-
Phụ
Lục 7
-
Cốt
Tủy Đại Thủ Ấn
Dưới
đây là lược dịch cuốn The Practice of the Co-Emergent Mahamudra,
một bản văn Phật Giáo Tây Tạng trình bày về bốn pháp
du già của Đại Thủ Ấn — trong này vừa có cả Tiệm Pháp
lẫn Đốn Pháp. Những hướng dẫn nơi đây sẽ giúp ích rất
nhiều cho bất kỳ Phật Tử nào đang tu tập các pháp Minh
Sát Thiền (Vipassana), Thiền Tông (Zen), Đại Thủ Ấn (Mahamudra)
và Đại Toàn Thiện (Dzogchen) — bốn dòng Thiền chính trong
pháp giải thoát của nhà Phật.
Tác
giả bản văn là Padma Karpo Ngawang Norbu; Bản Anh dịch là của
Đại Sư Anzan Hoshin. Cuốn này không ghi rõ niên đại bản
văn và tiểu sử tác giả. Anzan Hoshin hiện là Tu Viện Trưởng
Zen Centre of Ottawa và là giám đốc tinh thần của thiền viện
White Wind Zen Community, nguyên là người gốc Tây Phương, là
một tăng sĩ dòng Tào Động Nhật và là một Thiền Sư, cũng
là tác giả nhiều sách và đã dịch nhiều kinh điển Thiền
Tông, cũng như dịch nhiều kinh và luận từ các nguyên bản
tiếng Pali và Sanskrit.
Trong
lời nói đầu, Đại Sư Anzan Hoshi giải thích như sau:
"Sau
khi tôi được truyền thừa từ Thiền Sư của tôi, Ngài Yasuda
Joshu Dainen, với tư cách người nắm giữ giềng mối dòng
Tào Động của Ngài, tôi đã tốn nhiều năm nghiên cứu về
nền văn hóa của tư tưởng Tây Phương và nhiều tông phái
tại Á Châu của Phật Pháp nhằm để có một cơ hội nhận
ra và rời bỏ những giả thiết ẩn tàng mà tôi có thể mang
theo trong mình — điều có thể ngăn trở việc giảng dạy
của tôi. Trong thời kỳ này, tôi có cơ hội nghiên cứu đối
chiếu với nhiều người tu Thiền và các vị Thầy. Bản dịch
này được thực hiện trong nhiều năm với hướng dẫn của
nhiều vị Thầy Tây Tạng và cũng thuộc các dòng Nyingma (Cổ
Mật) và Gelugpa (Hoàng Mạo Phái) trong khi tôi tu học Đại
Thủ Ấn, Đại Toàn Thiện, và lo.rig của Tibetan Abhidharma (A
Tỳ Đạt Ma bản Tạng ngữ). Trong thời kỳ này, tôi cũng
được đặt pháp danh là Sherap Rangdrol Yeshe Dorje..."
Mahamudra
có nghĩa là Dấu Ấn Lớn và là pháp môn đưa tới chứng
ngộ rằng tất cả những phương diện của kinh nghiệm đã
được đóng dấu ấn bởi niết bàn (tức đại an lạc) hay
là tánh không. Nó còn được gọi là Đại Biểu Tượng, có
nghĩa là tất cả các trạng thái và hình thức và thế giới
đều là biểu tượng được hiển lộ của tánh không và
niết bàn. Đại Thủ Ấn là pháp môn nhìn thẳng vào tánh
của tâm.
Zasep
Tulku Rinpoche đã nói rằng "Đại Thủ Ấn không có gì đặc
biệt. Nó chỉ là nhìn tâm. Nó không thực sự là một thứ
gì của Ấn Độ hay Tây Tạng. Nó không phải là văn hóa hay
tôn giáo. Chỉ là nhìn tâm thôi."
Bản
lược dịch Việt ngữ do Nguyên Giác thực hiện, trong một
hình thức gọn gàng, dễ hiểu, có thể dùng như một cẩm
nang, và cũng kèm theo một số diễn giải trong trường hợp
cần thiết. Và được viết trong giả thiết rằng người
đọc có một số kiến thức căn bản về Phật học, và đã
từng trải qua một số năm tu tập các pháp môn khác nhau.
