Tông
Chỉ Thiền
Ðại
Thủ Ấn
Tín
Tâm minh
Chương
4
GIẢI
TÍN TÂM MINH
Bài
này được viết để chú giải tác phẩm Tín Tâm Minh của
Tam Tổ Tăng Xán. Nếu có lời chưa khế hiệp xin trọn sám
hối trước ba đời chư Phật, nếu có chút gì công đức
xin hồi hướng đến khắp pháp giới chúng sanh đồng thành
Phật đạo.
Tác
phẩm Tín Tâm Minh được viết vào thời kỳ Thiền Đốn Ngộ
chưa phân thành năm nhà bảy phái. Năm nhà, tức ngũ gia, là
Vân Môn, Quy Ngưỡng, Pháp Nhãn, Tào Động và Lâm Tế. Hai
chi nhánh từ dòng Lâm Tế được cộng thêm vào để gọi
là bảy phái, hay thất phái, là Dương Kỳ và Hoàng Long. Ngày
hôm nay, chỉ còn hai dòng lưu truyền là Lâm Tế và Tào Động,
các dòng khác đều bị mất truyền. Dòng Vân Môn bị mất
truyền sớm nhất, chưa đầy hai thế kỷ, do vì tông phong
vi diệu, không chỗ cho học nhân bám víu, nên chư Tăng đương
thời đều gọi dòng này là vương giả chi pháp. Các phương
pháp truyền dạy Thiền còn lưu truyền tới nay được xuất
phát và sử dụng từ hai dòng Lâm Tế và Tào Động là khán
công án (hoặc tham thoại đầu) và mặc chiếu.
Như
vậy, vấn đề phải đặt ra là, trước thời kỳ có phương
pháp dạy Thiền của năm nhà bảy phái, chư Tổ đã dạy Thiền
như thế nào? Tín Tâm Minh là bản văn về Thiền được viết
ở thời kỳ việc dạy Thiền hoàn toàn không nương tựa bất
kỳ một phương pháp hay kỹ thuật nào hết. Và lời lời
đều nêu lên tông chỉ Thiền.
Như
thế nào để nắm được tông chỉ Thiền trong Tín Tâm Minh?
Có
hai cách để nghĩ tới. Cách thứ nhất là đi thẳng vào Tín
Tâm Minh để nắm tông chỉ Thiền, hoàn toàn không nương tựa
vào bất kỳ một pháp thoại nào của đời sau. Cách này có
ưu điểm là người đọc sẽ có cảm giác như đang đối
thoại với Ngài Tăng Xán, lời lời đều có thể hiện lên
một cách tươi mới, như khi Ngài đang nói với học trò. Đó
chỉ là trong trường hợp bản chú giải này thành công. Điều
này gần như không thể xảy ra. Vì như vậy thì tất cả chúng
ta đều phải dùng ngôn phong của thời kỳ đó, với người
có thể thấu triệt được thì thật sự là sảng khoái, nhưng
có thể sẽ làm tối nghĩa thêm những lời vốn đã khó thấu
triệt.
Cách
thứ hai là nắm tông chỉ Thiền trước, rồi mới vào Tín
Tâm Minh sau. Cách này thì lại trái ý Ngài Tăng Xán, vì có
thể tin rằng, Ngài viết Tín Tâm Minh là nhắm vào những người
chưa nắm được tông chỉ Thiền, và cũng hoàn toàn chưa nghe
được những pháp thoại của đời sau. Tuy nhiên, cách này
cực kỳ tiện lợi vì ta có thể vào được Tín Tâm Minh thông
qua tông chỉ Thiền bằng nhiều cách khác nhau. Bản chú giải
này sẽ dùng phương pháp thứ nhì này và dùng mọi lời đơn
giản để làm cho bản văn thật sự rõ ràng dễ hiểu. Những
chỗ quan trọng hoặc khó hiểu, sẽ được giải bằng nhiều
cách khác nhau và bằng nhiều pháp thoại khác nhau. Những cảnh
giới của pháp định này, hoặc các trạng thái của Tâm,
mà không dùng ngôn ngữ văn tự diễn tả cho minh bạch được,
sẽ được lập đi lập lại trong các mạch văn khác nhau.
Như
vậy, bố cục của bản chú giải này sẽ, trước là nêu
lên tông chỉ Thiền, lược sơ về các khuynh hướng Thiền
Đốn Ngộ còn lưu truyền hiện nay, sau sẽ đi vào Tín Tâm
Minh.
TÔNG
CHỈ THIỀN
Chư
Tổ ở Trung Hoa thường dùng cách phân loại Thiền làm hai:
Như Lai Thiền và Tổ Sư Thiền. Như Lai Thiền là pháp môn
Thiền do Phật dạy lưu truyền trong Kinh điển. Tổ Sư Thiền,
hay Đốn Ngộ Thiền, là pháp môn Thiền do Phật dạy truyền
qua chư Tổ không qua ngôn ngữ văn tự, ở ngoài giáo điển.
Như
Lai Thiền chia làm hai bộ chính: Thiền Tiểu Thừa và Thiền
Đại Thừa.
Thiền
Tiểu Thừa dựa trên nguyên tắc đối trị, lấy Trí Huệ
chiếu phá phiền não, thấy có Niết Bàn để mong cầu, thấy
có vô minh để đoạn lìa.
Thiền
Đại Thừa dựa trên nguyên tắc chuyển y, chuyển vọng thành
chơn, chuyển phiền não thành Niết Bàn, chuyển vô minh thành
Trí huệ.
Tổ
Sư Thiền hoàn toàn không dựa trên nguyên tắc hoặc pháp tu
nào hết. Vấn đề chỉ là, thấy Tánh thì thành Phật. Tông
chỉ có thể tóm gọn vào một lời đề nghị như sau, "phiền
não với Niết Bàn cũng chưa từng mộng qua, vọng với chơn
đều không lập, thì còn có một pháp nào để tu nữa."
Tông
chỉ này được nêu lên rõ ràng qua hai câu kệ của Ngài Tông
Diễn, Tổ thứ nhì của Tào Động Việt Nam:
Hữu
vô câu bất lập
Nhật
cảnh bổn đương bô.
(Hữu
với vô đều không lập
Thì
mặt trời Huệ sẽ lên cao).
Theo
đúng tông chỉ thì phải là hoàn toàn không có pháp nào để
tu hết. Cho nên còn được chư Tổ gọi đây là cửa không
cửa, hoặc không một chỗ hạ thủ, không một nơi ra sức.
Tất cả những phương pháp của đời sau đều chỉ là viên
gạch dộng cửa.
Chư
Tổ ở Tây Tạng lại chia Phật Giáo làm ba thừa: Tiểu Thừa
(Hinayana), Đại Thừa (Mahayana) và Kim Cang Thừa (Varayana). Kim
Cang Thừa có khi còn được gọi là Mật bộ (Tantrism). Thiền
Đốn Ngộ bên Tây Tạng thuộc về phần Vô Tướng Mật Tông
(formless Tantrism), gọi tên là Đại Thủ Ấn dịch nghĩa từ
chữ Mahamudra, hay pháp môn khác gọi là Dzogchen, được dịch
nghĩa là Đại Toàn Thiện theo các sư Chùa Tây Tạng, Bình
Dương.
Cách
truyền dạy trước thời kỳ được sắp xếp thành thứ lớp
vẫn là chỉ thẳng Tánh của Tâm, vào nơi đó mà bảo nhậm.
Nói theo kinh Tứ Thập Nhị Chương thì chỗ này là, tu vô-tu
tu, niệm vô-niệm niệm, hành vô-hành hành. Ý là, tu cái không-tu
mà tu, niệm cái không-niệm mà niệm, làm cái không-làm mà
làm. Vốn thật hoàn toàn không có một pháp nào hết. Thấy
có một pháp nào hoặc một nỗ lực nào đều là sai.
Trong
truyền thống không có một pháp nào để trao cho người, dưới
đây là bản văn Đại Thủ Ấn do Đạo Sư Tilopa truyền dạy
cho Ngài Naropa, Ngài Naropa truyền dạy lại cho Ngài Đại Dịch
Giả Marpa (1012-1096), Ngài Marpa dạy lại cho Ngài Milarepa (1053-1135).
Đối chiếu bản văn này với pháp mặc chiếu của dòng Tào
Động, ta thấy hoàn toàn không có gì sai khác cả. Bản Việt
dịch dưới đây được trích từ trong bản thảo sách chưa
ấn hành của Đại Đức Phụng Sơn, pháp từ Tào Động Nhật
Bản, đang hoằng pháp tại California. Nhân đây, cũng xin cảm
ơn nhã ý của Đại Đức đã cho phép trích đăng vào đây.
