Phụ
Lục II
KRISHNAMURTI
VÀ
THIỀN
ĐỊNH
Krishnamurti
là một nhân vật mang nhiều tính tiền định. Trọn đời
ông như một vở kịch được sắp saün để mà chơi. Năm
1909, khi ông mười bốn tuổi, bà Annie Besant, chủ tịch Hội
Thông Thiên Học, một vận động tổng hợp Triết học Tây
phương với giáo lý nhà Phật và Ấn Độ giáo, tuyên bố
Krishnamurti là hóa thân của Maitreya (Đức Từ-thị hay Phật
Di Lặc). Bà thành lập hội Ngôi Sao để chuẩn bị cho ông
- vị giáo chủ tương lai của thế giới đó - khi lớn lên
sẽ giảng dạy một giáo lý mới cho thời đại mới.
Năm
1929, Krishnamurti tuyên bố giải tán hội Ngôi Sao. Bấy giờ
ông tuyên bố "Truth is a pathless land," Chân lý là mảnh đất
không lối ngõ gì cả. Điều này có thể gợi nhớ tới ngôn
ngữ Thiền, con đường không đường, cửa không cửa (vô
môn quan). Từ đây, ông đi nhiều nơi trên thế giới để
nói về giảng dạy mới này. Ông nói chuyện về gần như
là tất cả mọi vấn đề của con người. Phương pháp thường
dùng nhất là đối thoại, ông thường đưa ra những câu hỏi,
chất vấn, khảo sát về Tâm (Thoughts and feelings) chỉ thẳng
cái tánh không thực của nó, sự lập đi lập lại giả tạo
của nó. Có thể nhớ tới kinh Phật nói: "Tâm như diễn viên,
ý như thằng hề." Ngôn phong của ông mang nhiều tính phủ
định (negation), cũng triệt để như ngôn phong của hệ thống
Bát Nhã.
Đức
Phật Sống Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, người được dân
tộc Tây Tạng tin tưởng là hóa thân của Đức Quan Âm, đã
so sánh Krishnamurti với Nagarjuna (Tổ Long Thọ, người hình
thành 5 hệ thống giáo lý nhà Phật, trong đó có giáo lý Tánh
Không của Bát Nhã). Năm 1956, Đức Đạt Lai Lạt Ma và Krishnamurti
gặp nhau tại Madras, Ấn Độ. Không có sách nào tường thuật
buổi gặp nhau này một cách chi tiết. Hai hóa thân Phật này,
một Di Lặc và một Quan Âm, đã nói gì với nhau không ai biết,
có đấu phép để phân biệt bạn thù không cũng chẳng ai
hay. Trang 202-203 của sách Krishnamurti A Biography của bà Pupul
Jayakar chỉ ghi vài dòng, trong đó có một chữ "coexperience"
của Đức Đạt Lai Lạt Ma phê bình về cuộc nói chuyện đó.
Nói theo Thiền là đã ấn chứng cùng vào nhà Tổ, đi chung
lối chim bay, thở chung một lỗ mũi với Phật.
Bài
này trích dịch từ trong Krishnamurtís Notebook, sách ông viết
lúc gần cuối đời, năm 1961, gồm một số đoạn nói lên
quan điểm của ông về Thiền định. Nếu so sánh quan điểm
này về Thiền của Krishnamurti với pháp Thiền Tào Động,
Lâm Tế Tây Tạng, ta thấy rất nhiều điều giống nhau. Nói
rõ hơn là, khác chỉ là ở thủ đoạn khai ngộ, Pháp bảo
nhậm hoàn toàn như nhau. Nhưng than ôi, còn thấy có một pháp
vẫn còn là chưa được.
TRÍCH
VĂN
Trang
51:
Thiền
định là sự vắng mặt của tất cả những gì gọi là ý
thức, không phải để tiếp nhận, nhưng để làm vắng mặt,
để quét sạch, để trống không tất cả những gì gọi là
nỗ lực. Ở đó sẽ là chỗ cho sự vắng lặng, không phải
là chỗ được tạo nên bởi tư tưởng và các sinh hoạt trí
thức, mà là chỗ (cảnh giới) đó đến qua sự phủ định
và phá hoại, khi không còn chút gì của tư tưởng (niệm)
và các dự phóng của nó. Chỉ ở Tánh Không mới có Sáng
Tạo.
Trang
81:
Thiền
định không với một công thức nào hết, không với một
động cơ và lý luận nào hết, không một nơi để đến và
mục đích nào hết, là một hiện tượng khó tin. Loại Thiền
định này không chỉ là một bùng nổ vĩ đại làm trong sạch
tất cả nhưng cũng còn là sự chết (1). Ở đây không còn
cái gì gọi là ngày mai nữa (Thời gian chấm dứt).
Trang
82:
Không
có cái ngày mai trong Thiền định, (vì) không có lý luận gì
được với cái chết. Cái chết của hôm qua và ngày mai không
để lại chút khoảnh khắc gì trong hiện tại, và thời gian
luôn là khoảnh khắc, nhưng sự hủy diệt (thời gian) này
là cái hoàn toàn mới. Thiền định là như vậy, không phải
là những con toán ngốc nghếch của bộ óc đi tìm sự an toàn.
Thiền định là sự hủy diệt cái an toàn, và có cái đẹp
tuyệt diệu trong Thiền định, không phải là cái đẹp của
những gì được tạo dựng nên bởi con người hay Thiên nhiên,
nhưng là cái đẹp của cái vắng lặng. Cái vắng lặng này
là cái KHÔNG, trong đó và từ đó tất cả (vạn pháp) lưu
xuất và hiện hữu (2).
Trang
142:
Thiền
định là cửa ngõ đi vào cái không vô tận (3). (Meditation
was an opening into immeasurable emptiness).
Trang
143:
Thiền
định sinh khởi ra cái Đó (4), nó thuộc về sự trong sạch
(thanh tịnh) bùng vỡ. Sự thanh tịnh của nó không để lại
chút manh mún nào hết, nó ở đó, nó là tất cả và không
có gì là từng hiện hữu. Khi không có gì hết thì là nó.
Nó (Thiền định) là sự thanh tịnh của tất cả các yếu
tính. Sự bình an này là cảnh giới vô tận, vô biên giới,
của Tánh Không bất khả tư nghị.
Trang
170-171:
Nơi
hàng hiên thoảng mùi thơm (nơi ông ở), khi bình minh chưa tới
và hàng cây vẫn còn vắng lặng, cái gì là bản chất chính
là cái đẹp (LND: essence dịch là bản chất hay yếu tính,
có nên dùng chữ Tánh của Thiền không?). Nhưng cái yếu tính
này thì không có thể kinh nghiệm. Kinh nghiệm phải chấm dứt,
phải chết đi, vì kinh nghiệm chỉ làm củng cố thêm cái
đã biết. Cái đã biết thì không bao giờ là bản chất, là
yếu tính (LND: nghĩa của chữ yếu tính thường được định
nghĩa cách Triết học là, cái gì làm cho nó là nó). Thiền
định không bao giờ là một kinh nghiệm xa hơn; nó không chỉ
là sự chấm dứt kinh nghiệm, mà sự chấm dứt này chỉ là
một đáp ứng tới sự thách thức, lớn hay nhỏ. Nhưng nó
(Thiền định) là sự mở ra cánh cửa của Pháp Tánh (the door
to essence), mở ra cánh cửa của một lò sưởi, trong đó lửa
đang đốt cháy hoàn toàn, không để lại chút tro bụi, không
gì còn sót lại nữa. Chúng ta là những cái sót lại, những
kẻ nói vâng của nhiều ngàn ngày hôm qua, một chuỗi liên
tục của trí nhớ không thôi, của sự lựa chọn và tuyệt
vọng. Cái gọi là Đại Ngã và Tiểu Ngã là khuôn mẫu của
hiện hữu, và hiện hữu là tư tưởng, và tư tưởng là hiện
hữu, với đau khổ không bao giờ chấm dứt. Trong ngọn lửa
của Thiền định, tư tưởng chấm dứt cùng với cảm xúc,
vì không có cái nào đã là tình yêu cả. Không có Tình yêu
thì không có yếu tính; không có Tình yêu thì chỉ có tro bụi
mà trên tro bụi này sự hiện hữu của chúng ta hình thành.
Chỉ ở trong Tánh Không, mới có Tình yêu (5).
Trang
175; Trong khi ông đang đi bộ:
Vừa
khi con đường rẽ về phía đông, cái Đó (otherness) hiện
đến. Nó đến chan hòa đổ xuống những làn sóng lớn dày
đặc của sự linh thánh vô biên. Như dường các tầng trời
mở ra cho cái không-gọi-tên-được hiện đến từ cái vô
lượng vô biên đó; Nó đã sống ở đó suốt ngày, tôi (ông
khiêm tốn dùng chữ One, ngôi thứ ba) đột nhiên nhận ra và
chỉ bây giờ, đang đi bộ một mình trong khi những người
bạn khác đã vào ngã quẹo khác, tôi nhận ra sự kiện đó.
Và cái gì làm cho sự kiện này khác thường chính là cái
đang xảy ra; nó là đỉnh cao của cái trước giờ vẫn đang
diễn tiến và không phải là một sự kiện riêng biệt (6).
Có ánh sáng, không phải ánh sáng mặt trời hay đèn nến gì
của con người, các loại ánh sáng này chỉ tạo nên bóng
(shadows) thôi. Nhưng có ánh sáng không tạo nên bóng và nó
là ánh sáng.
Trang
148:
Đang
đi bộ và nói chuyện, Thiền định vẫn đang tiếp tục trong
những lời và vẻ đẹp của đêm. Nó vẫn đang tiếp diễn
ở một chiều sâu rộng lớn, trôi chảy bên ngoài và cả
bên trong (Tâm). Nó đang bùng nổ và tỏa rộng ra.
Trang
212:
Thiền
định là lang thang xuyên qua thế giới của tri thức và xa
lìa khỏi nó để thâm nhập vào cái chưa từng được biết,
cái không biết (the unknown).
Trang
217:
Thiền
định là sự phủ định thuần túy nhất. Sự phủ định
này không là kết quả của mọi phản ứng. Để từ chối,
và duy trì ở trong sự từ chối này của phủ định đó là
hành động không với một động cơ, cũng là Tình yêu vậy.
Trang
219:
Thiền
định không phải là con đường của một nỗ lực nào hết.