HƯỚNG
DẪN NHẬP MÔN
Các
lời dạy nhập môn thì có cả tổng quát và cụ thể. Những
lời dạy tổng quát có sẵn trong giáo lý căn bản, thí dụ
như Tứ Diệu Đế. Những lời dạy cụ thể, trước tiên
là quy y Tam Bảo, sau đó khởi bồ đề tâm và phát nguyện
giải thoát tất cả chúng sinh, và cuối cùng là quy phục đạo
sư bởi vì Thầy là điểm khởi đầu và là điểm cuối của
con đường tu tập.
Ngồi
trong tư thế hoa sen, đặt hai bàn tay giao nhau dưới rốn. Thẳng
xương sống, để thư giãn ngực, bụng và vai. Mở mắt nhìn,
không chớp, không nghiêng ngả. Đừng nghĩ về quá khứ. Đừng
nghĩ về tương lai. Đừng nghĩ rằng bạn đang tập Thiền.
Cũng đừng nghĩ rằng bạn đang nhìn vào "tánh không." Đừng
phân tích bất kỳ cảm xúc hoặc cảm giác nào khởi lên,
mà chỉ nhận biết nó thôi. Giữ thân thể như một em bé
sơ sinh đang ngủ, để tâm an nghỉ trong trạng thái tự nhiên
của nó.
Đạo
Sư Tilopa đã nói:
"Đừng
tưởng tượng, đừng suy nghĩ, đừng phân tích,
đừng
thiền định, đừng hồi nhớ;
hãy
để tâm trong chỗ tự nhiên của nó."
Đó
là trạng thái tỉnh thức mà tâm không loạn.
CỐT
TỦY
Lời
dạy cốt tủy có hai phần: các thực tập thông thường và
các thực tập phi thường.
Thực
tập thông thường có hai phần:
1)
Kinh nghiệm trạng thái tự nhiên, nơi là gốc rễ của thiền
định xuyên qua pháp môn định nhất tâm;
2)
Quán sát thực tánh của "động" và "tịnh" xuyên qua cách tập
"đừng thêu dệt nghĩ tưởng gì", và từ đây sẽ chứng ngộ
được tâm giải thoát ra khỏi vòng tròn của các kinh nghiệm
đã bị điều kiện hóa.
DU
GIÀ ĐỊNH NHẤT TÂM
Đi
Tìm Kinh Nghiệm Của Trạng Thái Tự Nhiên — Trạng Thái Này
Là Cội Rễ Của Thiền Định Xuyên Qua Du Già Của Định Nhất
Tâm.
Pháp
này có hai phần: thực tập có phương tiện, và thực tập
không phương tiện. Phương tiện có thể là phép thở hoặc
là một đối tượng ngoài phép thở.
Phương
tiện ngoài phép thở có hai loại: loại đối tượng thông
thường, thí dụ như quả banh nhỏ hay một mẩu gỗ nhỏ;
loại đối tượng thiêng liêng như là thân, khẩu, ý của
Phật.
Cách
dùng đối tượng thông thường như sau: Đặt một quả banh
hay một cây gậy trước mặt. Đừng để tâm lang thang và
cũng đừng tìm cách nhận diện đối tượng, chỉ đơn giản
nhìn vào đối tượng.
Quán
tưởng bổn sư như đang ngồi trên vương miện trên đầu
mình. Hãy nhìn bổn sư như một vị Phật chân thật. Cầu
nguyện bổn sư với lời nguyện, "Xin gia trì thần lực để
con thành tựu Đại Thủ Ấn." Rồi quán tưởng ân sủng này
ngấm vào mình và nghĩ rằng tâm của mình hòa lẫn bất dị
với Tâm Nguyên Sơ. Giữ tâm trong trạng thái này càng lâu
càng tốt.
Nếu
tâm hôn trầm, nâng cao cái nhìn lên, hoặc là ngồi Thiền
trong một nơi có cảnh nhìn ra cảnh miền quê. Nếu tâm loạn
động, hãy ngồi trong nhà, hạ thấp cái nhìn xuống và giữ
tâm bình tịnh với mục tiêu trước mắt.