ĐẠI
THỦ ẤN VĂN
Đại
Thủ Ấn vượt ra ngoài ngôn ngữ và ký hiệu
Nay
ta truyền cho con Naropa
Kẻ
đã nỗ lực tu hành và đầy lòng trung hậu.
Tánh
không cần điểm tựa
Đại
Thủ Ấn cũng không nương tựa vào đâu cả
Không
cần một chút cố gắng nào
Ta
chỉ để tâm buông xả tự nhiên và thong dong
Thì
ta có thể đập tan xiềng xích và trói buộc
Để
đạt đến chốn tự do vô cùng.
Nếu
khi nhìn vào không-gian mà không thấy gì cả
Và
nếu với Tâm mà quan sát tâm
Thì
tâm phân biệt bị tiêu tan
Và
ta đạt ngay đến Phật quả.
Các
đám mây lang thang trên bầu trời
Không
có rễ, không nơi trú ngụ
Các
ý tưởng phân biệt cũng thế
Khi
chúng nổi trôi trong tâm chúng ta
Khi
đã thấy được tự tánh của mình
Thì
mọi sự phân biệt đều tự nó chấm dứt.
Trong
không gian các hình thù và màu sắc xuất hiện
Nhưng
chẳng vật gì làm vẩn đục được không gian
Từ
tự tánh mọi thứ xuất hiện
Nhưng
đức hạnh và tội lỗi không làm nó ô nhiễm
Bức
màn đen tối của muôn thế kỷ
Không
thể che nổi ánh sáng mặt trời
Thời
gian dài vô cùng của luân hồi
Không
thể ngăn-chặn ánh sáng chiếu diệu của Tâm
Dù
có dùng ngôn-ngữ mà giải thích về tánh Không
Thì
cái không ấy cũng không diễn tả được
Dù
nói rằng tâm chiếu sáng một cách huyền diệu
Thì
chân lý ấy vượt ra ngoài mọi ngôn ngữ
Dù
bản chất của tâm là trống rỗng
Nhưng
có chứa đựng và bao trùm mọi vật
Để
thâm nhập vào chân lý uyên áo đó
Đừng
để thân phải thực hành pháp môn nào
Hãy
câm nín và im lặng
Tâm
tự rũ sạch tất cả và không nghĩ đến gì cả
Như
một cành trúc rỗng lòng, thân thể an nghỉ như thế đó.
Đừng
cho gì cả và cũng đừng nhận gì cả
Hãy
để cho tâm an nhiên tự tại
Đại
Thủ Ấn là tâm chẳng vướng mắc vào điều gì
Và
nếu thực hành như thế ta sẽ đạt được Phật quả.
Việc
trì chú và thực hành lục độ Ba La Mật
Học
kinh và trì giới
Cùng
các lời giảng dạy trong thánh điển
Sẽ
không mang lại chân lý ẩn tàng
Vì
lúc tâm tràn đầy sự ham muốn đạt được một kết quả
nào đó
Cho
dù cho là muốn giác ngộ
Thì
cũng ngăn trở ánh sáng chiếu diệu từ tâm.
Kẻ
nào trì giới nhưng câu chấp
Thì
đã phản bội lại con đường tu hành
Hãy
chấm dứt tất cả mọi hoạt động vô ích và buông bỏ mọi
dục cầu
Và
để cho ý tưởng mặc tình đến và đi
Như
các luồng sóng biển dâng lên rồi hạ xuống
Kẻ
nào không để tâm mình dính mắc hay phân biệt thị phi
Đó
chính là kẻ hành trì Mật Giới.
Kẻ
nào đã buông bỏ sự ham muốn và không còn bám víu vào đâu
Thì
thấy được ý nghĩa đích thực của kinh điển
Trong
Đại Thủ Ấn, chúng ta được giải phóng
Khỏi
ngục tù của thế gian này
Đó
là ngọn Pháp Đăng tối thượng
Mà
kẻ nào không tin tưởng là kẻ dại khờ
Và
luôn luôn phải ngậm nhấm sự đớn đau khốn khổ.
Trên
con đường giải phóng mình ra khỏi phiền não
Hãy
nương tựa vào bậc Đạo Sư
Và
khi được ân điển của ngài
Thì
con đường giải phóng đã bắt đầu.
Mọi
thứ trên cuộc đời này thật vô nghĩa
Chỉ
là những hạt giống phiền muộn
Các
lời dạy hẹp hòi chỉ đưa đến việc thực hiện các điều
nhỏ bé
Chúng
ta hãy noi theo lời hướng dẫn của Bậc Đại Giác Ngộ
Mà
thực hành cái thấy của bậc Nhân Vương là siêu lên sự
đối đãi
Và
tinh tấn trong sự tỉnh thức
Con
đường vô hành là con đường của chư Phật
Và
kẻ nào nương theo thì đạt được Phật Quả.
Thế
giới vô thường này như ảo ảnh, như mộng huyễn, thể tánh
nó không thật có
Hãy
lìa xa mọi sự trìu mến và cắt đứt mọi sự ràng buộc
của ghét thương
Mà
thực hành thiền quán nơi chỗ yên tĩnh vắng lặng
Nếu
ta ở trong trạng thái tự nhiên an tĩnh
Mà
không cần có một chút nỗ lực nào
Thì
ta chứng được Đại Thủ Ấn
Và
đạt được cái không nắm bắt được.
Đừng
cho gì mà cũng đừng nhận gì cả
Mà
chỉ cần an nhiên tự tại
Vì
Đại Thủ Ấn vượt qua tất cả mọi chấp nhận hay khước
từ
Vì
A Lại Gia Thức là vô sinh
Nên
không thể bị ngăn che hay làm nhơ bẩn
Nếu
ta an trú trong chốn vô sinh
Thì
tất cả mọi sắc tướng đều tan vào Pháp Giới
Và
những ham muốn cùng lòng kiêu hãnh
Cũng
tan biến vào chốn hư vô
Khi
rễ cây bị cắt đi thì lá cây tàn úa
Khi
cắt rễ vọng tâm thì luân hồi cũng rơi rụng
Khi
thắp ngọn đèn thì ánh sáng làm tan biến ngay bóng đêm trong
muôn vàn kiếp
Sức
mạnh của tâm giác ngộ chỉ lóe lên là tiêu hủy bức màn
vô minh.
Kẻ
nào còn dính mắc vào tâm
Thì
không hiểu được chân lý
Vượt
qua bên kia thế giới của tâm
Kẻ
nào có ý nỗ lực tu tập thì không thấy được chân lý vượt
ngoài sự tu tập.
Để
biết được cái chân lý vượt ngoài vọng tâm và sự tu trì
theo pháp môn nhỏ
Ta
phải chặt đứt mọi dây mơ rễ má của tâm
Để
nhìn thấy sự vật bằng cặp mắt trần
Nhờ
đó mà có thể vượt thoát khỏi mọi sự phân biệt hầu
có được sự an nhiên tự tại.
Cái
hiểu biết tối thượng vượt lên mọi sự đối đãi
Hành
vi tối thượng bao trùm mọi thứ mà không dính mắc
Sự
đắc quả tối thượng
Là
thể hiện sự huyền diệu mà không có một chút mong cầu
Khi
mới thực hành tu tập
Hành
giả thấy tâm vang động như ngọn thác đổ
Nơi
giữa dòng, như dòng sông Hằng Hà, nó tiếp tục chảy chậm
lại và trở nên êm dịu
Và
cuối cùng tâm là đại dương bao la
Nơi
đó ánh sáng mẹ và con hợp thành một.
Cốt
tủy của Đại Thủ Ấn và Mặc Chiếu Thiền chính là hoàn
toàn không có một nỗ lực nào cả, cứ theo dòng nhận được
Tánh, thấy Tánh thì cứ an nhiên tự tại mà vui chơi. Pháp
Mặc Chiếu Thiền đã được trình bày đầy đủ trong bài
"Thói Nhà Tào Động" nên sẽ không nói thêm ở đây.
Có
một vấn đề thường được người học Thiền quan tâm là
phương pháp tham công án của dòng Lâm Tế. Làm thế nào những
câu nói bí hiểm hoặc những cử chỉ đánh, đập, la hét
lại có thể khai ngộ cho học trò được? Làm thế nào một
phương pháp đòi nhiều nỗ lực và ý chí lại có thể đưa
tới cảnh giới xa lìa mọi nỗ lực và ý chí, an nhiên tự
tại? Trước khi lược giải phương pháp tham công án, chúng
ta nên trở ngược về những lời khai thị phương tiện của
chư Tổ ở các đời trước. Bởi vì 1700 công án, hay còn
gọi là các pháp án hay pháp thoại do đời sau lựa chọn sắp
xếp, đều có liên hệ với các lời khai thị phương tiện.