Tất cả nỗ lực chỉ đưa tới mâu thuẫn, đối kháng. Nỗ
lực và chọn lựa luôn luôn là nguyên nhân của mâu thuẫn,
sẽ làm cho Thiền định trở thành một chạy trốn thực tại,
trốn cái đang làm. Thiền định chân chính sẽ đưa tới cái
Đó, làm vắng lặng hoàn toàn một bộ óc vốn đã yên tĩnh.
Bộ óc chỉ đơn giản là một hành lang cho cái vô lượng
vô biên đó, cũng hệt như dòng sông rộng và sâu giữa 2 bờ
dốc, cái Khác kỳ lạ này chuyển động với không một phương
hướng và thời gian.
Cũng
trang 219:
Thiền
định là ngọn lửa đốt cháy sạch tất cả thời gian và
khoảng cách, tất cả thành tựu và kinh nghiệm. Chỉ có cái
Chơn Không vô lượng vô biên nhưng trong đây chính là chuyển
động, là Sáng Tạo.
Trang
222:
Thiền
định tiếp tục (trong cơ thể ông) với sự vắng lặng đó,
và vắng lặng đó chính là Tình yêu. Nó không phải là yêu
một vật gì hay người nào, một hình ảnh hay biểu tượng
nào, chữ hay tranh. Nó đơn giản là tình yêu, với không một
cảm xúc (feeling). Nó tự hoàn toàn trong chính nó, trần truồng,
dầy đặc, không một nguyên nhân và phương hướng.
Cùng
trang 222:
Trong
Thiền định không có sự lập lại, không có sự tiếp nối
của thói quen; chỉ có cái chết của tất cả mọi cái đã
biết và có những trận mưa hoa của cái bất khả tri (unknown).
Ghi
Chú:
(1)
Có thể gợi nhớ tới một câu trong Thiền: "Đại tử nhất
phiên," một phen chết lớn. Ở đây, hai ý không hoàn toàn
trùng nhau. Đoạn này của Krishnamurti còn gợi nhớ tới bài
kệ trong Kinh Đại Bát Niết Bàn: "Sinh diệt dĩ diệt, tịch
diệt vi lạc." Tạm dịch là, tất cả những gì gọi là sinh
với diệt đều tiêu ma cả rồi, chỉ có cái Tánh Không Vắng
Lặng này mới là niềm vui thật thôi.
(2)
Điều này lại gợi nhớ tới chủ trương Chơn Không Diệu
Hữu của Kinh Pháp Hoa. Trong cái Không chơn thật và tuyệt
đối đó mới lưu xuất và hiện hữu cái Có kỳ diệu.
(3)
Ngôn ngữ của Bát Nhã lại xuất hiện ở đây.
(4)
Chữ cái Đó tạm dịch từ chữ The Otherness. Chữ này trong
sách không được định nghĩa rõ ràng. Krishnamurti không có
thói quen định nghĩa điều gì cả. Nếu dịch là cái Khác
sợ không đúng theo văn mạch. Thấy được cái Đó phải chăng
là Thấy Tánh theo ngôn ngữ của Thiền? Xin ghi một phần nguyên
văn cho độc giả ghi nhận, chú ý có một chữ is ở thì hiện
tại trong toàn văn ở thì quá khứ: "Meditation yeilded to the
otherness; It was of shattering purity. Its purity left no residue; it
was there, that is all and nothing existed."
(5)
Đoạn này tương hợp với một đoạn kệ trong Kinh Lăng Già:
"Viễn ly đoạn thường, thế gian hằng như mộng, tri bất
đắc hữu vô, nhi hưng đại bi tâm."
(6)
Cái trước giờ vẫn đang diễn tiến (what had been going on),
không hiểu ý Krishnamurti ám chỉ điều gì. Trong văn mạch
có thể hiểu theo 2 cách. Chữ cái Đó (cái Khác - otherness)
ở đây có thể dịch, mượn chữ nhà chùa, là Tánh, một
cách tương hợp. Ở đây, Krishnamurti nhìn Thấy Tánh hiển
hiện trước mắt. Nghĩa thứ nhất của cái-trước-giờ-vẫn-đangđiễn-tiến
có thể là, ám chỉ cái Tánh đó trước giờ vẫn bất sinh
bất diệt bất tăng bất giảm... Nghĩa thứ nhì có thể có
là, ông ám chỉ cái trong sách, ông gọi là process. Cái process
này bắt đầu với ông từ năm hai mươi tám tuổi (năm 1922),
năm ông chuyển hướng giáo lý phủ định tất cả. Có thể
nói theo nhà chùa, giai đoạn này của ông là chuyển từ Như
Lai Thiền sang Tổ Sư Thiền. Từ đó, ông chịu những cơn
đau liên tục ở đầu và xương sống. Theo ông (?) đó là
do pháp môn Không có gì để tu hết, nói theo Thiền là pháp
bổn như vô pháp, nói theo ông là ở với cái Tánh Không Thường
Tịch (nguyên văn là stillness and emptiness). Cuốn Krishnamurtís
Notebook này được viết năm 1961, tức bốn mươi năm sau lần
Đại Tử Nhất Phiên đó, nhưng cơn đau do process vẫn liên
tục. Theo giải thích của bà Pupul Jayakar, tác giả quyển Krishnamurti
A Biography, cơn đau do process đó là sự tỉnh thức và đi lên
của luồng hỏa hầu trong người Krishnamurti. Bà Pupul Jayakar
là bạn thân của Krishnamurti, là phó chủ tịch Krishnamurti
Foundation, một triết gia lớn của Ấn Độ. Tuy nhiên, chúng
ta không hề nghe Krishnamurti hay một Thiền Sư nào hở môi nói
về con rắn đen hay đỏ gì hết. Còn chuyện nghe gì bên tai,
thấy gì trước mắt hay đau gì do process đó thì cũng chẳng
thấy ai bận tâm. Bởi vì hình như là khi đau quá, thì các
Thiền sư vẫn phải đi Bác Sĩ khám bệnh.
MEDITATIONS
(Bổ
túc cho ấn bản năm 2001)
Cuốn
Meditations của Krishnamurti, xuất bản bởi nhà Shambala năm 1991,
kết tập các lời nói về thiền định của nhà đạo sư
dị thường nhất thế kỷ 20, người đã tự giải tán tổ
chức tôn giáo mà ông được chọn làm giáo chủ từ khi còn
thơ ấu trong khi tổ chức này đã có tới hơn 5 triệu tín
đồ. Mặc dù phi bác hết tất cả những gì thuộc về tôn
giáo, Krishnamurti vẫn có ngôn ngữ và phong thái của một vị
Cổ Phật đi vào cuộc đời, đặc biệt là lời dạy của
ông luôn luôn chỉ thẳng vào tâm để hiển tánh. Đây chính
là pháp môn Thiền Đốn Ngộ không qua bất kỳ phương tiện
nào. Nơi đây tất cả những gì gọi là tông phái, kỹ thuật,
thẩm quyền, kinh điển, thần chú đều trở nên vô nghĩa.
Dưới
đây là bản Việt dịch do Nguyên Giác thực hiện. Có một
điều nên ghi chú, Krishnamurti đôi khi tránh xưng "tôi" (ngôi
thứ nhất), và đã dùng chữ "one" (một người, ngôi thứ
ba) để tự gọi như cách đứng ngoài mình và nói về mình,
có lẽ vì ông không còn thấy có cái gì gọi là tự ngã nữa;
người dịch chuyển nghĩa chữ "one" sang Việt ngữ là "bạn"
(ngôi thứ hai). Trường hợp này sẽ lẫn lộn với khi dịch
chữ "you" cũng là "bạn," nhưng sẽ tạo một văn phong thống
nhất. Thêm nữa, bởi vì người dịch thấy rằng trong pháp
môn này thực sự không có gì ngăn cách giữa các ngôi "tôi,
người, bạn" chi cả. Bản dịch như sau.
LỜI
ĐẦU
Con
người, với mục đích trốn thoát các mâu thuẫn, đã phát
minh ra nhiều hình thức thiền định. Những hình thức này
dựa vào khát vọng, vào ý chí và vào thúc giục tới thành
tựu, và gợi mở mâu thuẫn và cuộc chiến đấu để tới.
Nỗ lực tận tình đầy ý thức này thì luôn luôn nằm trong
giới hạn của một tâm bị điều kiện hóa, và trong này
thì không có tự do. Tất cả mọi nỗ lực để thiền định
đều là chối bỏ thiền định.
Thiền
định là sự chấm dứt các niệm. Chỉ tới lúc đó mới
có một chiều kích khác, nơi vượt ra ngoài thời gian.
Tháng
3.1979.
***
Những
đoạn văn dưới đây trích từ các tác phẩm sau:
Krishnamurti’s
Notebook, Beginnings of Learning, The Awakening of Intelligence, Beyond
Violence, You Are the World, The Flight of the Eagle, The Impossible Question,
The Only Revolution, Freedom from the Known, Meditations 1969, Talks with
American Students.
***
Tâm
thiền định thì vắng lặng. Đó không phải sự vắng lặng
mà tư tưởng có thể nhận thức được; đó không phải sự
vắng lặng của một đêm im vắng; đó là sự vắng lặng
khi niệm—với tất cả hình ảnh, lời và khái niệm của
nó—đã hoàn toàn chấm dứt. Tâm thiền định này là một
tâm tôn giáo—cái tôn giáo mà không một giáo hội nào, thánh
đường nào, hay bài ca nào có thể chạm xúc được.
Tâm
tôn giáo là sự bùng nổ của tình yêu. Đó là tình yêu không
hề biết tới chia cách. Với nó, xa chính là gần. Đó không
phải là một hay nhiều, nhưng là trạng thái tình yêu trong
đó mọi chia chẻ đều chấm dứt. Hệt như vẻ đẹp, nó
không thuộc về thước đo của ngôn ngữ. Từ riêng cái vắng
lặng này, tâm thiền định hoạt động.
***
Thiền
định là một trong những nghệ thuật lớn nhất của đời
sống—có lẽ là nghệ thuật lớn nhất, và người ta không
có thể học từ bất kỳ ai. Đó là vẻ đẹp của nó. Nó
không có cái gì gọi là kỹ thuật, và do vậy không có cái
gì gọi là thẩm quyền. Khi bạn biết về chính bạn, nhìn
chính bạn, nhìn cách bạn đi, cách bạn ăn, những gì bạn
nói, những tán gẫu, những căm ghét, những ghen tị—nếu
bạn biết hết tất cả những điều đó trong tâm bạn, với
không một lựa chọn, đó là một phần của thiền định.