Phương
tiện thứ nhì ngoài phép thở là quán thân, khẩu, ý Phật.
Quán thân Phật: dựa vào tượng; quán khẩu Phật: dựa vào
âm đọc chữ HUM; quán ý Phật: giữ tâm tỉnh thức mà không
thêu dệt nghĩ tưởng gì.
Nếu
quán thân Phật, có thể dùng tới tranh hoặc tượng, hoặc
chỉ đơn giản quán tưởng Phật sắc vàng trong trang phục
nhà sư xuất hiện liên tục trước mắt.
Nếu
quán khẩu Phật, chỉ đơn giản quán tưởng trước mắt một
mặt trăng nhỏ bằng đầu móng tay cái và trên đó là chữ
HUM với nét chữ mỏng như sợi tóc.
Nếu
quán tâm Phật, hãy quán tưởng một hạt giống hình như quả
trứng kích thước như hạt đậu, chiếu sáng, và cứ chú
tâm vào đây — ý thức mà không nghĩ tưởng gì.
Trường
hợp muốn dùng phép thở, có hai cách.
Cách
thứ nhất là đếm hơi thở: Giữ cho thân và tâm bình lặng,
tập trung vào từng hơi thở vào và từng hơi thở ra, ngoài
ra không nghĩ tới gì khác. Đếm từ "một" và "hai" cho tới
21.600 chu kỳ. Pháp này sẽ cho học nhân ý thức rõ về con
số thở vào và thở ra mỗi ngày. Kế tiếp, ghi nhận khi hơi
thở bắt đầu và cách nó vào và ra.
Kế
tiếp, quan sát hơi thở từ đầu lỗ mũi cho tới đáy phổi,
cách nó vào và xem giữ nó được bao lâu.
Rồi
quán tưởng mỗi hơi thở vào là một chữ OM màu trắng, khoảng
cách ngưng giữa thở vào và ra là chữ AH màu đỏ, và mỗi
hơi thở ra là chữ HUM màu xanh, rồi sẽ tự biết thời gian
cần cho mỗi phần chu kỳ.
(chữ
OM AH HUM)
Rồi
tới phép thở toàn thân. Hãy đẩy hết không khí chết từ
trong thân ra chỉ trong ba lần thở ra. Nhẹ nhàng hít không
khí từ ngoài vào bằng lỗ mũi. Để không khí đầy trong
thân và giữ càng lâu càng tốt.
Đó
là những cách điều tâm.
PHƯƠNG
PHÁP ĐIỀU TÂM KHÔNG DÙNG PHƯƠNG TIỆN.
Có
ba phần:
1)
Tức khắc cắt mọi khởi tâm.
2)
Cứ để cho tâm mặc tình khởi.
3)
Và phần chủ yếu là để cho tâm an nghỉ nơi riêng của nó.
Cắt
mọi khởi tâm được thực tập như sau: Nếu thấy tâm lang
thang khi nhìn vật, hãy biết ngay giây phút đó để không cho
niệm khác khởi lên. Cứ tập như vậy, cắt tất cả mọi
niệm ngay khi chúng vừa khởi lên. Tức là nhìn niệm trong
tâm ngay khi vừa khởi lên. (Có thể gọi là, nhìn vào nơi
niệm trước đã diệt, niệm sau chưa sinh.)
Các
vọng niệm vẫn sẽ liên tục tăng cho tới khi chúng như là
một dòng suối liên tục. Điều này gọi là "nhận diện các
niệm lang thang," còn gọi là "biết kẻ thù" và được gọi
là giai đoạn đầu điều tâm, mà y hệt như một điểm từ
đó học nhân nhìn một "thác nước đổ xuống các tảng đá
nhọn."
Một
khi tâm an trú cho dù một khoảnh khắc, học nhân sẽ hiểu
việc khởi lên và biến mất của các niệm lang thang. Hiểu
biết này tạo cảm giác như là các niệm lang thang đang tăng
nhiều thêm, nhưng thực sự không như vậy. Những niệm lang
thang thực sự khởi lên vô tận, và không hề có chuyện tăng
thêm hay giảm bớt.