Nhưng những lời hay cử chỉ của các Thiền Sư đời sau thường
mang tính bí hiểm hơn, mục đích để diễn bày lời cứu
cánh. Đặc biệt là với các Thiền Sư uyên bác các môn học
của bách gia chư tử và văn chương lỗi lạc thì lại thích
dùng nhiều ẩn dụ văn học. Điều này đã làm cho điều
đã bí ẩn lại càng thêm bí ẩn, gây thêm khó khăn cho Thiền
sinh. Người đương thời được trưởng thành chung trong một
truyền thống văn học với các sư tất nhiên là nhận được
dễ hơn là các người đời sau. Còn đối với người được
trưởng thành trong văn học Tây phương như hầu hết chúng
ta thì lại càng khó bội phần.
Cách
diễn bày bằng ẩn dụ văn học có thể tìm thấy trong các
thí dụ sau:
Ngài
Hương Nghiêm nói:
"Năm
ngoái nghèo mà không thật là nghèo,
Năm
nay nghèo mới thật là nghèo,
Năm
ngoái nghèo không có một mảnh đất (Tâm) để cắm dùi (pháp
an tâm),
Năm
nay nghèo dùi cũng không còn".
Trong
pháp thoại này, nghèo ví cho vô tâm, đất chỉ cho Tâm, dùi
chỉ cho pháp an tâm. Nếu không đủ một số vốn tương đối
về văn học Trung hoa thời kỳ đó, chúng ta không cách chi
hội được pháp thoại này. Dù vậy, đó vẫn chưa là lời
cứu cánh.
Thí
dụ khác có thể tìm được với cách ẩn dụ bí ẩn hơn
như, sáo không lỗ và đàn không dây. Một kẻ đã đại ngộ
phải nghe được và chơi được sáo không lỗ và đàn không
dây. Âm thanh của sáo có lỗ và đàn có giây là âm thanh do
nhân duyên tạo nên, thuộc pháp sinh diệt, tức pháp có sinh
có diệt. Âm thanh của sáo không lỗ và đàn không dây không
do nhân duyên tạo nên, thuộc pháp không sinh không diệt, gọi
tắt là pháp vô sinh diệt. Có thể thấy, ngay cả người uyên
bác về văn học Trung Hoa cũng chưa chắc nắm được ẩn dụ
này. Thực sự Thiền chính tông không cần tới cái cách ẩn
dụ văn học phức tạp như vậy. Nhưng vì lời cứu cánh không
dùng được bằng ngôn ngữ văn tự, nên các sư mới dùng
nhiều cách bí ẩn, vừa để khai thị lời cứu cánh, vừa
để chặn đứng những hiểu lầm của học trò về các lời
phương tiện.
Chỗ
này, có Sư nói: "Nếu ta nói ra lời tột cùng Tông chỉ thì
nhà sẽ không dân." Nhà đây là nhà Tổ. Nghĩa là, nếu Ngài
nói ra lời tột cùng Tông chỉ ấy, thì sẽ không có học
trò nào vào nhà Tổ nổi. Trong truyền thống dạy Thiền, các
Sư thường thích dùng sách Vô Môn Quan của Ngài Vô Môn Huệ
Khai hơn là dùng sách Bích Nham Lục của Ngài Tuyết Đậu.
Bởi vì, rất đơn giản, Ngài Tuyết Đậu giỏi văn chương
quá, chỉ gây rắc rối thêm cho học trò. Trong khi đó, Vô
Môn Quan trực tiếp hơn, đơn sơ hơn, ít ẩn dụ văn học
hơn, và vì vậy cũng mãnh liệt hơn.
Các
lời khai thị phương tiện thì rất nhiều. Chúng ta có thể
lược sơ một số lời có tính phổ biến ở đây.
Lời
đầu tiên thường gặp nhất là các lời về vô tâm. Vô tâm
nghĩa là sống với cái không-một-hiện-tướng của tâm. Tổ
Sư Bồ Đề Đạt Ma viết Vô Tâm Luận. Có Sư nói, Vô tâm
thị đạo, vô tâm tức là đạo vậy. Nhưng Tổ Trần Nhân
Tông lại nói, vô tâm do cách nhất trùng quan, vô tâm vẫn
còn cách cả một ải quan với giác ngộ vậy. Bởi vì đây
vẫn là lời phương tiện nên nói xuôi cũng đúng, mà nói
ngược cũng đúng. Người sống được với vô tâm là sống
được với Thể Tánh của Tâm, trong khi đó các Tâm Phật,
Ma, Thiện, Ác, Lành, Dữ... chỉ là các hiện tướng của Tâm
cũng như mây khởi trong bầu trời, như sóng dậy trên mặt
nước, mà hư không với chất nước, tức là Tánh của Tâm,
vẫn hằng bất động an nhiên. Lời này chỉ cách vào Thể
của Tâm.
Có
một lời chỉ vào Dụng của Tâm là, bình thường tâm thị
đạo. Lời này phức tạp hơn lời trên. Ý là, tâm bình thường,
hay tâm hằng ngày, hay tâm hồn nhiên thoải mái thì là thuận
Đạo vậy. Bình thường tâm ý là, tâm có vô tâm (tức không
một hiện tướng của tâm) thì cũng mặc kệ, cứ hồn nhiên
thuận Tánh mà vui chơi thôi. Nhưng phải thấy là, ý này khó
thâm nhập hơn ý của "vô tâm thị đạo." Bởi vì chúng ta
chưa bao giờ thật sự là hồn nhiên hết. Chúng ta là kết
quả của vô lượng nhân gieo saün từ kiếp trước, là trưởng
thành từ một nền văn hóa, xã hội, giáo dục, thói quen của
kiếp này, là được điều kiện hóa từ những hệ thống
mà không thể biết hết được. Dù có nói là giải trừ kiến
thức hay xóa bỏ ký ức như Krishnamurti thì chắc gì đã là
hồn nhiên, chắc gì ngôn ngữ và hành động của chúng ta
thật sự xuất phát từ diệu dụng của Tánh Bổn Nhiên Tịch
Chiếu. Hồn nhiên không có nghĩa là thích uống rượu thì
đi quán, thích nhảy đầm thì đi vũ trường, vân vân. Không
thấu được nghĩa này thì các hành động cũng chỉ là do
vô minh vậy, mặc dù chuyện uống rượu với nhảy đầm hoàn
toàn không quan hệ với chuyện đạo hay chuyện không đạo.
Không một phen thấy được Tánh thì không bao giờ biết được
tâm hồn nhiên này là gì hết. Tới đây ta có thể thấy,
tìm lời cứu cánh thật sự là khó vậy, lời nào cũng có
thể gây hiểu lầm hết.
Lời
thứ ba thường gặp là các lời về vô niệm. Lời vô niệm
thường chỉ vào Tướng của Tâm. Vô niệm có hơi khác một
chút với vô tâm. Nghĩa khác đó là, vô tâm có thể gồm cả
niệm và vô niệm, nhưng vô niệm không thể gồm cả vô tâm
và hữu tâm. Nghĩa này thật vi tế, vì ở một vài trạng
thái, dù là niệm hay vô niệm mang nhiều tính kỹ thuật hơn
là vô tâm. Tuy vậy, đa số các Sư vẫn đồng nhất hai chữ
này, lấy nghĩa là, có tâm thì niệm khởi, vô tâm thì một
niệm cũng chẳng dấy lên.
Chúng
ta có thể lấy một thí dụ cho rõ ràng hơn về cách dùng
hai nghĩa này. Vô Tâm có thể ví như Tánh của nước. Niệm
ví như mặt nước dậy sóng. Vô Niệm ví như mặt nước không
dậy sóng. Như vậy, Niệm với Vô Niệm có khi chính là Hữu
Tâm, và cũng có khi cũng chính là Vô Tâm. Do vậy, dùng chữ
Vô Niệm tiện lợi hơn, vì đối với người chưa thực sự
Ngộ thì có thể nhận ra được, nhìn thấy được Niệm với
vô niệm (tức sóng và không sóng) chứ chưa thể nhìn thấy
được Vô Tâm (tức Tánh nước của sóng). Nếu người đọc
thấy sự phân biệt Vô Tâm với Vô Niệm khá phức tạp thì
có thể đồng nhất hai nghĩa này cũng được. Chữ nào cũng
là đại phương tiện cả. Tới khi vào được đất thật,
rồi mới biết là lời nào cũng vẫn còn xa đạo vậy.
Có
thể tìm thêm một thí dụ thứ nhì cho rõ nghĩa này hơn, bằng
cách mượn lời của một vị Đại Giác Ngộ ở thế kỷ
20 này. Krishnamurti, trong các sách cuối đời ông, thường khảo
sát về tiến trình hình thành các niệm (thought) và đề nghị
những người tin ông sống với cảnh giới của Vô Tâm (vacant
mind). Đây cũng chính là lời đại phương tiện của Đốn
Ngộ Thiền vậy.