Như
vậy, thiền định có thể hiện hữu ngay cả khi bạn đang
ngồi trên xe buýt, hay đang đi bộ trong rừng đầy những ánh
sáng và bóng mát, hay đang nghe chim hót, hay đang nhìn khuôn
mặt của vợ hoặc con bạn.
***
Thật
kỳ lạ về cách thiền định trở thành; nó không có chấm
dứt mà cũng không có khởi đầu. Nó hệt như giọt mưa: trong
giọt nước là tất cả những dòng suối, những sông cả,
những đại dương và những thác nước; giọt nước này nuôi
lớn trái đất và con người; không có nó, trái đất sẽ
là một sa mạc. Không thiền định, trái tim trở thành một
sa mạc, một vùng đất hoang.
***
Thiền
định là tìm xem tư tưởng, với tất cả những hoạt động
của nó, tất cả những kinh nghiệm của nó, có thể tuyệt
đối vắng lặng được hay không. Không được dụng tâm,
bởi vì ngay khi bạn dụng tâm thì đã vướng vào nhị nguyên
(hai đầu). Người nào nói rằng, "Tôi muốn đạt những kinh
nghiệm tuyệt diệu, cho nên tôi phải buộc tâm tôi vắng lặng,"
thì sẽ không bao giờ thiền định được. Nhưng nếu bạn
bắt đầu dò xét, quan sát, lắng nghe tất cả những chuyển
động của niệm, những điều kiện hóa của nó, những theo
đuổi của nó, những sợ hãi của nó, những niềm vui của
nó, nhìm xem cách tư tưởng vận hành, rồi bạn sẽ thấy
rằng tư tưởng của bạn trở thành vắng lặng dị thường;
sự vắng lặng đó không phải là ngủ yên nhưng chính là
tích cực mãnh liệt và do vậy mới thật vắng lặng. Một
máy phát điện lớn đang hoạt động hoàn hảo thì khó mà
gây nên tiếng động; chỉ khi nào có sức cản mới có tiếng
động.
***
Vắng
lặng và vô biên đi chung với nhau. Cái vô biên của vắng
lặng là cái vô biên của tâm, trong đó không hề có nơi nào
gọi được là trung tâm.
***
Thiền
định là một công trình gian nan. Nó đòi hỏi hình thức cao
nhất của kỷ luật—không phải tùy thuận theo, không phải
là bắt chước, không phải là vâng phục—nhưng là một kỷ
luật đến từ một tỉnh thức thường trực, không chỉ là
những gì ngoài bạn nhưng còn là trong tâm bạn. Như vậy,
thiền định không phải là một hoạt động của sự cô lập
nhưng là một hành động trong đời sống thường ngày và
đòi hỏi sự hợp tác, sự bén nhạy và trí thông minh. Nếu
không đặt nền tảng về một cuộc sống ngay chính, thì thiền
định trở thành một cuộc đào thoát và như vậy sẽ không
có chút giá trị nào. Một cuộc sống ngay chính không có nghĩa
là theo đuổi đạo đức xã hội, nhưng chính là tự do, xa
lìa khỏi những ghen tị, thèm khát và mong muốn quyền lực—tất
cả những thứ này chỉ sinh khởi mâu thuẫn. Cái tự do xa
lìa những trạng thái trên không đến từ hoạt động của
ý chí, nhưng chỉ bằng cách nhận biết chúng qua tự quán
sát.
Không
biết về các hoạt động của tự ngã, thiền định sẽ trở
thành một hứng cảm và như vậy thì chỉ có rất ít ý nghĩa.
***
Luôn
luôn đi tìm những kinh nghiệm siêu vượt, sâu hơn, rộng hơn
chính là một hình thức đào thoát khỏi hiện thực của "cái
đang là," cái tự ngã của chúng ta, cái tâm đã điều kiện
hóa của chính chúng ta. Một tâm tỉnh thức, thông minh, tự
do, tại sao lại thấy cần, tại sao lại phải có, bất kỳ
"kinh nghiệm" nào nữa? Ánh sáng là ánh sáng; nó không đòi
hỏi thêm chút ánh sáng nào.
***
Thiền
định là một trong những thứ dị thường nhất, và nếu
bạn không biết nó là gì, thì bạn chỉ hệt như một người
mù trong một thế giới của những sắc màu sáng chói, của
những bóng tối và của ánh sáng chuyển động. Nó không phải
là một vấn đề của trí thức, nhưng khi trái tim bước vào
tư tưởng, thì tư tưởng có một phẩm chất hoàn toàn khác;
lúc đó nó thực sự là vô giới hạn, không phải chỉ trong
khả năng suy nghĩ, hoạt động một cách hiệu quả, nhưng
cũng còn trong ý nghĩa của cách sống trong một không gian vô
tận nơi mà bạn là một phần của vạn pháp.
Thiền
định là vận động của tình yêu. Nó không là tình yêu của
một hay của nhiều. Nó y hệt như nước mà bất kỳ ai cũng
có thể uống từ bất kỳ bình lọ nào, dù là bình vàng hay
bình đất: nó thì không cạn. Và một hiện tượng đặc biệt
xảy ra mà không một thứ ma túy hay phương tiện tự thôi
miên nào có thể mang đến: nó như dường là tâm đi vào trong
chính nó, bắt đầu từ mặt ngoài và càng lúc càng vào sâu,
cho tới khi chiều cao và chiều sâu mất đi ý nghĩa, và tất
cả những hình thức đo lường đều chấm dứt. Trong trạng
thái này, đó là hòa bình toàn diện—không phải sự êm dịu
đến từ việc làm cho khoái cảm—nhưng là một thứ hòa
bình, một hòa bình có trong nó trật tự, vẻ đẹp, và dầy
đặc. Nó có thể bị phá hủy toàn diện, hệt như bạn có
thể phá hủy một cánh hoa, và tuy vậy, mặc dù nó rất mực
mong manh, nó vẫn thực sự là bất khả hủy diệt. Thiền
định này không có thể học từ người khác. Bạn phải khởi
đầu mà không biết chút gì về nó, và phải đi từ ngây
thơ này tới ngây thơ khác.
Mảnh
đất mà tâm thiền định có thể bắt đầu chính là mảnh
đất của đời sống thường ngày, của tranh chấp, của nỗi
đau và của niềm vui nhanh chóng. Nó phải bắt đầu từ đó,
và mang đến trật tự, và từ đó sẽ chuyển động bất
tận. Nhưng nếu bạn chỉ quan tâm với chuyện làm cho trật
tự, rồi thì chính cái trật tự đó sẽ mang đến giới hạn
của chính nó, và bấy giờ thì tâm thức sẽ là tù nhân của
chính nó. Trong tất cả những vận động này, bạn phải cách
nào đó bắt đầu từ bên bờ bên kia, từ bờ sông bên kia,
và không luôn luôn quan tâm với bờ sông bên này hoặc là
quan tâm về cách nào để vượt qua sông. Và vẻ đẹp của
thiền định là, bạn không bao giờ biết nơi bạn đang đứng,
không bao giờ biết nơi bạn đang đi, và không bao giờ biết
điểm chấm dứt nơi nào.
***
Thiền
định không phải là cái gì khác với đời sống thường
ngày; đừng đi về một góc phòng và thiền định trong mười
phút, rồi lại trở ra và làm một tay đồ tể—nói trong
cách vừa ẩn dụ vừa thực tiễn.
Thiền
định là một trong những việc nghiêm trang nhất. Bạn có
thể thiền suốt cả ngày, trong văn phòng, với gia đình, khi
bạn nói với một người nào đó, "Bố thương con," khi bạn
đang quan tâm tới các con. Nhưng khi bạn giáo dục chúng trở
thành các quân nhân, để giết người, để được quốc gia
hóa, để thờ phượng lá cờ, giáo dục chúng bước vào bẫy
rập này của thế giới hiện đại.
Nhìn
tất cả thế đó, nhận thức phần của bạn trong nó, tất
cả đó là một phần của thiền định. Và khi bạn thiền
định như vậy, bạn sẽ thấy trong nó một vẻ đẹp dị
thường; bạn sẽ hành động đúng đắn trong từng khoảnh
khắc; và nếu bạn không hành động đúng đắn vào một khoảnh
khắc nào đó thì cũng chẳng hề gì, bạn sẽ làm đúng trở
lại—bạn sẽ không tốn thì giờ để ân hận. Thiền định
là một phần của đời sống, không phải là cái gì dị biệt
với đời sống.
***
Nếu
bạn sắp xếp để thiền định, nó sẽ không là thiền định.
Nếu bạn sắp xếp để tốt lành, những tốt lành sẽ không
bao giờ nở hoa. Nếu bạn tu dưỡng khiêm tốn, nó sẽ không
còn là khiêm tốn. Thiền định là ngọn gió thổi vào khi
bạn để cửa sổ mở; nhưng nếu bạn cố ý để nó mở,
cố ý mời gọi nó đến, nó sẽ không bao giờ xuất hiện.
***
Thiền
định không phải là một phương tiện cho một cứu cánh.
Nó vừa là phương tiện vừa là cứu cánh.
***
Thiền
định là cái gì cực kỳ dị thường. Nếu có bất kỳ loại
nào của cưỡng bách, của nỗ lực để buộc tư tưởng phải
vâng phục, bắt chước, thì nó trở thành một gánh nặng
mệt mỏi. Sự vắng lặng mà nó mong mỏi sẽ không còn rõ
nữa; nếu nó là cuộc theo đuổi các thị kiến và kinh nghiệm,
thì nó sẽ dẫn tới ảo vọng và tự thôi miên. Chỉ ở trong
sự bùng khởi các niệm, và như vậy trong việc chấm dứt
các niệm, thì thiền định mới có ý nghĩa; tư tưởng chỉ
có thể bùng khởi trong tự do, không phải trong những khuôn
mẫu luôn mở rộng của kiến thức. Kiến thức có thể cho
những kinh nghiệm mới hơn về các cảm xúc lớn hơn, nhưng
một tâm đi tìm kiếm kinh nghiệm thì chỉ là ấu trĩ. Trưởng
thành chính là sự tự do xa lìa tất cả kinh nghiệm; nó không
còn chịu bất kỳ ảnh hưởng nào để hiện hữu hay không
hiện hữu.
Trưởng
thành trong thiền định là giải thoát tâm ra khỏi kiến thức,
vì nó bóp khuôn và kiểm soát tất cả mọi kinh nghiệm. Một
tâm, mà là ánh sáng cho chính nó, thì không cần kinh nghiệm.