Kế
tiếp, cứ để mặc cho mọi niệm khởi lên, cứ cho nó khởi
tự nhiên, đừng chạy theo nó và cũng đừng tìm cách ngăn
chận nó. Cứ để tâm vào việc nhìn như vậy. Rồi các niệm
khởi sẽ ngưng sinh khởi và "định nhất tâm" sẽ hiện ra.
Các niệm sẽ chỉ còn đột nhiên hiện ra và biến dạng như
các vì sao rơi trên bầu trời.
Cứ
tập như vậy, học nhân sẽ có thể an trú lâu hơn. Đó gọi
là "giai đoạn giữa của điều tâm," tương tự như "một
dòng sông chảy bình lặng." Tập thoải mái trong cách này sẽ
dẫn tới trạng thái "lóng cặn."
Tổ
Sư Saraha nói gọn về cách tập hai phần trên như sau:
"Khi
buộc, tâm sẽ chạy ra mọi hướng;
cứ
để tâm tự do và nó sẽ an trú bình lặng."
Đó
chính là cốt tủy.
Giai
đoạn thứ ba để tâm an trú nơi tự nhiên gồm có hai phần:
Trước
tiên, để tâm an trú cẩn trọng như xe chỉ, đừng chặt và
đừng lỏng. Để chặt quá sẽ bị khởi niệm, và lỏng quá
thì hôn trầm. Hãy cân bằng. Người mới học trước tiên
nên tập cắt ngay khi tâm vừa khởi niệm, và rồi khi căng
quá nên thả lỏng tâm mặc cho nó khởi lên mà không thêu
dệt nghĩ tưởng gì.
Thứ
nhì, hãy để tâm ra ngoài vọng niệm y hệt như cắt sợi
dây quanh một bó rơm. Nếu nghĩ rằng "Tôi phải rời bỏ vọng
niệm," thì đây cũng chính là vọng niệm. Và cũng đừng "tỉnh
thức chạy theo diệt niệm," cách này hoàn toàn hỏng. Hãy
trừ bỏ loại tỉnh thức này, và hãy để tâm tự nhiên trong
dòng chảy của nó. Cách này gọi là "để tâm tự do xa lìa
mọi hoạt động y hệt như cắt dây quanh một bó rơm."
Thứ
ba, hãy để tâm như một đứa trẻ nhỏ đang nhìn. Bằng cách
cột con voi tâm vào cây cột tỉnh thức, những trận gió sẽ
được giữ đúng chỗ đi. Từ đây, học nhân có thể khởi
lên các kinh nghiệm về ảo giác của tánh không như là khói
hay các hình dạng dị thường, một hạnh phúc làm cho học
nhân có thể gần như kiệt sức, trôi nổi trong không gian
và tan ra với thân và tâm trong vô-niệm và vân vân. Đừng
cho những trạng thái này là tốt hay xấu, và như vậy đừng
cư ngụ trong đó, và cũng đừng cho đó là có ý nghĩa gì.
Đừng ngăn cản mà cũng đừng nắm giữ các hiện tướng,
như vậy gọi là "an trú như một trẻ nhỏ nhìn trong một
ngôi đền linh thánh."
Thứ
tư, hãy an trú như một con voi bị các mũi giáo chĩa quanh.
Khi niệm khởi lên trong khi an trú, và sự tỉnh thức nhận
biết chúng đồng thời khởi lên, thì cả hai cùng nhìn tận
mặt nhau, và niệm sẽ không lang thang dẫn theo niệm khác.
Khi trạng thái này xảy ra tự nhiên, mà không cần nỗ lực,
thì đó là "tỉnh thức tự nhiên." An trú mà không cần ngăn
chận bất kỳ thứ gì khi cảm thấy có niệm khởi, được
ví như là "một con voi (niệm ưa chạy như voi) bị mũi giáo
chĩa quanh." Đó là trạng thái cuối cùng của an trú, và so
sánh như là "một đại dương không gợn sóng."
Bởi
vì tâm tự an trú trong khi niệm khởi, nên gọi là "bỏ đi
sự ngăn cách giữa tĩnh và động."