Khi
còn ở Việt Nam, lúc tôi chưa hiểu lời của Thầy tôi, thì
Sư thúc tôi là Ngài Thường Chiếu có cho cây gậy đi đường
là, cứ niệm vô-niệm thì kiếp này thế nào cũng tới. Lời
này tiện lợi hơn lời vô-niệm mà cũng không hoàn toàn là
vô-niệm. Với thời gian thì sẽ thấy được cái không dùng
lời diễn tả đó vậy. Bởi vì định nghĩa vô niệm theo
Ngài Thần Hội là: "Vô niệm là không niệm hữu và vô, không
niệm thiện và ác, không niệm cùng và vô cùng, không niệm
cân lường, không niệm Bồ Đề (giác), không hệ niệm nơi
Bồ Đề, không niệm Niết Bàn, không hệ niệm nơi Niết Bàn.
Đây là chứng đạt vô niệm." Nơi khác, Ngài tiếp: "Các thiện
tri thức, nếu có kẻ trong hàng hữu học ôm giữ một niệm
trong tâm, niệm ấy có thể dẫn tới tỏ ngộ, nhưng khi cả
đến một niệm như thế không còn khuấy động trong tâm,
tỏ ngộ cũng sẽ không còn nữa, và đấy chính là vô niệm."
Có
một lời đại phương tiện khác, trích từ Pháp Bảo Đàn
Kinh, do Lục Tổ Huệ Năng nói cho Huệ Minh lúc bị rượt đuổi
đòi y bát: "Đừng nghĩ thiện, đừng nghĩ ác, ngay khi đó
chính là khuôn mặt thật của ngươi vậy." Tổ Vô Môn Huệ
Khả phê bình chỗ này là, trong lúc quýnh quáng không kịp
gì hết, Lục Tổ đã lấy cơm tọng vào miệng Huệ Minh vậy.
Ngài Vô Môn đã nói đúng, vì đây vẫn chưa là đất thật.
Có thể chiết giải câu này như sau, nghĩ thiện nghĩ ác đương
nhiên là tâm chúng sanh, là sai rồi. Nhưng, đừng nghĩ thiện,
đừng nghĩ ác lại là Như Lai Thiền, chứ chưa là Tổ Sư
Thiền. Nếu phải trả lời một câu như vậy theo cơ phong
thì nên là, nghĩ với đừng nghĩ vẫn là mang gông đeo cổ,
mang xiềng vào chân vậy. Cho nên mới biết, lời tột cùng
tông chỉ khó dùng ngôn ngữ văn tự diễn bày.
Ngài
Đức Sơn Tuyên Giám nói: "Tâm sanh thì các pháp sanh. Nếu khéo
một niệm chẳng sanh thì hằng thoát khỏi sanh tử, chẳng
bị sanh tử trói buộc, cần đi thì đi, cần ngồi thì ngồi,
lại còn có việc gì?"
Có
thể tìm được một phản luận ở đây để làm minh bạch
hơn các nghĩa này. Trong kinh thường nói, ngoại đạo Ni kiền
tử có thể nhập định suốt tám vạn bốn ngàn kiếp mà
không sanh một niệm, nhưng vẫn không thoát khỏi sanh tử luân
hồi.
Như
vậy, câu hỏi có thể là, chỗ khác nhau của một niệm chẳng
sanh của Thiền Tông và ngoại đạo nằm chỗ nào? Trước
tiên phải giải nghĩa tám vạn bốn ngàn kiếp vừa nói. Tám
vạn bốn ngàn kiếp là tượng trưng cho tám vạn bốn ngàn
phiền não. Ta thường nghe nói, nhà Phật có tám vạn bốn
ngàn pháp môn, nói theo Tiểu thừa thì là để đối trị tám
vạn bốn ngàn phiền não, nói theo Đại thừa thì là để
chuyển y thành tám vạn bốn ngàn hương hoa trang nghiêm cõi
Phật. Ngoại đạo có thể xa lìa phiền não mà không sanh một
niệm nhờ tập định. Điều khác căn bản nhất giữa Thiền
Tông và ngoại đạo là, pháp định của Tổ Sư Thiền là
pháp vô sanh diệt, là định của Pháp Thân, không do sự tu
tập hay chứng ngộ gì mà có thể được. Chìa khóa để phân
biệt chỗ này là, không do một nỗ lực nào của Tâm mà thành
tựu.
Có
một lời đại phương tiện khác ưa được nhắc tới là,
cứ theo dòng nước mà vào. Ẩn dụ văn học này mang được
cả ba phần, Thể-Tướng- Dụng của Tâm. Nước không có hình
dạng (tức là vô tướng) gì hết, nhưng lại biến hóa thiên
hình vạn trạng. Ở bình tròn thì mang tướng tròn, bình vuông
thì mang tướng vuông, ở gộp đá xuống thì gọi là suối,
ở đồng bằng thì là sông, ở đại dương thì là biển.
Hoàn toàn không một nỗ lực nào hết, mà cứ tự nhiên thoải
mái
biến hóa tới vô cùng.
Tuy
nhiên, tất cả các lời vô tâm, bình thường tâm, vô niệm,
đừng nghĩ thiện đừng nghĩ ác, cứ theo dòng nước mà vào...
đều không nói lên được cảnh giới thật. Nếu không nắm
được vững vàng tông chỉ thì e có khi rơi vào cái ngoan không,
không sanh một niệm của ngoại đạo. Vả lại nếu Thiền
chỉ là như vậy thì dễ quá, quá dễ vậy, suốt một đời
cứ nắm một chữ trên mà giữ thôi.
Để
tránh cho học trò rơi vào nguy hiểm trên, chư Tổ khi nghe những
lời trên đều cảnh giác, ừ như vậy đó, nhưng vẫn còn
thiếu một lời. Đâu là cái lời rốt sau này, tức là tối
hậu cú đó. Hình như không thể dùng ngôn ngữ diễn bày được,
dù có hiển Tông chỉ kiểu như, phiền não với Niết Bàn
cũng chưa từng mộng qua..., thì cũng chỉ là kiểu mà chư
Tổ bảo là bôi râu đội mão vẽ rắn thêm chân. Cách thường
được dùng để trả lời trường hợp này là im lặng, sự
im lặng mà đời sau thường khen ngợi là mặc như lôi, câm
lặng như sấm sét.
Có
lẽ, đó là lý do đầu tiên mà công án được hình thành,
và tất cả các lời khai thị phương tiện trên đều được
biến thành công án, để nói rằng, nếu chỉ vô tâm hay vô
niệm thì dễ quá, chưa đâu, đời sau còn phải ngơ ngơ ngác
ngác nhiều nữa, còn lời rốt sau nữa kia, phải tìm đi, tham
cứu đi. Một khi chưa nhìn thấy thì chưa biết đâu.
Trong
những thời kỳ đầu, khi hệ thống công án chưa hình thành,
học nhân không được trao một công án nhất định, ta có
thể đoán như vậy. Cách dạy Thiền ở Trung Hoa bấy giờ,
có thể tin được là, đã dùng ba cách khác nhau:
(1)
Mặc Chiếu Thiền, được khai triển và lưu truyền qua dòng
Tào Động.
(2)
Kỹ thuật Tháo Đinh Nhổ Chốt, trò khởi tâm gì cũng đều
bị Thầy phá, dù đó là tâm Thánh, tâm phàm, tâm Phật, tâm
ma... để đưa trò vào chỗ tình cùng lý tận mới thấy được
cái Vô Cùng Vô Tận vẫn đang hiển hiện trước mắt. Kỹ
thuật này hoàn toàn không dựa vào phép ngồi, chỉ ứng biến
trong các chỗ khởi tâm và không khởi tâm. Cả năm nhà bảy
phái đều dùng kỹ thuật này. Thầy tôi, Ngài Trạm Nhiên
Tịch Chiếu, chỉ dùng riêng kỹ thuật này khi dạy tôi. Điều
bất tiện của kỹ thuật (chữ người xưa gọi là thủ đoạn)
này là phải sống gần Thầy. Trong hành trạng của các Sư
dòng Qui Ngưỡng xưa, chỉ thấy riêng kỹ thuật này, trong
bài cử xướng tông phong Qui Ngưỡng bắt đầu với câu: "Phàm
Thánh tình tận, Thể Lộ chơn thường..." Thầy mà không hoàn
toàn thấu triệt thì không dùng nổi kỹ thuật này.
(3)
Phương pháp thứ ba là, Thầy dạy trò một trong những lời
khai thị phương tiện (đã nói trên) có tính cách an tâm gần
với cảnh giới thật (thường nói là, như lấy bánh dỗ con
nít đừng khóc), và yêu cầu trò tìm câu rốt sau, tức tối
hậu cú, còn gọi là thiếu một chùy sau gáy. Sư thúc tôi,
Ngài Thường Chiếu, ưa nói với học nhân là phải niệm vô
niệm, là cũng dùng phương pháp này vậy.