Ấu trĩ là nỗi thèm khát lo tìm các kinh nghiệm rộng hơn
và lớn hơn. Thiền định là lang thang xuyên qua thế giới
của kiến thức, và xa lìa các trói buộc của nó để bước
vào cái không biết.
***
Bạn
phải tìm ra cho chính bạn, không xuyên qua bất kỳ ai. Chúng
ta đã có các thẩm quyền của các vị thầy, các vị cứu
thế, và các đạo sư. Nếu bạn thực sự muốn tìm xem thiền
định là gì, bạn phải gạt qua một bên tất cả các thẩm
quyền một cách toàn diện và hoàn toàn.
***
Hạnh
phúc và niềm vui bạn có thể mua trong bất kỳ chợ nào với
một giá. Nhưng an lạc bạn không thể mua được—dù là cho
chính bạn hay là cho người khác. Hạnh phúc và niềm vui tùy
thuộc vào thời gian. Chỉ trong tự do hoàn toàn, an lạc mới
hiện hữu. Niềm vui, cũng như hạnh phúc, bạn có thể tìm,
và gặp, trong nhiều cách. Nhưng chúng đến và đi. An lạc—cái
cảm giác kỳ lạ của hân hoan—không có động cơ nào. Bạn
không có thể tìm nó. Một khi nó hiện ra đó, tùy thuộc vào
phẩm chất tâm bạn, nó vẫn ở đó—không thời gian, không
nguyên nhân, một điều không đo lường được bởi thời
gian. Thiền định không phải là cuộc tìm kiếm niềm vui hay
là tìm kiếm hạnh phúc. Ngược lại, thiền định là một
trạng thái của tâm trong đó không có một khái niệm hay công
thức nào, và do vậy hoàn toàn tự do. Chỉ với một tâm như
vậy, niềm an lạc này mới đến—không được tìm kiếm,
không được mời gọi. Một khi nó hiện ra đó, cho dù bạn
có thể sống trong thế giới với mọi tiếng ồn, với mọi
niềm vui và với mọi thô bạo, chúng sẽ không chạm xúc tới
tâm đó. Một khi nó hiện ra đó, mâu thuẫn ngưng lại. Nhưng
hành động chấm dứt mâu thuẫn thì không nhất thiết là
tự do hoàn toàn. Thiền định là vận động của tâm trong
tự do này. Trong cái bùng nổ này của an lạc, những con mắt
sẽ biến thành ngây thơ, và tình yêu lúc đó là ân sủng.
***
Tôi
không biết bạn có từng ghi nhận rằng khi bạn chăm chú hoàn
toàn thì sẽ có sự vắng lặng hoàn toàn. Và trong sự chăm
chú đó, không có đâu là biên giới, không có đâu là trung
tâm, như là "cái tôi" người nhận biết hay là người chăm
chú. Chăm chú đó, vắng lặng đó, là một trạng thái của
thiền định.
***
Chúng
ta hiếm khi lắng nghe tiếng chó sủa, hay tiếng khóc của một
trẻ nhỏ, hay tiếng cười của một người đi ngang qua. Chúng
ta ngăn cách chúng ta ra khỏi mọi thứ, và rồi từ thế cô
lập để nhìn và lắng nghe mọi thứ. Chính sự ngăn cách
này hủy diệt như vậy, vì trong đó là tất cả mọi mâu
thuẫn và hỗn loạn. Nếu bạn lắng nghe âm thanh của những
chuông kia với vắng lặng hoàn toàn, bạn sẽ đang bay trên
đó—hay là, đúng ra, âm thanh sẽ chở bạn đi xuyên qua thung
lũng và vượt lên đồi. Vẻ đẹp của nó chỉ được cảm
nhận khi bạn và âm thanh không ngăn cách nhau, khi bạn là một
phần của nó. Thiền định là chấm dứt các ngăn cách không
bởi bất kỳ hành động nào của ý chí hay khát vọng.
Thiền
định không phải là cái gì ngăn cách khỏi đời sống; nó
là cốt tủy của đời sống, là cái rất mực cốt tủy của
đời sống hàng ngày. Để lắng nghe các chuông kia, để nghe
tiếng cười của người nông dân đó khi anh ta đi ngang qua
với vợ, để lắng nghe tiếng chuông trên chiếc xe đạp của
cô bé gái khi cô đạp ngang qua: đó là toàn bộ đời sống,
và không chỉ là một phần mảnh của nó, lúc đó thiền định
mở ra.
***
Thiền
định là nhìn vào cái đang là và đi vượt qua nó.
***
Nhận
thức không dùng lời, đó là, không một niệm, là một trong
những hiện tượng kỳ dị nhất. Lúc đó thì nhận thức
nhạy bén hơn rất nhiều, không chỉ với bộ óc, nhưng cũng
với tất cả các cảm quan. Nhận thức như vậy thì không
phải là cái nhận thức phần mảnh của thông minh, cũng không
là chuyện của cảm xúc. Nó có thể được gọi là nhận
thức toàn diện, và nó là một phần của thiền định. Nhận
thức mà không có người nhận thức trong thiền định là
giao tiếp với đỉnh cao và chiều sâu của cái vô tận. Nhận
thức này thì hoàn toàn khác biệt với việc nhìn một vật
mà không có người nhìn, bởi vì trong nhận thức của thiền
định, thì không có vật (để nhìn) và do vậy không có kinh
nghiệm. Tuy nhiên, thiền định có thể đến khi mắt mở và
bạn bị vây quanh bởi đủ thứ các vật. Nhưng rồi thì những
vật này không quan trọng chút nào cả. Bạn nhìn thấy chúng
nhưng không có tiến trình của nhận diện, có nghĩa là không
có kinh nghiệm.
Thiền
định như thế có ý nghĩa gì? Không có ý nghĩa nào; không
có tiện ích nào. Nhưng trong thiền định đó, có một vận
động của niềm an lạc hân hoan lớn lao mà không có thể
bị lẫn lộn với niềm vui. Đó là niềm an lạc hân hoan sẽ
cho cái phẩm chất ngây thơ hồn nhiên vào mắt, vào tim và
vào óc. Không nhìn đời sống như cái gì hoàn toàn mới, thì
đó là thói quen, là chán ngán, là một việc vô nghĩa. Do vậy
thiền định là của cái quan trọng lớn nhất. Nó mở cửa
tới cái không có thể tính toán, tới cái không có thể đo
lường.
***
Thiền
định thì không bao giờ trong thời gian; thời gian không có
thể đưa tới chuyển hóa; nó có thể mang tới thay đổi,
điều này cần được thay đổi lần nữa, y hệt như mọi
sự đổi mới. Thiền định từ trong thời gian thì luôn luôn
ràng buộc, không có tự do nào trong nó, và khi không có tự
do thì sẽ luôn luôn có lựa chọn và mâu thuẫn.
***
Chúng
ta phải thay đổi cơ cấu của xã hội chúng ta, cái bất công
của nó, cái đạo đức kinh hoàng của nó, cái chia chẻ nó
đã tạo ra giữa người và người, những cuộc chiến tranh,
cái hoàn toàn thiếu vắng tình yêu và từ bi đang hủy diệt
thế giới. Nếu thiền định của bạn chỉ là một chuyện
riêng tư, một việc mà bạn thưởng thức riêng tư, thì nó
không phải là thiền định. Thiền định ám chỉ tới cái
thay đổi triệt để hoàn toàn của tâm và trái tim. Nó chỉ
có thể hiện hữu khi có cái cảm quan phi thường của sự
vắng lặng trong tâm, và riêng nó mang tới cái tâm tôn giáo.
Tâm đó biết cái gì là thiêng liêng.
***
Vẻ
đẹp có nghĩa là sự nhạy cảm—một thân xác nhạy cảm,
có nghĩa là việc ăn uống đúng đắn, một cách sống đúng
đắn. Rồi thì tâm sẽ trở thành vắng lặng, một cách tất
yếu và tự nhiên và ngoài cả nhận biết. Bạn không thể
làm cho tâm vắng lặng, bởi vì bạn là người gây rối, chính
bạn bị quấy nhiễu, lo lắng, rối loạn—làm sao bạn có
thể làm cho tâm vắng lặng? Nhưng khi bạn hiểu sự vắng
lặng là gì, hiểu nỗi buồn là gì, và nỗi buồn có thể
có bao giờ chấm dứt hay không, và khi bạn hiểu được niềm
vui, rồi thì từ đó sẽ có một tâm vắng lặng dị thường;
bạn không phải tìm kiếm nó. Bạn phải bắt đầu ở lúc
khởi đầu, và bước đầu tiên cũng chính là bước cuối
cùng, và đây là thiền định.
***
Thiền
định là ngây thơ đối với thời gian.
***
Thiền
định không phải là một lối thoát ra khỏi thế giới; nó
không phải là một hoạt động tự cô lập, vây bủa, nhưng
đúng ra là hiểu biết về thế giới và các cách vận hành
của nó. Thế giới có rất ít để cống hiến những gì ngoài
thực phẩm, áo quần và nơi cư trú, và niềm vui với những
nỗi buồn lớn lao của nó.
Thiền
định là lang thang ra khỏi thế giới này; bạn phải là một
người ngoại cuộc hoàn toàn. Lúc đó thế giới có một ý
nghĩa, và vẻ đẹp của những cõi trời và quả đất thì
thường tại. Lúc đó tình yêu không phải là niềm vui. Từ
đây, tất cả các hành động bắt đầu nhưng đó không phải
là kết quả của căng thẳng, của mâu thuẫn, của cuộc tìm
kiếm tự hoàn thành chính mình, hay của hình ảnh quyền lực.
***
Nếu
bạn cố tâm chọn một thái độ, một tư thế, với mục
đích để thiền định, thì nó sẽ trở thành một trò chơi,
một đồ chơi của tâm. Nếu bạn quyết định giải phóng
mình ra khỏi sự hỗn loạn và đau khổ của đời sống, thì
nó trở thành một kinh nghiệm của tưởng tượng—và nó
không phải là thiền định. Tâm ý thức hay tâm vô thức không
có dính gì trong đó; chúng không ngay cả biết tới mức độ
và vẻ đẹp của thiền định—nếu chúng biết, thì bạn
chỉ có thể nên đi mua một cuốn tiểu thuyết lãng mạn.
Trong
cái chăm chú toàn diện của thiền định, không có sự biết,
không có sự nhận biết, không cả hồi nhớ về một điều
đã từng xảy ra. Thời gian và các niệm đã hoàn toàn chấm
dứt, vì chúng là trung tâm nơi giới hạn chính cái thị kiến
của riêng nó.
