu phẩm Liên hoa. Chánh
điện có chiều ngang 14,50m, chiều dọc 22m. Năm bao lam ở các
bàn thờ được chạm trổ công phu, thếp vàng rực rỡ. Các
tượng Phật Di-đà, Thích-ca và các vị Bồ-tát được bài
trí trang nghiêm.
Đông lang được dùng
làm phòng khách và phòng làm việc của Hòa thượng trụ trì.
Tây lang và giảng đường của chùa được dùng làm Tuệ Tĩnh
đường, nơi chữa bệnh miễn phí cho đồng bào.
Lịch sử chùa Sắc tứ
Tam Bảo gắn liền với tên tuổi Hòa thượng Thích Trí Thiền,
thế danh là Nguyễn Văn Đồng, sinh năm 1882, tịch năm 1943.
Chính Ngài đã chăm lo việc trùng kiến ngôi chùa như ta thấy
hiện nay vào năm 1917. Hòa thượng Trí Thiền cũng là người
có công sáng lập Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học vào năm
1931. Hội này đặt trụ sở tại chùa Linh Sơn, số 149 đường
Douaumont (nay là Cô Giang), Saigon. Hội xuất bản tạp chí Từ
Bi Âm để truyền bá giáo lý, lập Pháp Bảo phường, thỉnh
Tam Tạng Kinh làm tài liệu nghiên cứu.
Sau đó Hòa thượng Trí
Thiền và sư Thiện Chiếu trở về Rạch Giá lập Phật giáo
Kiêm Tế Hội, chủ trương vừa truyền bá giáo lý nhà Phật,
vừa vận động tín đồ làm công tác xã hội. Sau Nam Kỳ
khởi nghĩa, một số cán bộ mượn chùa Tam Bảo làm nơi chế
tạc đạn, chuẩn bị nổi dậy chống Pháp. Nhưng công việc
bị phát hiện, Hòa thượng Trí Thiền can đảm nhận trách
nhiệm nên bị thực dân Pháp bắt đầy ra Côn Đảo và hi
sinh tại đó năm 1943. Một đệ tử của Ngài là nhà sư trẻ
Thiện Ân, lúc bị địch bắt, đã dũng cảm hi sinh bằng cách
cho tạc đạn nổ để tiêu diệt bọn mật thám. Tấm lòng
ưu dân ái quốc của các vị sư ở chùa Tam Bảo đã được
Hòa thượng Thích Bổn Châu, nhắc tới trong tập thơ Việt
Nam anh kiệt.
Ngày nay, chùa đặt văn
phòng Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Kiên Giang . Chùa đã
được Bộ Văn Hóa ra quyết định công nhận di tích lịch
sử - văn hóa vào ngày 23-3-1988.
-
VŨNG
TÀU
-
THÍCH
CA PHẬT ĐÀI [^]
Du khách đến thăm thành phố biển
Vũng Tàu đừng quên viếng Thích Ca Phật đài, một danh lam
thắng cảnh nổi tiếng nằm ở Tây Bắc sườn núi Lớn. Đây
là công trình do hệ phái Phật giáo Nam tông xây dựng năm
1961 và hoàn thành năm 1963.
Khu vực này rộng khoảng
5 hecta, gồm Thiền Lâm Tự phía dưới và Thích-ca Phật đài
phía trên. Thiền Lâm Tự vốn là một ngôi chùa nhỏ bằng
gạch do một công chức hồi hưu quê quán ở Vũng Tàu xây
dựng từ năm 1957. Đến năm 1961, Giáo hội Phật giáo Nguyên
thủy đã tổ chức trùng tu ngôi chùa bên dưới và xây cất
Thích-ca Phật đài trên núi. Cạnh đó còn xây một nhà tạm
trú dành cho Phật tử từ xa đến hành hương.
Đến Vũng Tàu, từ chợ
Bến Đình rẽ trái đi hơn 1km là tới chân núi Lớn. Tại
đây, sát bên đường đi xuất hiện một cổng tam quan khá
to với 4 cây cột vươn lên vững chắc nhưng thanh thoát. Qua
khỏi tam quan, bước trên từng bậc đá men sườn núi, du khách
sẽ đi dần lên núi theo một con đường khá đẹp : một bên
vách
núi nhẵn nhụi như tường
thành, một bên là vũng sâu soải dài ra phía biển. Gần đến
đỉnh, du khách như bước vào một khu rừng thưa, có tiếng
chim ríu rít trong các tàn cây.
Theo con đường làm bằng
những bậc đá, rải rác trên sườn núi, du khách sẽ chiêm
ngưỡng các pho tượng minh họa sự tích đức Phật : Thích-ca
đản sinh,Thích-ca xuất gia, Thích-ca thành đạo, Thích-ca chuyển
pháp luân, Thích-ca nhập niết bàn, voi và khỉ dâng quả. Bên
cạnh đó là một khu vườn với nhiều chậu cảnh, hoa nở
suốt bốn mùa, bao quanh một ngôi nhà hình bát giác, tượng
trưng vườn Lộc (vườn Nai), nơi đức Phật giảng kinh cho
năm đệ tử đầu tiên của Ngài là chư tôn giả Kiều Trần
NHư, Ác-bệ, Bà-phả, Ma-ha-nam, Bạc-đề. Trên đường lên
núi còn có một cây bồ đề xanh tươi do ngài Trưởng lão
Narada Maha Thera cung thỉnh một nhánh của cây bồ đề từ
Tích Lan trồng tại đây ngày 2-11-1960. Đường lên Thích-ca
Phật đài được nối dài bằng hệ thống bậc thang lớn,
hai bên có 6 con rồng uốn mình. Trên cao, ở phía đuôi rồng
là hai con sư tử lớn, tượng trưng cho Đại Hùng và Đại
Lực. Kế đó là một cái sân rộng lát đá, ở giữa xây
tháp Xá Lợi hình bát giác cao 19m bốn phía đặt bốn đỉnh
lớn. Các đỉnh này chứa dất mang về từ bốn Thánh địa
ở Ấn Độ là vườn Lâm-tỳ-ni, nơi đức Phật đản sinh;
Bồ-đề Đạo tràng, nơi dức Phật thành đạo ; vườn Lộc
Uyển, nơi đức Phật chuyển pháp luân và rừng Sala Song Thọ
tại Kusinara, nơi đức Phật nhập diệt.
Nhìn về bên phải ,
du khách sẽ thấy hiện ra tượng đức Phật Thích-ca ngồi
kiết guià trên một tòa sen. Tượng này cao 10,20m, đường
kính bệ dài 6m, khánh thành ngày 10-3-1963. Tượng Phật Thích-ca
và tháp Xá-lợi đều màu trắng nổi bật trên màu xanh của
nền trời và lá cây.
Từ vị trí của Thích-ca
Phật đài, nhìn chung quanh sườn núi lớn, biển hiện ra ở
cả 3 phía. Từ đây có thể thu vào tầm mắt mũi Cần Giờ,
đảo Long Sơn và tổ hợp giàn khoan dầu khí ngoài khơi xa.
Do địa thế thiên nhiên và cảnh quan hùng vĩ, khu vực Thích-ca
Phật đài đã trở thành điểm du lịch - văn hóa nổi tiếng
có sức thu hút đông đảo du khách đến tham quan Vũng Tàu.