Đó
là trạng thái tự nhận thức của định nhất tâm.
Trạng
thái nhận diện động (niệm) và tĩnh (tâm) của lúc này gọi
là "sự thông minh tự nhận biết," hay là "trí tuệ kiến chiếu."
PHÉP
DU GIÀ CỦA SỰ ĐƠN GIẢN
Phần
thứ nhì của các pháp thông thường gồm có việc khảo sát
thực tánh của "động" và tĩnh." Đây gọi là pháp du già
của sự đơn giản, sẽ dẫn tới chứng ngộ được bản
tâm xa lìa vòng nghiệp của kinh nghiệm đã bị điều kiện
hóa. Pháp này có ba phần:
1)
khảo sát về "động" và "tĩnh"
2)
chứng ngộ bản tâm xa lìa mọi huyễn hóa
3)
tập pháp du già đơn giản.
Trong
phần đầu tiên của việc khảo sát giữa "động" và "tĩnh,"
học nhân phải khảo sát như sau. Với trí tuệ kiến chiếu
xuyên qua cách an trú trong vô niệm, hãy nhìn vào:
Cái
gì là thực tánh của "tĩnh."
Cách
nó vẫn duy trì là "tĩnh."
Cách
nó "động" từ trạng thái "tĩnh" này.
Khi
"động," nó có vẫn giữ phẩm chất nào của cái "tĩnh" này?
Có
bất kỳ "chuyển động" nào không, khi học nhân ở trong trạng
thái "tĩnh"?
Cái
"động" có khác gì cái "tĩnh"?
Làm
cách nào "động" trở thành "tĩnh"?
Như
vậy, học nhân sẽ biết rằng "động" không khác gì "tĩnh"
và "tĩnh" không khác gì với "động."
Nếu
thực tánh của "động" và "tĩnh" chưa được trí tuệ kiến
chiếu khám phá qua cách khảo sát trên, thì học nhân nên nhìn
vào: Cái trí tuệ kiến chiếu đang quán sát có khác gì hay
không với cái "động" và "tĩnh" hoặc là nhìn xem nó có phải
là bản chất thực hay không của cái "động" và "tĩnh."
Cứ
khảo sát như vậy, sẽ không thấy có vật gì được tìm
ra cả, bởi vì chính người quan sát và vật được quan sát
chính là bất nhị. (Người biết và vật được biết, cả
hai cùng khởi lên từ sự nhận biết.)
Thực
tánh của tính bất dị này vượt ra ngoài mọi hiểu biết,
và như vậy, trạng thái này gọi là "cái thấy vượt ra ngoài
tâm" và cũng gọi là "cái thấy xa lìa mọi khái niệm."
Gyalwa
Wangpo nói:
"Những
mục
tiêu do tâm tạo ra, bất kể cao quý ra sao, đều là ảo vọng.
Cái
như thị vượt ngoài khái niệm thì không phải là một 'mục
tiêú
bởi
vì rằng người thấy thì không tách rời ra khỏi vật bị
thấy.
Đó
là lời dạy mà các đạo sư trao lại cho các đệ tử."
Kinh
Kashyapa-paripriccha Sutra nói với ẩn dụ về lửa và củi:
"Cọ
sát hai que củi vào nhau sẽ sinh ra lửa;
nhờ
vậy cả hai đều cháy hết.
Cũng
cùng cách đó, trí tuệ kiến chiếu sinh khởi
từ
sự hợp nhất giữa 'động' và 'tĩnh'
và
cả hai đều biến dạng trong sự sinh khởi của nó."
Thứ
nhì, cách tập để chứng ngộ bản tâm xa lìa vòng tròn kinh
nghiệm điều kiện hóa như sau: Đừng tránh né mà cũng đừng
vượt thắng bất cứ niệm nào sinh khởi, đừng ngăn cản
cũng đừng nắm giữ. Cứ mặc cho chúng khởi lên, mà đừng
vận dụng gì. Hãy nhận diện ra chúng ngay nơi chúng sinh khởi
và cứ tiếp tục như vậy, và rồi tánh thật của chúng sẽ
hiện ra xuyên qua pháp môn không tránh né các niệm. Với pháp
này, tất cả những gì trông có vẻ như là trở ngại đều
có thể dùng như pháp trợ đạo. Do vậy, phương pháp này
được gọi là "dùng các chướng ngại như là các pháp trợ
đạo." Với cách để tâm tự do mà chỉ cần nhận diện các
niệm, học nhân sẽ hiểu về bản tánh bất dị giữa "người
tránh né" và "các niệm được tránh né."