Chỉ
trong khoảnh khắc, tư tưởng biến dạng đi (niệm diệt),
và nỗ lực kinh nghiệm và hồi nhớ về nó chỉ còn là danh
tự. Và danh tự thì không bao giờ là cái thực thể. Vào cái
khoảng khắc đó—một điều không thuộc về thời gian—cái
tối hậu là cái tức thì, nhưng cái tối hậu đó không có
biểu tượng, thì không thuộc về người nào, không thuộc
về thượng đế nào.
***
Thiền
định là tìm xem có thể có hay không một cánh đồng, nơi
chưa bị ô nhiễm bởi những điều đã biết.
***
Thiền
định là sự bùng nở của hiểu biết. Hiểu biết thì không
nằm trong biên giới của thời gian; thời gian không bao giờ
mang tới hiểu biết. Hiểu biết không phải là một tiến
trình tiệm tiến để được gom góp từng chút một, với
cẩn trọng và kiên nhẫn. Hiểu biết là cái bây giờ, hoặc
không bao giờ; nó là một tia chớp hủy diệt, không phải
là một chuyện thuần hóa; nó là sự tan vỡ mà bạn sợ hãi,
và do vậy bạn tránh né nó, một cách ý thức hay không. Hiểu
biết có thể thay đổi cuộc đời của bạn, cách suy nghĩ
và cách hành động; nó có thể dễ chịu hay là không, nhưng
hiểu biết là một nỗi nguy hiểm cho tất cả mọi quan hệ.
Nhưng không có hiểu biết, thì nỗi buồn cũng tiếp diễn.
Nỗi buồn chấm dứt chỉ trong tự hiểu biết, cái nhận biết
ra từng các niệm và cảm xúc, từng vận chuyển của ý thức
và đó là cái đang bị giấu kín. Thiền định là hiểu biết
về ý thức, cái bị giấu kín và cái mở rộng, và về cái
chuyển động đang nằm vượt xa tất cả những tư tưởng
và cảm xúc.
***
Đó
là một trong những buổi sáng đáng yêu trước đó chưa bao
giờ có. Mặt trời vừa lên và bạn thấy nó giữa cây thông
và cây khuynh diệp. Nó nằm trên các ao hồ, sắc vàng, chói
sáng—ánh sáng như thế chỉ có ở những nơi núi đồi và
biển cả. Đó là một buổi sáng trong suốt, không một hơi
gió, đầy những ánh sáng kỳ lạ đó, mà bạn thấy không
chỉ bằng mắt của bạn nhưng là với cả bằng tim. Và khi
bạn thấy nó, các tầng trời thì rất gần với mặt đất,
và bạn tan mất trong vẻ đẹp. Bạn biết, bạn không bao giờ
nên thiền định nơi công cộng, hay là với người khác, hay
là tập thể trong một nhóm: bạn chỉ nên thiền định trong
cô đơn, trong vắng lặng của đêm hay là trong buổi sáng sớm
im vắng. Khi bạn thiền định trong cô đơn, nó phải là cô
đơn. Bạn phải hoàn toàn đơn độc, không theo một hệ thống,
không theo một phương pháp, không lập đi lập lại các chữ,
không theo đuổi một niệm nào, và không uốn nắn một tư
tưởng theo khát vọng của bạn.
Sự
cô đơn này đến, khi tâm xa lìa tất cả mọi tư tưởng.
Khi có ảnh hưởng của khát vọng hay của những chuyện mà
tâm đang theo đuổi, hoặc là trong tương lai hay quá khứ, thì
không có sự cô đơn. Chỉ ở trong cái vô lượng của hiện
tại, sự cô đơn này mới đến. Và rồi, trong bí mật vắng
lặng, trong đó tất cả mọi truyền thông đã ngưng bặt,
trong đó không có người quan sát với nỗi lo lắng của anh
ta, với các vấn đề và khẩu vị ngốc nghếch của anh ta—chỉ
tới lúc đó, trong cái cô đơn vắng lặng đó, thiền định
trở thành một cái gì không có thể mô tả bằng lời. Lúc
đó thiền định trở thành một chuyển động ngoại thân.
Tôi
không biết rằng bạn có từng bao giờ thiền định, rằng
bạn có từng bao giờ đơn độc, chính riêng bạn, xa hết
tất cả mọi thứ, xa mọi người, xa mọi tư tưởng và săn
đuổi, rằng bạn có từng bao giờ hoàn toàn đơn độc, không
phải là cô lập, không phải là rút lui vào trong một thị
kiến hay giấc mơ huyễn ảo nào, nhưng là xa hẳn, đến nỗi
trong chính bạn, không có gì có thể nhận biết được, không
có gì mà bạn chạm xúc bằng tư tưởng hay cảm xúc, xa đến
nỗi rằng trong đơn độc đầy đủ này, cái vắng lặng chân
thực trở thành cánh hoa duy nhất, thành ánh sáng duy nhất,
và thành cái phẩm chất phi thời gian không có thể đo lường
bởi tư tưởng. Chỉ trong thiền định như thế, tình yêu
mới hiện hữu. Đừng bận tâm bày tỏ nó: nó sẽ tự bày
tỏ chính nó. Đừng sử dụng nó. Đừng cố gắng đưa nó
vào hành động: nó sẽ hành động, và khi nó hành động,
trong hành động đó sẽ không có ân hận, không có mâu thuẫn,
không có cái gì là đau khổ và lao động cực nhọc của con
người.
Do
vậy, hãy thiền định đơn độc. Hãy lạc mất đi. Và đừng
gắng nhớ nơi bạn từng cư trú. Nếu bạn gắng nhớ nó,
rồi thì nó sẽ là cái gì đã chết. Và nếu bạn nắm giữ
ký ức về nó, thì bạn sẽ không bao giờ đơn độc lần
nữa. Do vậy, hãy thiền định trong cái đơn độc vô tận
đó, trong cái vẻ đẹp của tình yêu đó, trong cái ngây thơ
hồn nhiên đó, trong cái mới mẻ—lúc đó sẽ có niềm an
lạc
hân hoan thường tại.
Bầu
trời thì rất là xanh, cái màu xanh của sau cơn mưa, và những
cơn mưa này đã đến sau nhiều tháng nắng hạn. Sau mưa, bầu
trời được rửa sạch đi, và các ngọn đồi đang hoan vui,
và mặt đất thì đứng lặng. Và từng chiếc lá có ánh sáng
mặt trời trên nó, và cảm giác về quả đất thì rất gần
với bạn. Do vậy, hãy thiền định trong những an nghỉ rất
là bí mật của tim và óc bạn, nơi bạn chưa bao giờ trước
đó đặt chân.
***
Thiền
định không phải là một phương tiện để đến một cứu
cánh; không có điểm để đến, cũng không có việc đi đến;
nó là một chuyển động trong thời gian, và ở ngoài thời
gian. Tất cả hệ thống, phương pháp, buộc tư tưởng vào
thời gian, nhưng sự nhận biết không lựa chọn về từng
tư tưởng và cảm xúc, sự hiểu biết các động cơ của
chúng, các vận hành của chúng, cho phép chúng bủng nở, là
khởi đầu của thiền định. Khi tư tưởng và cảm xúc bùng
nở và biến mất, thiền định là chuyển động vượt ngoài
thời gian. Trong chuyển động này, có niềm hân hoan cảm khoái;
trong cái tánh không toàn triệt, có tình yêu, và với tình
yêu, có hủy diệt và sáng tạo.
***
Thiền
định là ánh sáng đó ở trong tâm, nó chiếu sáng con đường
cho hành động; và không có ánh sáng đó, thì không có tình
yêu.
***
Thiền
định không bao giờ là kinh cầu. Kinh cầu, lời xin ân sủng,
được sinh khởi từ lòng tự xót thương. Bạn cầu nguyện
khi bạn trong cảnh khó khăn, khi có nỗi buồn; nhưng khi có
hạnh phúc, niềm vui, thì không có van xin ân sủng. Lòng tự
xót thương, đã gắn quá sâu trong con người, là cội rễ
của ngăn cách. Cái nào mà là ngăn cách, hay là nghĩ chính
nó là ngăn cách, có từng tìm kiếm căn cước mình với cái
gì đó mà nó không ngăn cách, thì chỉ mang thêm ngăn cách
và đau đớn. Từ hỗn loạn này, bạn than khóc tới các tầng
trời; hay là tới người chồng của bạn, hay là tới một
vài vị thần trong tâm. Tiếng than khóc này có thể tìm ra
một câu trả lời, nhưng câu trả lời chỉ là tiếng vọng
của lòng tự xót thương, trong sự ngăn cách của nó.
Việc
lập lại những lời, những kinh cầu, là tự thôi miên, tự
khép kín và hủy diệt. Sự cô lập của tư tưởng thì luôn
luôn trong phạm vi của cái đã biết, và câu trả lời cho
kinh cầu là đáp ứng của cái đã biết.
Thiền
định thì xa hẳn điều này. Trong cánh đồng này, tư tưởng
không có thể vào; không có ngăn cách, và do vậy không có
căn cước. Thiền định thì mở ngõ; sự bí mật không có
chỗ trong nó. Mọi thứ được phơi bày ra, rõ ràng; lúc đó,
vẻ đẹp của tình yêu hiện hữu.
***
Trong
buổi sáng nay, phẩm chất của thiền định là cái không-gì-hết,
cái trống vắng hoàn toàn của thời gian và không gian. Đó
là một sự kiện, và không phải là một ý nghĩ hay một nghịch
lý của các giả thuyết trái nghịch nhau. Bạn tìm ra cái tánh
không kỳ lạ, khi cội rễ của tất cả mọi vấn đề tan
biến đi. Cội rễ này là tư tưởng, cái tư tưởng chia chẻ
và nắm giữ. Trong thiền định, tâm thực sự trở thành cái
trống vắng mọi quá khứ, mặc dù nó có thể sử dụng quá
khứ như là niệm. Trạng thái này đi xuyên suốt cả ngày,
và vào đêm, giấc ngủ là cái trống vắng của hôm qua, và
do vậy, tâm xúc chạm tới cái không còn thời gian.