Qua
nhiều đời sau, phương pháp thứ ba, tức phương pháp tìm
câu rốt sau bằng cách thâm nhập các cảnh giới của vô tâm
vô niệm được biến đổi và hệ thống hóa thành phương
pháp tham công án. Đề tài càng lúc càng phong phú biến hóa,
lên tới 1,700 công án, không còn thuần túy chỉ khai thị Tâm
Vô Tâm nữa. Tới đây, thì phương pháp thứ tư được hình
thành, pháp tham công án, cũng là phương pháp được các học
nhân Tây phương quan tâm nhất.
Sư
Phụng Sơn, trong biên khảo về Thiền (chưa in) có viết:
"...Công
án này có thể là một chữ hay một câu mà Thiền sinh phải
thâm nhập ý nghĩa không bằng giải thích hay ý luận. Sau đó
Thiền sư Bạch Ẩn ở Nhật đã ứng dụng hệ thống công
án mà Thiền sinh phải trình "lời giải đáp cùng thầy". Hệ
thống công án này gồm có 5 loại từ thấp lên cao như sau:
(1)
Công án cho thấy Bản Lai Diện Mục (Pháp Thân).
(2)
Công án ứng dụng giác tính không bị vướng mắc vào cái
ngộ ban đầu (Cơ Quan).
(3)
Công án giúp thâm nhập vào ý nghĩa chân thật của các lời
khó nghĩ khó bàn (Ngôn Tuyên) của Chư Tổ.
(4)
Công án khó vượt qua (Nan Thấu), loại công án này khó tin,
khó giải và khó thâm nhập.
(5)
Công án đầy Thiền sinh vào thế giới vô ngại trong cuộc
sống đầy phân chia, trói buộc và giới hạn, rồi tay không
đi vào chốn chợ búa nhưng làm cho mọi người được hưởng
lợi lạc (Hướng Thượng).
Thiền
sinh phải nỗ lực thật nhiều và trải qua một thời gian
lâu dài mới qua hết 5 giai đoạn nói trên..."
Đó
là theo cách hệ thống hóa của dòng Lâm Tế Nhật Bản. Tuy
nhiên, theo sách Chích Thủ Diệu Thanh, bản Anh - dịch là The
Sound of The One Hand, Tiếng Vỗ Của Một Bàn tay - do một Sư
Lâm Tế Nhật Bản viết, sự suy thoái ở các đời sau của
Ngài Bạch Ẩn đã xảy ra một cách nghiêm trọng. Thí dụ,
Thầy mong đợi một câu trả lời có tính cách công thức
từ trò, như để trả lời câu: "Tiếng Vỗ của một bàn
tay?" trò phải đưa thẳng bàn tay về phía Thầy. Hiển nhiên,
tất cả những mong đợi một đáp ứng công thức và chính
những đáp ứng công thức đều chỉ là Thiền giả mạo.
Trong đất thật, tức là khi Thầy và trò đều sống được
trong cảnh giới thật, thì phải là thiên biến vạn hóa, không
một tâm để có thể khởi được, thì lấy đâu ra công thức
mà chờ đợi với đáp ứng.
Có
thể lấy một phản luận để làm rõ ràng hơn điều vừa
nói trên. Tiếng Vỗ của một bàn tay (tức công án Chích Thủ
Diệu Thanh) là âm thanh không do nhân duyên tạo nên, là pháp
vô sanh diệt, chỉ có thể lấy Tâm Vô Sanh Diệt mới thấu
được. Còn tất cả những chờ đợi và đáp ứng có tính
cách công thức đều là các hành tướng của tâm sanh diệt.
Thầy và trò như vậy thì chỉ kéo nhau vào đường ma vậy.
Có
thể chiết giải cách khác. Hai bàn tay mới tạo được tiếng
vỗ, vậy làm sao nghe được tiếng vỗ của một bàn tay? Nếu
học nhân sống liên tục trong Tự Tánh thì thấy ngay rằng,
dù là hai bàn tay hay một bàn tay, dù là có tiếng vỗ hay không
tiếng vỗ, thì Tánh Nghe vẫn hiển hiện không gián đoạn.
Vậy thì lấy gì mà sư dám bảo là tới tiếng vỗ của một
bàn tay thì không nghe được? Tánh Nghe có biến mất bao giờ
đâu?
Như
vậy, có cách nào để trắc nghiệm sự giác ngộ của trò
không?
Nếu
Thầy có thần thông, có thể thấy được các cảnh giới
Tâm Vô Tâm của trò là tốt nhất, tức là thấy được pháp
giới Nhất Chân Diệu Tâm mà trò đang vui chơi an hưởng (khắp
pháp giới biến thành cơm, tha hồ chúc mũi ních cho no...),
và cũng chính là vô lượng pháp giới tâm mà trò đang nhảy
múa vui đùa. Tuy nhiên, Thiền chính tông chủ trương tu Trí
Huệ Giải Thoát chứ không tu thần thông, nên cũng thường
dùng phương pháp khác.
Phương
pháp đó chính là Cơ Phong Vấn Đáp. Cơ Phong Vấn Đáp là
dùng các câu hỏi bất ngờ vào những lúc bất ngờ, để
qua những câu trả lời đột khởi không tính toán tư lường
của tâm mà biết được chỗ an tâm của trò. Đối với người
đạt ngộ, thì có nói ngàn triệu lời, dù xuôi dù ngược
dù dọc dù ngang, cũng không có một lời sai tông chỉ. Đối
với người chưa thực sự ngộ, thì nói hay viết mười lời,
có giỏi lắm thì cũng phải sai ít nhất là một lời. Còn
chín lời khế hiệp kia do nói hay viết, như vậy chỉ là do
nhớ lại từ sách vở văn tự.
Có
thể lấy một pháp thoại làm thí dụ cho rõ chỗ này.
Một
ông tăng hỏi Triệu Châu:
- Thế
nào là đệ nhất cú?
- Ông
hỏi gì?
Ông
tăng lập lại: "Thế nào là đệ nhất cú?"
Triệu
Châu đáp: "Ông biến thành nhị cú rồi."
Trong
pháp thoại này chúng ta thấy Triệu Châu có vẻ như đang hí
lộng chơi trò chữ nghĩa. Dù vậy vẫn có nhiều phần nghiêm
chỉnh ở đây.
Triệu
Châu hỏi lại: "Ông hỏi gì?" là để xem coi ông tăng có biết
an tâm chỗ nào chưa. Khi ông tăng lập lại câu hỏi: "Thế
nào là đệ nhất cú?" để trả lời câu hỏi của Triệu
Châu thì hiển nhiên là (1) hoặc là ông tăng hoàn toàn không
biết gì về pháp Cơ Phong Vấn Đáp nên chỉ trả lời theo
kiểu nói chuyện thông thường, (2) hoặc là ông tăng có quen
pháp Cơ Phong Vấn Đáp trong chùa nhưng trong thảng thốt ông
đã lập lại câu hỏi, tức là sống với tâm quá khứ, tức
là sai tông chỉ Thiền. Trong tông chỉ Thiền, ngay đến cái
tâm hiện tại cũng không có chỗ bấu víu thì lấy đâu chỗ
mà chơi trò nhà ma cửa quỷ với tâm quá khứ, tâm vị lai
gì gì đó... Vào nhà được rồi, thì tâm nào cũng là đúng
cả. Còn chưa vào được nhà thì tâm nào cũng là sai cả.
Như
vậy Cơ Phong Vấn Đáp chỉ được dùng để Thầy trắc nghiệm
trò, hoặc là dùng trong các trận pháp đấu để trắc nghiệm
người khác, hoặc là để đùa giỡn giữa bạn bè trong chùa
với nhau. Dùng mà không chính đáng e là đã phạm giới rồi
vậy. Nếu thời này mà chúng ta muốn dùng lại pháp này thì
thế nào cũng phải hình thành một thứ ngôn ngữ mới vậy.
Dù vậy, việc tu Thiền hoàn toàn không dính dáng gì tới Cơ
Phong Vấn Đáp.
Có
thể tạm ví Cơ Phong Vấn Đáp như cách thử trong nghề võ.
Sự so sánh này không thích nghi, nhưng chúng ta có thể dùng
làm cho dễ hiểu phần nào. Thí dụ, nếu bạn muốn biết
võ phái của người đối diện, bạn nên xuất kỳ bất ý
xô người đó thật mạnh. Nếu họ té ngã, thì võ công của
người đó chưa đủ để xuống núi. Nhưng nếu họ không
té ngã, mà dùng những cách chống đỡ được, bạn có thể
qua các biến chiêu của họ mà đoán được tông phong, hoặc
là xuất thân từ Nhu Đạo, Thiếu Lâm hay Không Thủ Đạo.