Đó
gọi là "cốt tủy của việc thực tập thắng pháp."
Khi
hiểu được thực sự chúng ta trước giờ vẫn luôn luôn
an trú trong (tâm) giải thoát, thì sẽ khởi lên lòng từ bi
đối với các chúng sinh chưa thấy được thật tánh của
tâm họ. Mặc dù học nhân luôn luôn nguyện hiến thân, khẩu
và ý cho lợi ích của tất cả chúng sinh, xuyên qua việc khảo
sát bản tánh của các pháp, cái nhìn của học nhân có thể
bị ô nhiễm bởi chính mình hay người khác. Điều này như
là có năng lực để thay đổi và uống độc dược.
Cách
tập này được mô tả là "Bất cứ gì khởi lên trên con
đường, xin cho con đừng tránh né mà cũng đừng nắm giữ."
Thứ
ba là pháp du già của sự đơn giản. Pháp này có ba phần:
1)
khảo sát về ba thời
2)
khảo sát vật và không-vật
3)
khảo sát một hay là nhiều.
Thứ
nhất, khảo sát về ba thời cho thấy rằng niệm quá khứ
đã diệt, niệm tương lai chưa khởi và như vậy thì không
hiện hữu, niệm hiện tại không có thể giữ được. Quán
sát như vậy, sẽ nhận thức rằng mọi pháp đều có cùng
bản chất như ba thời. Tất cả mọi pháp chỉ được nhận
biết trong sự nhận biết.
Việc
chứng ngộ rằng sinh, trụ và hoại không tự hữu đã được
diễn tả bởi Tổ Sư Saraha như sau:
"Việc
sinh khởi các tướng thì như hư không;
loại
các tướng ra,
thì
cái gì có thể sinh khởi?
Tánh
tự nhiên
thì
vô sinh và không khởi đầu."
Khảo
sát sẽ thấy được như vậy.
Pháp
thứ nhì là khảo sát về vật và không-vật, như sau:
Tánh
của tâm có phải là một vật?
Hay
là nếu nó không-vật, thì nó có hiện hữu?
Nếu
nó là vật, thì nó có hình tướng gì?
Tánh
có hình dạng gì và màu gì?
Nếu
nó chỉ là sự thông minh, nó có vô thường như niệm?
Nếu
nó không là vật gì hết, làm sao nó có thể làm được chuyện
gì?
Ai
tạo ra nó?
Nếu
tâm là vật chất, xuyên qua khảo sát học nhân sẽ có thể
thấy một vài tính chất, nhưng trí huệ kiến chiếu thấy
rằng nó là cái mà không có thể được mệnh danh hay xếp
loại như một vật. Qua khảo sát này, nó không có thể được
xếp loại như là không-vật hay là không-hiện-hữu. Bởi vì
nó không-vật mà cũng không phải không-vật, nên nó không
rơi vào cực đoan nào (chữ nhà Thiền thường gọi: không
rơi vào hai đầu). Đó gọi là Trung Đạo.
Kết
luận này không đến từ tranh luận hay luận lý, nhưng chỉ
là từ lời dạy của bổn sư — và lời này được cho thấy
như là viên kim cương vô giá trong lòng bàn tay. Do vậy, các
lời dạy này cũng được gọi là "Đại Toàn Thiện."
Cách
thứ ba là khảo sát một và nhiều, như sau:
Tánh
Biết là một?
Hay
nó là nhiều?
Nếu
nó là một, thì làm sao nó lại là Biết trong nhiều cách?
Nếu
nó là nhiều, làm sao nó có thể như vậy bởi vì chúng đều
là Sự Biết?