***
Thiền
định không phải là sự kiểm soát đơn giản thân thể và
niệm tưởng, cũng không phải là một hệ thống pháp thở
vào thở ra. Thân thể phải vắng lặng, mạnh khỏe và không
cưỡng ép; sự tinh tế của cảm xúc phải được mài bén
và được nuôi dưỡng; và tâm với tất cả những chao động,
rối loạn và truy lùng của nó phải chấm dứt. Nó không phải
là một sinh vật hữu cơ mà bạn phải bắt đầu với, nhưng
đúng ra là tâm với các ý kiến, thành kiến và sở thích
phải được nhìn ra. Khi tâm mạnh khỏe, sinh động và mạnh
mẽ, thì cảm xúc sẽ được nâng cao và sẽ cực kỳ tinh
tế. Lúc đó, thân xác, với sự thông minh tự nhiên riêng
của nó, điều mà chưa bị làm hư hỏng bởi thói quen và
sở thích, sẽ hoạt động như nó nên là.
Do
vậy, bạn phải khởi đầu với tâm, chứ không phải với
thân, cái tâm là các niệm và những biến đổi của các biểu
hiện của niệm. Sự tập trung đơn giản làm cho niệm hẹp
đi, hạn chế đi và dễ vỡ, nhưng sự tập trung đến như
một việc tự nhiên khi có sự nhận biết về các lối đi
của niệm. Sự nhận biết này không đến từ người suy nghĩ,
người chọn lựa và gạt bỏ, người nắm giữ và phủ nhận.
Sự nhận biết này thì không có chọn lựa và hiện diện
vừa ở ngoài vừa ở trong; nó là dòng lưu chảy giữa cả
hai, do vậy sự ngăn cách giữa cái ngoài và cái trong sẽ chấm
dứt.
Niệm
hủy diệt cảm xúc—cảm xúc là tình yêu. Niện có thể cung
ứng chỉ niềm vui, và trong việc săn đuổi niềm vui, tình
yêu bị gạt ra một bên. Niềm vui của ăn, của uống, có
sự liên tục của nó trong niệm, và chỉ để kiểm soát hay
trấn áp niềm vui này, cái mà niệm mang tới thì không có
ý nghĩa; nó chỉ tạo ra những hình thức dị biệt của mâu
thuẫn và xung đột.
Niệm,
đó là chuyện đáng nói tới, không có thể tìm kiếm cái
vượt ngoài thời gian, bởi vì niệm chính là ký ức, và kinh
nghiệm, trong đó ký ức thì cũng chết hệt như chiếc lá
của mùa thu vừa qua.
Nhận
biết tất cả những điều này sẽ đưa tới sự chăm chú,
cái không phải là sản phẩm của cái phi chăm chú. Nó là
cái phi chăm chú mà đã định hình ra những thói quen vui khoái
của thân thể và làm tan yếu đi cái dày đặc của cảm xúc.
Sự không chăm chú không có thể được biến thành sự chăm
chú. Nhận biết về sự không chăm chú mới là sự chăm chú.
Nhìn
toàn bộ cái tiến trình phức tạp này chính là thiền định,
từ riêng đó sẽ hiện ra cái trật tự trong hỗn loạn này.
Trật tự này thì có tính tuyệt đối như là trật tự trong
toán học, và từ đó sẽ có hành động—cái hành động
tức khắc. Trật tự không phải là thu xếp, vẽ kiểu và
từng phần: những cái này đến sau nó. Trật tự đến từ
một tâm không bị làm đầy bởi các niệm. Khi niệm vắng
lặng, sẽ có tánh không, cái đó là trật tự.
***
Nó
thực sự là một con sông đẹp, rộng, sâu, với nhiều thành
phố hai bên bờ, trôi tự do không bận tâm và chưa bao giờ
bỏ rơi chính nó. Toàn bộ đời sống thì ở đó trên các
bờ, các cánh đồng xanh, rừng, những ngôi nhà đơn độc,
sự chết, tình yêu và hủy diệt; có những chiếc cầu rộng,
dài trên nó, đẹp tuyệt. Những con sông và suối khác nối
vào nó, nhưng nó là mẹ của tất cả các dòng sông, những
con sông nhỏ và những con sông lớn. Nó thì luôn luôn đầy,
luôn luôn tự trong sạch chính nó, và vào đêm thì là một
ân sủng khi nhìn ngắm nó, với những sắc màu sậm dần trong
mây và dòng nước vàng. Nhưng dòng nước nhỏ xa như vậy,
giữa những tảng đá khổng lồ, đá tảng mà như dường
tập trung vào việc sản xuất ra nó, là khởi đầu của đời
sống, và sự chấm dứt của nó thì vượt quá các bến bờ
và các đại dương.
Thiền
định y hệt như dòng sông đó, chỉ là nó không có khởi
đầu và không có chấm dứt; nó khởi đầu và cái chấm dứt
của nó là cái khởi đầu của nó. Không có nguyên nhân nào,
và chuyển động của nó là sự làm mới của nó. Nó thì
luôn luôn mới, nó không bao giờ thu nhặt để trở thành già;
nó không bao giờ bị hư hoại bởi vì nó không có cội rễ
trong thời gian. Thật tốt để thiền định, không cưỡng
ép nó, không làm bất kỳ nỗ lực nào, khởi đầu với một
dòng nước và trôi đi vượt quá thời gian và không gian, nơi
mà tư tưởng và cảm xúc không thể vào, nơi kinh nghiệm không
hiện hữu.
***
Thiền
định là việc buông thả ra hoàn toàn các năng lực.
***
Trong
không gian mà tư tưởng tạo ra quanh nó thì không có tình yêu.
Không gian này chia cách người với người, và trong nó là
tất cả sự trở thành, cuộc chiến của đời sống, nỗi
đau đớn và sợ hãi. Thiền định là việc chấm dứt cái
không gian này, việc chấm dứt của cái "tôi." Lúc đó, quan
hệ có một ý nghĩa khác hoàn toàn, bởi vì trong không gian
đó, cái không gian mà không được tạo ra từ tư tưởng,
thì người khác không hiện hữu, bởi vì bạn không hiện
hữu.
Lúc
đó, thiền định không phải là việc truy tìm một vài thị
kiến, bất kể đã được phong thánh thế nào bởi truyền
thống. Thay vậy, nó là cái không gian vô tận, nơi mà tư tưởng
không có thể vào. Đối với chúng ta, cái không gian nhỏ dựng
lập bởi tư tưởng quanh chính nó, cái gọi là cái "tôi,"
thì cực kỳ quan trọng, bởi vì đây là tất cả cái gì mà
tâm biết, căn cước hóa chính nó với mọi thứ trong không
gian đó. Và nỗi sợ hãi về việc không được sinh ra trong
không gian đó. Nhưng trong thiền định, khi điều này được
hiểu ra, tâm có thể vào trong một chiều kích không gian, nơi
mà hành động là không hành động.
Chúng
ta không biết tình yêu là gì, bởi vì trong không gian dựng
lập bởi tư tưởng quanh chính nó như là cái "tôi," tình yêu
là sự tranh chấp giữa cái "tôi" và cái "không-tôi." Tranh
chấp này, sự tra tấn này, không phải là tình yêu.
Tư
tưởng là sự chối bỏ tình yêu, và nó không thể vào trong
không gian đó, nơi mà cái "tôi" không hiện hữu. Trong không
gian đó, là ân sủng, cái mà con người tìm kiếm và không
có thể thấy. Hắn tìm kiếm nó trong các biên giới của tư
tưởng, và tư tưởng hủy diệt cái hân hoan sảng khoái của
ân sủng này.
***
Niềm
tin thì không cần thiết, cũng y hệt như các lý tưởng. Cả
hai đều làm tan vỡ cái năng lực cần để theo dõi cái khai
mở của sự kiện, cái "đang là." Niềm tin và lý tưởng là
chạy trốn ra khỏi sự kiện, và trong chạy trốn thì không
đưa tới chấm dứt buồn phiền. Việc chấm dứt buồn phiền
là hành động hiểu biết sự kiện trong từng khoảnh khắc.
Không có hệ thống nào hay phương pháp nào đưa tới hiểu
biết; chỉ có sự nhận biết không lựa chọn về một sự
kiện sẽ làm được điều đó. Thiền định theo một hệ
thống là sự lẩn tránh cái sự kiện về cái bạn đang là;
thật là quan trọng hơn để hiểu biết chính bạn, cái thay
đổi thường trực của các sự kiện về bạn, hơn là thiền
định để tìm vàng hay có thị kiến, có cảm giác và có
các hình thức giải trí khác.
***
Thiền
định vào giờ đó là sự tự do, và nó y hệt như vào trong
một thế giới chưa biết của vẻ đẹp và vắng lặng; nó
là một thế giới không có hình ảnh, biểu tượng hay chữ
lời, không một gợn sóng của ký ức. Tình yêu là sự chết
của từng phút một, và từng cái chết là việc làm mới
lại tình yêu. Nó không phải là sự gắn bó, nó không có
cội rễ; nó nở hoa mà không có nguyên nhân, và nó là một
ngọn lửa đã cháy xa khỏi các biên giới, xa khỏi các hàng
rào được xây kỹ lưỡng của ý thức. Nó là vẻ đẹp vượt
ngoài niệm tưởng và cảm xúc; nó không thể mô tả lại
trên khung vải, trong ngôn ngữ hay là trên mặt đá. Thiền
định là nỗi hân hoan, và với nó ân sủng sẽ đến.
***
Tình
yêu bùng nở chính là thiền định.
***
Trong
thiền định, bạn phải tìm ra xem là có hay không một điểm
chấm dứt của kiến thức, và do đây là tự do xa lìa khỏi
cái đã biết.
***
Trời
mưa nặng nề trong cả đêm và ngày, và dưới khe suối dòng
nước vấy bùn chảy ra biển, làm nên màu nâu sô cô la. Khi
bạn đi bộ trên bờ biển, sóng thì lớn và chúng vỡ tan
ra với những lượng cong và sức mạnh lớn lao. Bạn đi bộ
ngược gió, và đột nhiên bạn cảm thấy không có gì giữa
bạn và bầu trời, và sự mở rộng này là cõi trời. Để
mong manh, hoàn toàn khai mở—với các ngọn đồi, với biển
và với con người—là cái cốt tủy chân thực của thiền
định.
Để
không có chống kháng, để không có bờ cản nội tâm với
bất kỳ những gì, để thực sự tự do, một cách hoàn toàn,
xa lìa khỏi tất cả những đòi hỏi, xung động và thúc giục
nhỏ nhặt, với tất cả những giả hình và tranh chấp nhỏ
của chúng, là đi bộ trong đời sống với các cánh tay mở
rộng. Và đêm đó, đi bộ nơi đó trên mặt cát ướt đó,
với các con chim hải âu quanh bạn, bạn cảm thấy cảm giác
dị thường của tự do mở rộng và vẻ đẹp lớn lao của
tình yêu mà chúng không ở trong bạn hay ở ngoài bạn—nhưng
ở mọi nơi.