Vấn đề trước tiên là bạn phải giỏi võ, và có cặp mắt
nhận diện được võ phái của trăm nhà.
Cơ
Phong cũng vậy. Xuất kỳ bất ý, vị thầy đưa ra một câu
hỏi cho học trò. Nếu bạn trượt trên lời, thì sẽ hỏng,
chưa đủ xuống núi. Nhưng nếu hiển lộ được tông chỉ,
thì vẫn còn lộ ra các mức sâu cạn khác nhau. Điều quan
trọng còn là, hai thầy trò thường sống bên nhau nhiều năm,
nên khi nào học trò trải qua kinh nghiệm chứng ngộ thì có
khi không cần nói, vị thầy cũng có thể nhận ra ngay tức
khắc mà không cần nói gì nhiều, vì sau kinh nghiệm chứng
ngộ thì cách ăn nói, cách đi đứng, cách chạy nhảy, cách
cười nói. cũng không còn giống gì với ngày hôm qua. Cho nên,
chúng ta đời sau đọc các giai thoại Thiền, thấy có khi học
trò không đáp gì hết hoặc chỉ làm một cử chỉ nhỏ nào
đó, có khi như là vô nghĩa, vậy mà vị thầy cũng chấp thuận,
cho thế là thử xong rồi - kiểu như thầy mới xô trò tới
mười thành công lực, mà trò không té ngã. Nhưng trong sách
không mấy khi ghi rõ là hai thầy trò kia đã sống bên nhau
nhiều năm, và rằng thầy đã thấy rõ là người học trò
đã biến đổi hẳn so với những ngày hôm qua.
Ở
Trung Hoa và Việt Nam chú trọng nhất là công án loại Pháp
Thân, và thứ nhì là công án loại Cơ Quan, không đòi hỏi
học nhân phải giải tất cả công án như dòng Lâm Tế Nhật
Bản. Đối với học nhân được Thầy dạy tham công án thì
công án loại Pháp Thân là bắt buộc ưu tiên. Ở chùa tôi,
lối dạy Thiền không nhất định, chỉ tùy theo căn tính của
trò mà Thầy dạy khác nhau. Thí dụ, Sư Ông tôi là Ngài Minh
Tịnh bắt Thầy tôi, Ngài Trạm Nhiên Tịch Chiếu, tham công
án: "Ai bửa củi đó mày?" lúc Thầy còn lo chuyện hỏa đầu.
Mở miệng cũng bị bạt tai, không mở miệng cũng bị bạt
tai. Do vì tông phong vốn nửa Tây Tạng nửa Lâm Tế nên tông
phong cực kỳ biến hóa.
Tại
sao phương pháp tham công án có thể đưa tới giác ngộ?
Nếu
chúng ta đang dùng pháp Vấn Đáp Cơ Phong để trắc nghiệm
lẫn nhau, thì chính cách đặt câu hỏi với cách đặt câu
đưa tới giác ngộ đã là sai tông chỉ hoàn toàn. Tuyệt đối
không có cái gì gọi là đưa tới giác ngộ hết, và cũng
luận theo tông chỉ thì, tuyệt đối không có cái gì gọi
là ngộ với mê hết. Tuy vậy, tham công án hay tham thoại đầu
vẫn là một đại phương tiện cực kỳ mãnh liệt thích hợp
cho những người căn tính và ý chí cương mãnh. Do vậy cổ
đức còn gọi dòng Lâm Tế là tướng quân chi pháp. Trong khi
đó, những người căn tính nhu hòa, mềm mỏng lại thích hợp
với Mặc Chiếu Thiền của Tào Động. Những người căn tính
linh mẫn, bí mật, nhiều lòng tin có thể thể nhập được
cái thấy Đại Thủ Ấn hay Đại Toàn Thiện của Thầy chỉ
tất nhiên là thích hợp với Thiền Tây Tạng. Trong tận cùng,
cái thấy ấy chỉ là một.
Tham
công án là một nỗ lực của ý chí muốn thấu được Sự
Thật. Sự Thật này là pháp vô sanh diệt, chỉ có thể thấu
triệt được một khi thấy được Tánh của Tâm, Tâm mình
cũng là Nhất Chân Pháp Giới Tâm và cũng thật là Vô Tâm.
Bấy giờ thì Thanh Tịnh Pháp Thân sẽ hiển lộ trước mắt.
Trong nỗ lực đó của ý chí, khi tới tận cùng của nghi tình,
sẽ vào một cảnh giới của pháp định vô niệm, tư tưởng
dứt bặt, tình cùng lý tuyệt, vọng niệm với chơn niệm
vân vân đều không có chỗ bám trong tâm, đây chính là biên
giới của cảnh giới pháp giới hiện toàn chơn vậy.
Trong
thế kỷ này, ở bên Nhật thường dùng các công án khai thị
Pháp Thân như chữ Vô của Triệu Châu, hay như Chích Thủ Diệu
Thanh, tức tiếng vỗ của một bàn tay của Bạch Ẩn. Ở Trung
Hoa và Việt Nam thường dùng các công án khai thị Pháp Thân
như Niệm Phật Thị Thùy, tức ai là người niệm Phật, hay
như Vô của Triệu Châu.
Các
công án loại Cơ Quan để tâm không còn ở chỗ ngộ với
mê nữa, và để có đại cơ đại dụng thường là, như công
án muốn thấy sao Bắc đẩu hãy nhìn về phương Nam, hoặc
như Phật Quan Âm nghìn mắt, mắt nào là mắt chính. Sự khác
biệt chủ yếu của các công án Pháp Thân và Cơ Quan là, công
án Pháp Thân chỉ vào Tâm Vô Sanh Diệt, không sống được
cảnh giới vô phân biệt thì không thấu được; trong khi đó,
công án Cơ Quan xô học trò vào thế giới phân biệt giữa
Bắc với Nam, giữa một với nhiều, giữa phụ với chính,
vân vân...
Các
công án loại khác không đòi hỏi học trò phải thấu triệt.
Nhưng với thời gian sống thoải mái bảo nhậm (còn gọi là
đảm đương) thì học trò cũng tự nhiên hội được, có
lẽ chỉ trừ các công án dùng các ẩn dụ kỳ dị quá thì
chịu thua vậy. Chúng ta không thể sống lui trở ngược lại
thời của các Ngài để chia xẻ chung một bầu khí văn hóa
như vậy được.
Phải
hỏi thêm, có thể dùng kinh luận giáo điển để giải công
án không?
Có
lẽ đối với một số công án, các vị pháp sư hoặc luận
sư có thể mang kinh luận giáo điển ra giải được. Thí dụ
như công án ai là người niệm Phật chẳng hạn. Ngay như luận
Tiểu thừa cũng có thể nói được vậy. Đơn giản lắm,
vốn thật là không một người, tức nghĩa là vô ngã. Nhưng
làm sao thấy được, nhìn thấy và sống được cái ai không
một người này bằng mắt, bằng thân và bằng cả tay, chân
thì đó là vấn đề của Thiền. Tức là làm sao vào được
pháp định này thì đó là chỗ giáo điển không dò tới được.
Hoặc giả đem luận Duy Thức của Đại thừa ra bàn thì biến
kế sở chấp hiển lộ quá thức thứ sáu, vân vân... nghe
rất dài dòng và êm tai. Nhưng thật sự thì lại nhạt nhẽo
và thiếu sinh động làm sao. Các Thiền sư chỉ chấp nhận
những câu trả lời hoặc các hành động được hiểu như
xuất phát từ một kẻ đang vui chơi trong pháp định của
Thanh Tịnh Pháp Thân. Và vì vậy các Ngài không chấp nhận
tất cả những gì thuộc về suy nghĩ tư lường. Ngay khi thấy
học trò suy nghĩ, các vị Thầy thường nói, có tính cách
phủ nhận, ngay khi nghĩ ngợi đã lầm qua rồi.
Giả
dụ, như khi ta trả lời câu "Ai là người niệm Phật?" rằng
đó chính là Vô Ngã thì rõ ràng đã là một sai lầm lớn,
mặc dù lời này chỉ đúng về mặt Kinh Luận. Bởi vì ý
vị thầy muốn rằng học trò phải chứng ngộ cái Ai Vô Ngã
kia, chứ không phải muốn học trò đem sách vở ra trả bài.
Có thể lấy cơ phong ra để vặn nơi đây là, cái gọi là
Ngã với Vô Ngã kia hoàn toàn không còn thấy gì tới một
mảy may trong Tự Tánh, thì sao lại gọi được đó là Vô
Ngã?