Nhìn
vào như vậy, học nhân thấy rằng tâm không phải là một
mà cũng không phải là nhiều. Bởi vì nó xa lìa mọi cực
đoan, nó là Đại Thủ Ấn không an trụ nơi nào. Vào đại
định này, học nhân chứng ngộ được cái thông minh nguyên
sơ. Không có gì khác khởi lên nữa. Do vậy, Đại Thủ Ấn
là "cái hoàn toàn không đặc tính nào hết."
Qua
cách tập như vậy, tất cả mọi niềm tin đều được sáng
tỏ, và vạn pháp như dường một giấc mơ hay là các trò
huyễn thuật của một nhà huyễn sư.
Do
vậy, văn kinh viết:
"Trước,
sau và ở cả mười phương hướng,
bất
cứ nơi đâu con nhìn, con thấy chỉ có nó.
Hôm
nay, tất cả ảo hóa đã chấm dứt
và
con không cần hỏi bất kỳ ai gì nữa."
Kế
tiếp, pháp tập phi thường có hai phần:
1)
pháp du già nhất-vị giữa người biết và vật được nhận
biết
2)
pháp du già không-thiền-định, nơi đây sẽ hiển lộ cái
liên hệ nguyên sơ với toàn bộ tất cả mọi chuyện xảy
ra và toàn bộ các ý nghĩa, xuyên qua cái phi ô nhiễm đồng
hiện của Tánh Biết.
DU
GIÀ NHẤT VỊ
Pháp
du già nhất vị như sau: Dùng thí dụ của giấc ngủ và chiêm
bao, chứng ngộ rằng vạn pháp chỉ là tánh biết. Dùng thí
dụ của nước và băng, chứng ngộ rằng người biết và
vật được biết chỉ là nhất vị. Dùng thí dụ của nước
và sóng, mang tất cả các pháp về nơi tự nhiên của chúng.
Thứ
nhất, chứng ngộ vạn pháp chỉ là tánh biết xuyên qua thí
dụ về ngủ và mộng như sau: Bất cứ những gì trải qua
trong giấc ngủ thì không tách rời khỏi tâm. Cùng một cách
như vậy, những kinh nghiệm trải qua trong khi thức chỉ là
những giấc mơ của giấc-ngủ-vô-minh. Cứ để tâm an nghỉ
tự nhiên trong khi các ý tưởng, tất cả những kinh nghiệm
"bên ngoài" và tâm của học nhân khởi lên, và hãy nhận thức
chúng không tách rời nhau, chuyển hóa chúng vào một vị (như
vị mặn của biển, bất kể bọt sóng dị biệt thế nào).
Pháp
thứ nhì, để thấy người biết và vật được biết chỉ
là một, y hệt như nước với băng, thì như sau: Bởi vì bất
cứ những gì khởi lên đều không có tự tánh, cho nên chúng
đều là Không. Từng pháp một khởi lên cùng với tất cả
các pháp khác. Do vậy, người nhận biết và vật bị nhận
biết chỉ là một vị, y hệt như nước và băng. Cho dù học
nhân nói là Niết Bàn (hạnh phúc) và Không, Tánh Sáng Hào
Quang và Không, Trí Huệ và Không, cả ba cặp này đều là
một.
Nên
kinh nói:
"Nếu
học nhân hiểu đầy đủ, vạn pháp là như thế;
học
nhân không thể tìm thấy gì khác chỉ trừ như thế đó.
Nghe
(văn), suy nghiệm (tư) và thiền định (tu),
chỉ
có như thế thôi."
Thứ
ba, mang vạn pháp về trạng thái tự nhiên với thí dụ nước
và sóng, như sau: Y hệt như sóng khởi lên từ nước, tất
cả kinh nghiệm khởi lên từ Tánh Biết. Và Tánh Biết này
thì có bản tánh là không để một dấu vết để thăm dò.
Tổ
Sư Sahara nói:
"Như
tất cả được sinh khởi từ Tánh Biết,
Tánh
Biết tự nó chính là đạo sư."