Chúng
ta không nhận thức được quan trọng dường nào việc tự
do xa lìa những niềm vui linh tinh và những nỗi đau của chúng,
do vậy tâm nên ở nơi đơn độc. Tâm khi hoàn toàn đơn độc
mới khai mở được. Bạn cảm thấy tất cả điều này một
cách đột nhiên, như một ngọn lớn quét trên mặt đất và
xuyên qua bạn. Đó bạn là—trần trụi mọi thứ, trống không—và
do vậy hoàn toàn mở rộng. Vẻ đẹp của nó thì không ở
trong ngôn ngữ hay trong cảm xúc, nhưng như dường ở khắp
mọi nơi—quanh bạn, trong bạn, trên sông hồ và trên các
ngọn đồi. Thiền định là thế.
***
Thiền
định không phải là sự tập trung, cái tập trung là việc
loại trừ ra, là sự cắt rời đi, là một đối kháng và
do vậy là một tranh chấp. Một tâm thiền định có thể tập
trung, cái tập trung mà nó không phải là một loại trừ, một
đối kháng, nhưng một tâm được tập trung thì không có thể
thiền định.
***
Trong
sự hiểu biết của thiền định, sẽ có tình yêu, và tình
yêu không phải là sản phẩm của các hệ thống, của các
thói quen, của việc chạy theo một phương pháp. Tình yêu không
có thể được bồi đắp bởi tư tưởng. Tình yêu có thể
hiện ra khi có vắng lặng hoàn toàn, một vắng lặng mà trong
đó người thiền định hoàn toàn vắng mặt; và tâm chỉ
có thể vắng lặng khi nó hiểu biết chuyển động riêng của
nó trong niệm và cảm xúc. Để hiểu chuyển động này của
niệm và cảm xúc, sẽ không có thể bất kỳ một kết án
quy lỗi nào trong việc quan sát nó. Để quan sát trong cách
như vậy là một kỷ luật, và loại kỷ luật đó thì lưu
chảy, tự do, không phải loại kỷ luật của sự vâng phục.
***
Buổi
sáng đó, biển trông như một mặt hồ hay là một con sông
khổng lồ—không một gợn sóng, và bình lặng đến nỗi
bạn có thể thấy phản chiếu của các vì sao vào lúc rạng
sáng. Bình minh chưa tới, nên các vì sao, các phản chiếu của
bờ đá và ánh đèn phố xa kia đều hiện trên mặt nước.
Và khi mặt trời đến nơi chân trời trong bầu trời không
mây, nó làm thành một con đường vàng, và thật là dị thường
khi thấy rằng ánh sáng của California bao đầy quả đất và
từng chiếc lá và từng cọng cỏ.
Khi
bạn nhìn ngắm, một niềm vắng lặng lớn đến vào trong
bạn. Bộ não tự nó tĩnh lặng, không bất kỳ một phản
ứng nào, không một vận động, và kỳ lạ để cảm được
cái vắng lặng vô lượng. "Cảm" không phải là ngôn ngữ.
Phẩm chất của cái vắng lặng đó, cái ngưng đọng đó thì
không được cảm bởi bộ não; nó vượt qua cả bộ não.
Não bộ có thể nhận thức, công thức hóa hay vẽ kiểu cho
tương lai, nhưng cái tĩnh lặng này vượt ra ngoài phạm vi
của nó, vượt ra mọi tưởng tượng, vượt ra mọi thèm khát.
Bạn tĩnh lặng đến nỗi thân xác bạn trở thành một phần
hoàn toàn của mặt đất, một phần của tất cả những gì
tĩnh lặng.
Và
khi ngọn gió nhẹ đến từ các ngọn đồi, lay động lá cây,
sự tĩnh lặng này, cái phẩm chất dị thường của vắng
lặng này, thì không bị quấy động. Ngôi nhà nằm giữa các
ngọn đồi và biển, nhìn ra biển. Và khi bạn nhìn ngắm biển,
rất mực tĩnh lặng như vậy, bạn thực sự trở thành một
phần của tất cả mọi thứ. Bạn là tất cả. Bạn là ánh
sáng, và vẻ đẹp của tình yêu. Một lần nữa, để nói
"bạn là một phần của tất cả" thì cũng sai: chữ "bạn"
thì không thích hợp bởi vì bạn thực sự không ở đó. Bạn
không hiện hữu. Chỉ có cái tĩnh lặng đó, cái vẻ đẹp,
cái nghĩa dị thường của tình yêu.
***
Những
chữ "bạn" và "tôi" ngăn cách sự vật. Sự chia chẻ trong
cái tĩnh lặng và vắng lặng kỳ lạ này không hiện hữu.
Và khi bạn nhìn ra cửa sổ, không gian và thời gian như dường
đã tới điểm chấm dứt, và không gian chia cắt thì không
có một thực tính nào. Chiếc lá đó và cây khuynh diệp đó
và mặt nước chiếu sáng xanh thì không dị biệt ngăn cách
gì với bạn.
Thiền
định thực sự rất đơn giản. Chúng ta làm phức tạp nó
ra. Chúng ta thêu dệt lên một màng lưới ý tưởng quanh nó—nó
là những gì và nó không là những gì. Nhưng nó thì không
là những thứ như vậy. Bởi vì nó rất là đơn giản, nó
trốn thoát chúng ta, bởi vì tâm chúng ta phức tạp như thế,
dựa vào thời gian và bị thời gian bào mòn như thế. Và tâm
này chỉ định ra hoạt động của con tim, và rồi rắc rối
khởi đầu. Nhưng thiền định đến một cách tự nhiên, với
cái thoải mái dị thường, khi bạn đi bộ trên cát hay nhìn
ra cửa sổ hay nhìn những ngọn đồi tuyệt đẹp bị đốt
cháy bởi nắng mùa hè vừa qua. Tại sao chúng ta là những
con người bị tra tấn như vậy, với lệ trong mắt và tiếng
cười giả tạo trên môi? Nếu bạn có thể đi bộ đơn độc
giữa những ngọn đồi đó hay trong rừng hay dọc theo những
đụn cát trắng dài, trong đơn độc đó bạn sẽ biết thiền
định là gì.
Cái
hân hoan an lạc của đơn độc đến khi bạn không sợ hiện
hữu đơn độc—không còn lệ thuộc vào thế giới hay gắn
bó vào bất kỳ những gì. Lúc đó, như bình minh kia đến
buổi sáng nay, nó đến một cách lặng lẽ, và làm thành một
đường vàng trong cái tĩnh lặng rất mực, cái tĩnh lặng
ngay từ lúc khởi đầu, cái là cái bây giờ, và cái sẽ hiện
hữu luôn luôn ở đó.
***
Thiền
định là một chuển động trong cái chưa biết và thuộc về
cái chưa biết. Bạn không ở đó, chỉ duy cái chuyển động.
Bạn thì quá nhỏ nhặt hay là quá lớn lao cho chuyển động
này. Nó không có gì phía sau nó hay phía trước nó. Nó là
cái năng lực đó mà tâm niệm không thể chạm xúc được.
Tư tưởng là cái hư hỏng, bởi vì nó là sản phẩm của
hôm qua; nó bị bắt trong cái lưới của hàng thế kỷ và
do vậy nó hỗn loạn, không minh bạch. Hãy làm những gì bạn
sẽ làm, cái đã biết không có thể vươn tới được cái
chưa biết. Thiền định là sự hấp hối của cái đã biết.
***
Thiền
định của một tâm đã hoàn toàn vắng lặng là ân sủng
mà con người từng tìm kiếm. Trong vắng lặng này, từng phẩm
chất của vắng lặng hiện hữu.
***
Một
khi bạn đã đặt nền tảng cho đức hạnh, cái mà là trật
tự trong quan hệ, thì sẽ hiện ra phẩm chất này của tình
yêu và của sự đang chết, cái mà là toàn bộ đời sống;
rồi thì tâm trở thành vắng lặng dị thường, vắng lặng
một cách tự nhiên, không phải bị làm cho thành vắng lặng
xuyên qua những trấn áp, kỷ luật và kiểm soát, và cái vắng
lặng đó thì phong phú vô lượng.
Vượt
qua đó, không có ngôn ngữ, không có diễn tả nào có thể
khả dĩ. Lúc đó tâm không khảo sát cái tuyệt đối, bởi
vì nó không có nhu cầu nào nữa, bởi vì trong cái vắng lặng
đó thì có cái mà nó là. Và toàn bộ cái này là ân sủng
của thiền định.
***
Sau
những trận mưa, những ngọn đồi đẹp dị thường. Chúng
vẫn còn nâu với nắng hè, và chẳng bao lâu tất cả những
thứ xanh tươi sẽ hiện ra. Trời đã mưa quá nặng nề, và
vẻ đẹp của những ngọn đồi đó thì không có thể mô
tả được. Bầu trời vẫn còn mây và trong không khí có mùi
dâu, bạc hà và khuynh diệp. Thật tuyệt đẹp để hiện hữu
giữa chúng, và một niềm vắng lặng kỳ lạ chiếm lấy bạn.
Không như biển nằm xa dưới kia, những ngọn đồi thì hoàn
toàn tĩnh lặng. Khi bạn nhìn ngắm và dòm chung quanh bạn,
bạn đã rời mọi thứ dưới kia trong ngôi nhà nhỏ—quần
áo bạn, tâm niệm bạn và những cách sống kỳ dị của đời
sống. Nơi đây bạn đang đi rất nhẹ nhàng, không một tâm
niệm nào, không bất kỳ gánh nặng nào, và với một cảm
xúc về vẻ đẹp và trống không hoàn toàn. Những bụi rậm
xanh nhỏ chẳng bao lâu sẽ xanh thêm, và trong vài tuần chúng
sẽ có mùi hương mạnh mẽ hơn. Những con chim cút đang gọi
và vài con trong chúng bay qua. Không biết tới nó, tâm ở trong
một trạng thái thiền định trong đó tình yêu đang nở hoa.
Sau hết, chỉ ở trong mảnh đất thiền định hoa này mới
có thể nở ra. Nó thì hoàn toàn tuyệt diệu, và một cách
kỳ lạ, tất cả trong đêm thúc giục bạn, và khi bạn tỉnh
dậy, lâu trước khi mặt trời lên, nó vẫn còn ở đó trong
tim bạn với niềm hân hoan dị thường, không vì bất cứ
lý do nào cả. Nó ở đó, không nguyên nhân, và say sưa. Nó
sẽ hiện hữu ở đó suốt cả ngày mà không cần bạn tìm
tòi hay mời gọi nó ở lại với bạn.