Như
vậy, phương pháp tham công án tuyệt đối không dùng các khả
năng thấy, nghe, hay, biết, tư lường như một số pháp Như
Lai Thiền. Khi công án hiện tiền, học nhân có thể ở trong
một số trạng thái đi mà không biết mình đang đi, ngồi
mà không biết mình ngồi. Bởi vì Tổ Sư Thiền phủ nhận
quan niệm đi biết mình đi, thở biết mình thở là sự tỉnh
thức hay giác ngộ của một vị phật. Cái biết hay tỉnh
thức đó cũng chỉ là những đáp ứng của vô minh ngàn đời
thôi. Dù vậy, cái không biết của trạng thái này vẫn chưa
là đất thật. Như vậy, cái Sự Thật ẩn tàng nào đã làm
hiển lộ những bóng mờ của vô minh thành các cái biết và
không biết ấy? Câu trả lời nằm ở trong các công án về
Pháp Thân, thí dụ phần trên có nói về một công án Pháp
Thân là chỉ vào Tánh Nghe với Chích Thủ Diệu Thanh.
Có
thể tìm được nguyên nhân tại sao một số Sư tin rằng cái
biết, cái tỉnh thức là tánh Phật. Lý do đầu tiên là, theo
nghĩa từ nguyên, chữ Phật là nghĩa tỉnh thức. Ta phải tin
rằng nghĩa này thâm sâu hơn nghĩa của các chuyện đi biết
mình đi, thở biết mình thở. Lý do thứ hai là Phật có dạy
một số pháp quán niệm trong các kinh Tiểu thừa để tập
định. Kết tập ưu thắng nhất đã trở thành pháp Minh Sát
Tuệ. Lý do thứ ba là các Sư dựa vào câu nói của Tổ Sư
Thiền, bất phạ niệm khởi duy khủng giác trì, nghĩa là không
sợ niệm khởi, chỉ sợ biết chậm thôi, ý là chỉ sợ biết
chậm thì niệm sẽ dẫn mình đi lung tung nhưng khi cái biết
khởi dậy thì niệm sẽ biến mất vậy, tâm sẽ định trở
lại.
Chúng
ta sẽ không bàn về lý do thứ nhất và thứ hai đã đưa tới
hiểu lầm trên, vì e phạm giới bất kính Trưởng Lão. Nhưng
lý do thứ ba phải bàn rõ ở đây để làm minh bạch các nghĩa.
Câu nói bất phạ niệm khởi duy khủng giác trì chỉ là một
lời rất phương tiện dành cho các học nhân đang tu pháp vô
tâm hoặc vô niệm. Cái giác đó, tức cái biết hay tỉnh thức
đó, vẫn không phải là cái Tự Tánh Thanh Tịnh. Nếu lấy
lời phương tiện để kết luận về nghĩa cứu cánh thì là
sai vậy. Hư Vân hòa thượng, người phục hưng dòng Lâm Tế
ở Trung Hoa trong đầu thế kỷ này, có nói: "Có giác có chiếu
vẫn còn là sanh tử," trong Hư Vân pháp ngữ. Dù vậy, giác
với chiếu vẫn là phương pháp của Như Lai Thiền. Nếu học
nhân không thâm nhập nổi pháp định của Tổ Sư Thiền tất
nhiên là không tin vào lời phê bình đó vậy.
Để
chống với nghĩa của những vị tin vào cái biết hay tỉnh
thức là Tánh Phật, chúng ta có thể tìm thêm một phản luận
nữa. Nếu lấy niệm để biết niệm, dù là phương tiện
để ly niệm kia để tự duy trì mình trong niệm biết, chư
Tổ gọi là Tâm thượng sanh Tâm, trên tâm lại sanh thêm một
tâm nữa, thế là hỏng. Phương pháp Tổ Sư Thiền dùng trong
trường hợp này là buông bỏ hết tất cả cái biết cùng
cái không biết thì sự thật sẽ hiển lộ. Ý chỉ thật là
sâu kín khó tin, khó hiểu và khó vào. Trong một cách phương
tiện hơn, có thể dùng cách dùng niệm nhận biết vô niệm,
nhìn vào chỗ một niệm chưa sanh, chỗ hạt bụi chưa dấy
lên, chỗ đóa hoa chưa nở, chỗ niệm trước đã diệt mà
niệm sau chưa sanh, còn gọi là pháp Sát Tâm Sanh. Pháp này
đã nói trong Thói Nhà Tào Động và sẽ lược sơ lại trong
bài này, phần cụ thể vào công án.
Cũng
nên trích dẫn một số pháp ngữ liên hệ với vài lầm lẫn
vừa nói. Như trong Bác Sơn pháp ngữ:
"Tham
Thiền không được mất chính niệm dù trong giây lát. Nếu
mất một cái niệm "tham cứu" ắt trôi lăn vào dị đoan, không
còn nhớ mà quay về. Giống như người ngồi tĩnh tọa chỉ
thích trong sáng lặng lẽ, coi cái kinh nghiệm thuần tịch tuyệt
đối không nhớm bợn đó là Phật sự. Ấy gọi là mất chính
niệm đọa kiến chấp thanh tịnh. Có kẻ nhận cái thức thần
biết giảng dạy, biết nói, biết động, biết tĩnh làm Phật
sự, đó tôi cũng gọi là thất chính niệm. Có kẻ đem cái
vọng tâm đè nén không cho vọng tâm móng khởi, coi việc ấy
là Phật sự. Ấy cũng gọi là mất chính niệm vì đem vọng
tâm mà đè nén vọng tâm, cũng như lấy đá mà đè cỏ hoặc
gọt lá chuối, bóc một lớp lại còn một lớp, chẳng bao
giờ hết. Có kẻ quán tưởng thân tâm như hư không, không
móng khởi niệm như tường vách. Ấy cũng gọi là mất chính
niệm."
Hoặc
như Ngài Huyền Sa phê bình.
Huyền
Sa nói: "Có hạng người bảo cái chiêu chiêu linh linh (ý thức)
là linh đài của Trí tính, cái hay thấy hay nghe là chính Trí
Huệ. Coi cái thân ngũ uẩn này là chủ tể. Vậy mà đòi làm
Thiện Tri Thức, chỉ được cái lừa bịp thiên hạ."
Chúng
ta có cách nào đề nghị một phương pháp cụ thể để tham
công án không?
Tất
cả pháp ngữ của các Sư đều nói là phải khởi nghi tình,
nghi tình hiện tiền thì chỉ còn một niệm tham cứu, niệm
này rất gần với cái ở trên gọi là niệm vô niệm, trong
này vọng niệm và cả chơn niệm đều không còn, tới giờ
tới lúc thì Pháp Thân hiển lộ. Sau đó mới tự biết cách
tu.
Riêng
Ngài Hư Vân lại đề nghị học nhân khi tham loại công án
Pháp Thân nên chọn loại có thể qui về đầu của một niệm.
Bấy giờ tham công án còn có thể gọi là tham thoại đầu.
Thoại đầu nghĩa là đầu của một câu nói, tức là nhìn
vào chỗ khi một niệm chưa khởi dậy, chỗ một niệm chưa
sanh. Ngữ pháp khác còn nói về cảnh giới của người sống
được chỗ ngày nghĩa là, sống với cái chỗ hạt bụi chưa
dấy lên, chỗ đóa hoa chưa nở, chỗ một niệm chưa sanh.
Gọi tắt là cảnh giới của pháp vô sanh. Ngài thường chọn
công án Ai là người niệm Phật làm thoại đầu.
Khi
còn học ở chùa Tây Tạng (Việt Nam), tôi được dạy bằng
phương pháp khác chứ không phải là tham công án, nên không
có thẩm quyền đầy đủ để viết về pháp này. Nhưng có
thể đề nghị dưới đây một phương pháp đi dần vào công
án một cách tiện dụng cho những học nhân có điều kiện
tu tập.
(1)
Nên tìm Thầy để đứng trong một dòng pháp chính thống và
sau này có thể thấu triệt tông phong dòng mình. Đồng thời
chia sẻ một cộng nghiệp tốt với Bổn sư và bạn đạo.
Nếu chưa có cơ duyên thì đành phải lấy kinh pháp làm thầy
vậy.
(2)
Nên tập pháp thở ít nhất là vài tháng. Đi đứng nằm ngồi
đều theo dõi hơi thở. Khi thở vào, biết mình thở vào, bụng
phình ra. Khi thở ra, biết mình thở ra, bụng xẹp xuống. Suốt
ngày đều giữ tâm như vậy. Pháp này có thể chữa một số
bệnh và chuẩn bị cơ thể cho trận chiến sắp tới.