Lời
dạy này được gọi là "một sự thật trải khắp các cõi
của pháp giới" và là "một trải ra trong tất cả." Học nhân
sẽ chứng ngộ đặc tính vô tự tánh của tất cả các trạng
thái.
PHÁP
DU GIÀ PHI THIỀN ĐỊNH
Kế
tiếp là pháp du già không-thiền-định, sẽ hiển lộ Pháp
Thân xuyên qua tính vô nhiễm đồng hiện của Tánh Biết. Khi
vô minh đã được tháo tung ra, bất kỳ nỗ lực nào để
vượt thắng nó đều ngừng lại, và con đường chấm dứt,
chuyến đi đã hoàn tất. Đây là giai đoạn "vượt quá mọi
học hỏi" (vô học, hay là cảnh giới Phật) — Đó là quả
tối thượng của Đại Thủ Ấn, vượt qua tất cả mọi đau
khổ và vọng tưởng để vào cảnh giới vô-trụ.
Tổ
Sư Tilopa trong bài Chuyển Hóa đã viết:
"Đây
là trí tuệ của Tánh Biết trong tự thể,
nó
vượt ra ngoài lời nói và vượt mọi dính mắc của tâm.
Tilopa
không có gì khác để dạy.
"Hãy
biết rằng tất cả mọi hành động đều là hiển lộ của
Tánh Biết.
Không
tưởng tượng, không nghĩ ngợi tư lường,
không
phân tích, không thiền định,
không
quán sát, chỉ cứ giữ tâm
trong
nơi tự nhiên của nó."
PHẦN
KẾT
Thứ
ba, là phần kết. Phần này gồm có:
1)
chứng ngộ Đại Thủ Ấn và diện đối diện với nó,
2)
hiểu biết về các chướng ngại và những cơ nguy chệch hướng,
3)
hiểu những dị biệt giữa kinh nghiệm, kiến thức thực dụng,
và lý thuyết.
Thứ
nhất, chứng ngộ Đại Thủ Ấn và diện đối diện với
nó, như sau: thiết lập căn bản, thực nghiệm tu tập, phân
biệt các kinh nghiệm khác nhau và phẩm chất của các mức
độ chứng ngộ và các giai đoạn trên đường tu, chứng nghiệm
được những thành quả bốn pháp du già nói trên.
Thứ
nhì, hiểu biết các chướng ngại và chệch hướng, như sau:
Các chướng ngại của hiện tướng được làm sáng tỏ bằng
cách nhận biết tính bất dị giữa hiện tướng và tánh biết.
Các chướng ngại của tri kiến sẽ được phá vỡ bởi cách
nhận biết tính bất dị giữa các niệm và Pháp Thân. Những
chướng ngại khởi lên do việc nắm giữ trong tâm sẽ được
phá vỡ bằng cách nhận biết tính bất dị giữa người nhận
biết và vật được nhận biết.
Bốn
trạng thái sau là các chệch hướng phải cảnh giác:
1)
Rơi vào cái Không trống rỗng; cần điều chỉnh bằng cách
tập nhìn Tánh Không như là Từ Bi.
2)
Tự mãn cho là đã thành tựu đầy đủ; cần điều chỉnh
bằng cách chứng ngộ Thực Tánh của các pháp như nó là nó.
3)
Ưa dùng các pháp đối trị; cần điều chỉnh bằng cách chứng
ngộ rằng các pháp đối trị thì không hề tách ly khỏi các
chướng ngại.
4)
Rơi vào tâm tìm cầu đạo pháp; cần điều chỉnh bằng cách
chứng ngộ tính đồng hiện của các quả chứng nghiệm của
Đại Thủ Ấn.
Thứ
ba, nhận biết những dị biệt giữa kinh nghiệm, kiến thức
thực dụng và lý thuyết, như sau: hiểu được thực tánh
của tâm nhờ nghe pháp và tư lường chỉ mới là lý thuyết.
Hiểu được tánh nhất vị là bắt đầu có kinh nghiệm (tu
tập). Trau luyện vững vàng xuyên qua pháp không thêu dệt nghĩ
tưởng mới là bảo đảm chắc thật. Hiểu biết hoàn toàn
chỉ đến từ chứng ngộ hoàn toàn.