***
Nơi
đó trên mái hiên thơm, khi bình minh vẫn còn thật xa và cây
cối vẫn còn tĩnh lặng, cái gì là cốt tủy thì là vẻ đẹp.
Nhưng cái cốt tủy thì không có thể kinh nghiệm được; kinh
nghiệm phải chết đi, bởi vì kinh nghiệm chỉ làm mạnh thêm
cái đã biết. Cái đã biết thì không bao giờ là cái cốt
tủy (tánh).
Thiền
định không bao giờ là kinh nghiệm xa hơn; nó không chỉ là
việc chấm dứt kinh nghiệm, cái kinh nghiệm là đáp ứng của
thách thức, lớn hay nhỏ, nhưng nó là việc mở cửa cho yếu
tánh, mở cửa cho một lò sưởi mà ngọn lửa của nó đốt
cháy hoàn toàn, không để lại bất kỳ tro bụi nào; không
có chút gì còn lại. Chúng ta là những cái còn lại, những
người nói vâng của nhiều ngàn ngày hôm qua, một chuỗi liên
tục của trí nhớ, của chọn lựa và tuyệt vọng. Cái tôi
lớn và cái tôi nhỏ là khuôn mẫu của hiện hữu, và hiện
hữu là tư tưởng, và tư tưởng là hiện hữu, với nỗi
buồn không bao giờ chấm dứt.
Trong
ngọn lửa của thiền định, tư tưởng chấm dứt và cùng
với nó là cảm xúc, bởi vì không có cái nào là tình yêu.
Không tình yêu, không có yếu tánh; không có nó, chỉ có tro
bụi trên đó dựa vào hiện hữu của chúng ta. Từ tánh không,
tình yêu hiện hữu.
***
Thiền
định là hành động của vắng lặng.
***
Thiền
định không có khởi đầu và không có điểm chấm dứt, trong
nó không có thành đạt và không có thất bại, không có gom
góp và không có loại bỏ; nó là một chuyển động không
có tận cùng và do vậy, vượt ra và ở trên thời gian và
không gian. Kinh nghiệm nó tức là chối bỏ nó, bởi vì người
kinh nghiệm bị buộc vào thời gian và không gian, trí nhớ
và nhận thức. Nền tảng của thiền định chân thực là
cái nhận biết thụ động, cái tự do toàn diện ra khỏi thẩm
quyền và khát vọng, ghen tị và sợ hãi. Thiền định không
có ý nghĩa, không bất kỳ ý nghĩa nào hết mà không có tự
do này, không có tự biết; khi còn có lựa chọn thì còn chưa
tự biết. Lựa chọn đưa tới tranh chấp, cái ngăn cản sự
hiểu biết về cái đang là. Lang thang vào một số huyễn tưởng,
vào một số niềm tin lãng mạn, thì không là thiền định;
não bộ phải tự gột rửa tất cả huyền thoại, ảo vọng
và an toàn, và đối diện cái thực tại của sai trái của
nó. Không có loạn tâm; mọi thứ thì trong chuyển động của
thiền định. Cánh hoa là hình thức, mùi hương, màu sắc và
vẻ đẹp đó là cái toàn bộ của nó. Xé nó ra từng mảnh,
trong thực tại hay bằng ngôn ngữ, rồi thì không còn là hoa,
chỉ là tưởng nhớ về cái đã là, cái mà không bao giờ
là hoa. Thiền định là toàn cánh hoa trong cái đang sống động,
đang tàn đi, và vẻ đẹp của nó.
***
Thiền
định là tự do xa lìa mọi niệm, và là một chuyển động
trong cái hân hoan an lạc của sự thật.
***
Trời
vắng lặng lúc sáng sớm, và không một cánh chim hay chiếc
lá nào quấy động. Thiền định, cái khởi đầu từ những
chiều sâu không biết, và tiếp tục với độ dầy đặc thêm,
và quét đi, gọt bộ óc vào trong cái vắng lặng hoàn toàn,
đào ra những chiều sâu tâm niệm, bứng nhổ gốc rễ cảm
xúc, làm trống vắng não bộ của cái đã biết và cái nông
cạn của nó. Nó là một cuộc giải phẫu mà không có người
điều hành, không có bác sĩ giải phẫu; nó đang tiếp diễn,
như một bác sĩ giải phẫu mổ bệnh ung thư, cắt đi từng
sớ thịt nhiễm ô, nếu không thì sự nhiễm ô lại lan tràn.
Nó đang tiếp diễn, thiền định này, trong một giờ đồng
hồ bởi nhìn ngắm. Và nó là thiền định mà không có người
thiền định. Người thiền định can thiệp với cái vô dụng
và ngốc nghếch của nó, tham vọng và thèm khát. Người thiền
định là tư tưởng, được nuôi dưỡng bởi những tranh chấp
và thương tích, và tư tưởng (tâm niệm) trong thiền định
phải hoàn toàn ngưng lại. Đó là nền tảng của thiền định.
***
Thiền
định là siêu vượt thời gian. Thời gian là khoảng cách mà
tư tưởng du hàng trong những thành tựu của nó. Du hành thì
luôn luôn dọc theo con đường cũ được che phủ với lớp
vỏ mới, cảnh trí mới, nhưng luôn luôn là cùng con đường,
không dẫn tới đâu—chỉ trừ tới đau khổ và buồn phiền.
Chỉ
khi tâm siêu vượt thời gian, thì sự thật mới ngưng là một
điều trừu tượng. Lúc đó an lạc hân hoan không phải là
một ý tưởng dẫn tới từ niềm vui, nhưng là một thực
tại không bằng ngôn ngữ.
Làm
cho trống vắng cái tâm thời gian là cái vắng lặng của sự
thật, và nhìn thấy nó chính là đang làm (như vậy); do vậy
không có ngăn cách giữa cái thấy và cái làm. Trong khoảng
cách giữa thấy và làm là những sinh khởi của mâu thuẫn,
đau khổ và hỗn loạn. Cái không có thời gian là cái vô tận.
***
Bình
minh đến chậm; các vì sao vẫn sáng và cây cối còn thu mình;
không chim nào đang gọi, không ngay cả những con cú nhỏ đã
cứ rúc rích cả đêm từ cây này tới cây kia. Nó là cái
vắng lặng kỳ lạ, chỉ trừ tiếng rì rào của biển. Có
mùi hương đó của hoa, lá úa và mặt đất ướt; không khí
thì rất là, rất là tĩnh lặng, và mùi hương ở khắp mọi
nơi. Mặt đất đang chờ bình minh và ngày sắp tới; có mong
đợi, kiên nhẫn và một sự vắng lặng kỳ lạ. Thiền định
tiếp diễn với cái vắng lặng đó và cái vắng lặng đó
là tình yêu; nó không phải là tình yêu một vật hay một
người nào, uy tín hay biểu tượng, ngôn ngữ và hình ảnh.
Nó một cách đơn giản là tình yêu, không niềm tin, không
cảm xúc. Nó là cái gì đã tự hoàn hoàn trong chính nó, trần
trụi, dầy đặc, không cội rễ và phương hướng. Âm thanh
của con chim thật xa kia là tình yêu; nó là phương hướng
và khoảng cách; nó ở đó ngoài cả ngôn ngữ và thời gian.
Nó không phải là một sự xúc động, cái tan đi và thô bạo;
biểu tượng, ngôn ngữ có thể được thay thế, nhưng không
phải là vật. Trần trụi, nó hoàn toàn mong manh và do vậy
không có thể bị phá hủy. Nó có sức mạnh không có thể
tìm tới của cái khác đó, cái không thể biết, cái đang
đến xuyên qua cây cối và vượt xa cả biển. Thiền định
là tiếng chim gọi lên từ tánh không và tiếng gầm rú của
biển, đang ầm ầm đánh vào bờ. Tình yêu chỉ có thể ở
trong cái hoàn toàn trống vắng. Bình minh xám đang ở xa tận
chân tời, và những cây sậm tối thì còn sậm và dầy đặc
hơn. Trong thiền định, không có sự lập lại, một tiếp
diễn của thói quen; có cái chết của mọi thứ đã biết
và cái nở hoa của cái chưa biết. Những vì sao đã biến
dạng và những đám mây đã thức dậy với mặt trời đang
tới.
***
Thiền
định là trạng thái của tâm nhìn vào tất cả mọi thứ
với sự chăm chú toàn diện, toàn bộ, không chỉ những phần
của nó.
***
Thiền
định là sự hủy diệt cái an toàn, và có vẻ đẹp lớn
lao trong thiền định, không phải vẻ đẹp của những vật
được ráp vào nhau bởi con người hay thiên nhiên, nhưng là
của sự vắng lặng. Sự vắng lặng này là cái trống vắng,
trong đó và từ đó mọi thứ trôi chảy và hiện hữu. Nó
là cái không có thể biết; thông minh và cảm xúc không có
thể mở đường tới nó; không có con đường nào dẫn tới
nó (thiền định) và một phương pháp tìm tới nó chỉ là
phát minh của một bộ óc tham lam. Tất cả những con đường
và phương tiện của việc tính toán tự ngã phải bị phá
hủy toàn bộ; tất cả việc đi tới hay đi lùi, kiểu cách
của thời gian, phải chấm dứt, không có ngày mai. Thiền định
là sự hủy diệt; nó là sự hiểm nguy cho những người muốn
sống một cuộc đời mặt ngoài và một đời sống của huyễn
vọng và huyền thoại.
***
Cái
chết mà thiền định mang tới chính là cái bất tử của
cái mới lạ.
***
Đây
là cái gì kinh ngạc hơn nếu bạn gặp nó. Tôi có thể đi
vào nó, nhưng sự mô tả không phải là cái được mô tả.
Bạn phải nhận biết toàn bộ về nó bằng cách nhìn vào
chính bạn—không sách vở, không vị thầy nào có thể dạy
bạn điều này. Đừng dựa vào bất kỳ ai, đừng tham dự
các tổ chức tinh thần; bạn phải học biết tất cả điều
này từ chính bạn. Và nơi đó tâm sẽ khám phá ra những việc
cực kỳ dị thường. Nhưng để như vậy, sẽ phải không
có phần mảnh manh mún nào, và từ đó là chuyển động, là
nhanh chóng, là ổn định dầy đặc. Đối với một tâm như
vậy, không có thời gian, và do vậy cuộc sống có một ý
nghĩa hoàn toàn khác