(3)
Nên tập pháp Sát Tâm Sanh sau. Mở mắt nhìn vào khoảng "niệm
trước đã diệt, niệm sau chưa sanh." Còn gọi là pháp nhìn
vào tâm vô niệm. Tức là nhìn bằng mắt vào chỗ một niệm
chưa sanh. Pháp này khi hiện tiền, học nhân sẽ thấy trước
mắt hiện ra tâm mình rộng như hư không mà không hề có một
niệm dấy lên. Chú ý, đây không phải là một pháp quán tưởng
gì hết, hoàn toàn không được quán với tưởng gì hết,
mà chỉ mở mắt nhìn thôi, rồi tới một lúc tự động cảnh
giới sẽ hiện tiền. Pháp này nên tập trong mọi trường
hợp đi đứng nằm ngồi, và cả chạy nữa.
(4)
Khi định lực của pháp trên đã hình thành, chọn công án
Ai người niệm Phật (tức Niệm Phật Thị Thùy). Học nhân
khởi niệm sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật, rồi nhìn vào tâm
mình xem ai vừa khởi niệm đó. Không nhìn vào tâm mình bằng
mắt nữa, nhưng nhìn bằng khả năng nghi ngờ thám sát của
ý thức. Tức là không nhìn bằng mắt, nhưng nhìn bằng đầu,
bằng bộ óc, bằng khả năng tư lường nghi ngờ, mà không
được suy nghĩ lý luận. Khi niệm tham cứu này hiện tiền
thì đầu của học nhân như bị tê liệt. Nói cách khác, nhìn
vào chỗ một niệm chưa sanh (tức khi chữ Ai chưa hiện tiền
trong tâm) bằng ý thức. Khi định lực này thành tức nghi
tình bắt đầu hiện tiền. Đi sẽ không biết mình đi, đứng
có thể sẽ không biết mình đứng.
(5)
Sau khi định lực trên thành, nên nhìn vào chỗ chưa sanh một
niệm ấy bằng toàn thân. Luôn luôn giữ niệm tham cứu về
chữ Ai đó. Ở đây tất cả những gì thuộc về vọng niệm
và chơn niệm đều bị quét sạch. Sao gọi là nhìn bằng toàn
thân? Cảnh giới này thật khó diễn bày bằng lời. Có một
lần, Thầy tôi có chỉ một thị kiến Đại Thủ Ấn như
sau: "Con chỉ niệm Phật được khi nào tay cũng niệm Phật
và chân cũng niệm Phật." Có thể mượn lời đó để chú
nghĩa giữ niệm tham cứu bằng toàn thân (từ sợi tóc cho
tới móng chân). Khi mực độ nghi tình này hiện tiền thì
học nhân thấy núi không là núi, và sông sẽ không là sông.
Thân, tâm và niệm tham cứu trở thành một thể. Hoàn toàn
không có chỗ nào của tư lường, so sánh, phân biệt ở đây.
(6)
Khi định lực trên thành, sẽ tự động chuyển sang cái thấy
không còn cái gì gọi là thân với tâm nữa, mà toàn pháp
giới sẽ biến thành thân và tâm của mình. Toàn pháp giới
cây, cỏ, núi, rừng đều trở thành một niệm tham cứu vào
chỗ chưa sanh của niệm Ai. Tức là không nhìn bằng toàn thân
nữa, mà nhìn bằng toàn pháp giới. Học nhân sẽ thấy mình
với người không cách biệt, thấy mình trong người khác,
trong từng cây cỏ lá hoa núi đồi... Điều này gần với
một thị kiến khi Thầy tôi dạy: "Vũng nước trước sân
cũng chính là Phật vậy." Nghi tình này tới mức vỡ ra, sẽ
thấy được Pháp Thân vậy.
Tất
cả các bước đề nghị trên đều là các cảnh giới của
vô niệm, chỉ trừ nghi niệm là hiện tiền thôi.
Thiền
Đốn Ngộ còn được diễn bày bằng một ngôn ngữ mới của
thế kỷ 20 bởi Krishnamurti (ở đây chúng ta sẽ viết tắt
tên không là K.). K. được nhiều người tin như một hóa thân
của Phật Di Lặc. K. không từng đọc kinh Phật, không uyên
bác nhưng tất cả những lời nói, thuyết giảng đều hiển
Tông chỉ Thiền Đốn Ngộ. Trong sách "Krishnamurti, the Open Door,"
tác giả là bà Mary Lutyens ghi lại là, học giả Phật giáo
nổi tiếng Jagannath Upadhyaya chuyên nghiên cứu các bản văn
cổ Tây Tạng đã tìm ra từ đó một lời tiên tri về sự
xuất hiện của K. như hóa thân của Phật Di Lặc (Lord Maitreya),
trang 92-93 sách trên.
K.
cho rằng chân lý là mảnh đất không lối ngõ để tới, hoàn
toàn không thể do tu tập, tụng kinh, niệm Phật, cầu nguyện...
mà được. Các sách cuối đời ông mang sức mạnh như kinh
điển Đại Thừa, khảo sát về các vấn đề căn bản về
Tâm (The Mind), về Nhất Chân Pháp Giới Tâm (mượn chữ này
của kinh Lăng Nghiêm để dịch chữ The Universal Mind), về trật
tự vũ trụ (Cosmic Order), về Đốn Ngộ (cannot be done in time).
Tông
chỉ Thiền Đốn Ngộ hiển hiện rõ ràng nhất ở hai sách,
tường thuật các cuộc đối thoại giữa K. và ông David Bohm
mang phong thái kinh Phật viết ở thể đối thoại giữa Phật
và các ông A Nan, Xá Lợi Phất... Nhưng thú vị là Dr. David
Bohm lại là một ông A Nan ngang bướng ưa vặn hỏi từng ý
nhỏ, một Xá Lợi Phất uyên bác về khoa học vật lý đầy
thắc mắc ngờ vực. Hai sách đó là:
(1)
The Ending of Time. J. Krishnamurti and David Bohm, Harper & Row, California,
1985.
(2)
The Future of Humanity. J. Krishnamurti and David Bohm, Harper & Row,
California, 1986.
"Tông
phong" của K. cực kỳ vi diệu vì chính hai người viết tiểu
sử (biography) đời ông đều thú nhận là chưa hiểu K. muốn
nói gì mặc dù đã cảm được sức mạnh của chân lý trong
lời giảng dạy của ông. Hai người này đều là bạn thân
nhiều thập niên với ông, gần như đọc và nghe tất cả
những gì ông nói, là hai bà Mary Lutyens và Pupul Jayakur. Đó
là một sự thật, cũng như các vị pháp sư, luận sư hểu
tất cả tư tưởng Đại Thừa, thuộc lòng các kinh Hoa Nghiêm,
Lăng Nghiêm vân vân... nhưng khi được nghe hiển Tông chỉ
Thiền Đốn Ngộ thì cũng mịt mịt mờ mờ vậy.
Ở
phần phụ lục sách này, có trích dịch một số đoạn nói
về Thiền định từ cuốn Krishnamurtís Notebook.
Có
thể nói tóm tắt về ý chỉ của K. không?
Câu
trả lời nên là, hoàn toàn không một pháp để trao cho người.
Tuy nhiên, trong các lời phương tiện, K. cũng đề nghị các
thứ như, nên sống với vô tâm (vacant mind, empty mind), với
vắng lặng (stillness), với tỉnh thức (watchfullness, attentiveness),
với sự bùng vỡ thanh tịnh (shattering purity), thấy Tánh (realization
of the Otherness), vân vân... Tất cả các đề nghị đó đều
được nhấn mạnh là không do một nỗ lực của Tâm mà thành
được (effortless but one cannot try to touch it), không do sự huân
tập từ từ (cannot be done in time).
Sau
khi đã duyệt qua về các tông phong và phương tiện khác của
Thiền Đốn Ngộ, chúng ta có thể khẳng định thế nào là
Tông chỉ?
Hoàn
toàn không có lời khẳng định được về Tông chỉ. Tất
cả các hình thức diễn bày đều ở trong thể phủ định,
không phải cái này, không phải cái kia, không phải cái nọ,
vân vân... Ngôn ngữ văn tự không dùng được cho tối hậu
cú đó. Và bây giờ chúng ta thử bước vào thế giới của
Tín Tâm Minh để xem Ngài Tăng Xán đã hiển Tông chỉ thế
nào.
GHI
CHÚ:
Ở
trên một công án đã được sửa ý. Trong chính văn Trung Hoa
nghĩa là: "Muốn biết ý cùng tận, Bắc đẩu nhìn về Nam."
Khi ở Việt Nam tôi lại nghe là: "Muốn thấy sao Bắc đẩu,
hãy nhìn về phương Nam." Sửa để làm chi? Và ai, vị Thiền
Sư nào của Việt Nam đã sửa lại? Chữ ai này hẳn là khó
hơn chữ ai của Niệm Phật Thị Thùy vậy. Mới biết, thế
giới của Thiền đầy những sương mù của ngộ và mê vậy.
*
Xem
Tiếp Phần 2 Chương 4: Tín Tâm Minh
