-
Chương
4 (Tiếp Theo)
-
TÍN
TÂM MINH
Tác giả
bản văn Tín Tâm Minh là Ngài Tam Tổ Tăng Xán (?-606). Ngài
là Tổ thứ ba của Thiền Tông Trung Hoa nối pháp Sơ Tổ Bồ
Đề Đạt Ma và Nhị Tổ Huệ Khả. Sơ Tổ Bồ Đề Đạt
Ma nếu tính theo dòng pháp từ Ấn Độ lại là Tổ Sư thứ
28, như vậy Ngài Tăng Xán là Tổ thứ 30 tính từ Phật Thích
Ca.
Ở
thời này hình như sự truyền pháp không qua một huấn luyện
đặc biệt nào cả. Theo Truyền Đăng Lục thì mọi chuyện
cứ như là "đại ngộ ngay dưới lời." Như lúc Nhị Tổ Huệ
Khả truyền tâm ấn cho Tam Tổ Tăng Xán như sau:
Một
cư sĩ tuổi ngoài bốn mươi đến đảnh lễ Huệ khả bạch:
"Đệ tử mắc chứng phong dạng, thỉnh Hòa Thương từ bi sám
hối tội giùm!"
Sư
nói: "Đưa cái tội ra đây ta sám cho."
Cư
sĩ hồi lâu bạch: "Đệ tự kiếm tội mãi mà chẳng thấy
đâu cả."
Sư
nói: "Thế là ta đã sám xong tội của người rồi đó. Từ
nay, ngươi khá y nơi Phật Pháp Tăng mà an trụ."
Cư
sĩ bạch: "Nay tôi thấy Hòa Thượng thì biết đó là Tăng,
nhưng chưa rõ thế nào là Phật và Pháp."
Sư
nói: "Là tâm là Phật, là tâm là Pháp, Pháp và Phật chẳng
hai, Tăng bửu cũng y nhiên là vậy."
Cư
sĩ bạch: "Nay tôi mới biết tội tánh chẳng ở trong, chẳng
ở ngoài, chẳng ở giữa; cũng như tâm, Phật là vậy, pháp
là vậy, chẳng phải hai vậy."
Cư
sĩ được Huệ Khả thế phát, sau đó biệt dạng mất trong
đời, ít ai rõ được hành tung. Một phần là do nạn ngược
đãi Phật giáo ở đời Bắc Châu, do vua Võ Đế chủ xướng.
Đến năm thứ mười hai đời Khai Hoàng, nhà Tùy, Tăng Xán
tìm được bậc pháp khí để truyền lại ngôi Tổ vị, đó
là Đạo Tín.
Cũng
theo Truyền Đăng Lục thì Tam Tổ Tăng Xán truyền tâm ấn
cho Tứ Tổ Đạo Tín cũng theo kiểu "mượn lời mà nhổ chốt"
vậy.
Đạo
Tín Bạch: Cúi xin Hòa Thượng từ bi chỉ cho đệ tử con đường
giải thoát.
Sư
(Tăng Xán) hỏi: Ai trói ngươi?
Tín
bạch: Không ai trói hết.
Sư
nói: Vậy sao còn cầu giải thoát?
Tín
phát đại ngộ ngay "dưới lời nói," bỏ công chín năm khổ
cầu.
Tăng
Xán biết cơ duyên đã đến bèn treo cho Đạo Tín làm tín
vật cái áo pháp truyền lại từ sơ tổ Đạt Ma, rồi thu
thần tịch diệt vào năm 606.
Ngoài
Đạo Tín là dòng chính, Tăng Xán còn truyền tâm ấn cho một
pháp sư Ấn Độ là Lưu Chi (Vinitaruci) và khuyên nên sang phương
Nam tiếp độ chúng sanh. Đó là dòng Thiền đầu tiên ở Việt
Nam, và Lưu Chi là Tổ Sư vậy. Ngài tịch năm 594 đời Hậu
Lý Nam Đế.
Chỉ
có thể nói được rằng hoàn toàn không một pháp trao người.
Chính thật là cửa không cửa vậy. Bản văn Tín Tâm Minh cũng
nằm trong truyền thống quí phái đó, hiển Tông chỉ Thiền
không qua lời phương tiện.
Bản
văn gồm 146 câu thơ, mỗi câu 4 chữ, tổng cộng là 584 chữ.
Được dùng trong tất cả các Thiền đường Trung Hoa, Việt
Nam, Nhật Bản, Đại Hàn như một sách giáo khoa, với niềm
tin là hội được căn bản này thì chẳng còn băn khoăn về
chuyện "ngồi với không ngồi" hay "tham với không tham" nữa.
Ai
hiểu được bản văn này thì hiểu được hơn bốn mươi
tác phẩm của Krishnamurti, và ngược lại. Tông chỉ Thiền
minh bạch trong từng đoạn văn nhưng hoàn toàn không có cửa
vào cho học nhân, và đây mới đúng là Thiền chánh tông vậy.
Bản
chú giải này sẽ dựa trên bản dịch của Ngài Trúc Thiên,
một vị Bồ Tát hiện thân cư sĩ, một học giả uyên bác
về Đạo Phật, người đã dịch nhiều tác phẩm quan trọng
của Thiền ra tiếng Việt, mà nhiều thế hệ sau phải mang
ơn, trong đó có cả người đang chú giải. Các câu chẵn sẽ
được đánh số cho tiện theo dõi.
Tên
tác phẩm là Tín Tâm Minh.
TÍN
TÂM MINH
-
Chí đạo
vô nan
-
2 Duy
hiềm giản trạch
-
(Đạo
lớn chẳng khó gì
-
Cốt
đừng chọn lựa thôi)
Minh là
bản văn, là lời thốt lên, gọi lên, trình bày, để nói
lên điều gì đó, hoặc là để làm sáng ra. Tín Tâm là tin
vào Tâm, không phải là Tâm mình hay tâm người hay tâm một
ai vì tất cả những cái ngỡ như là tâm mình, tâm người
hay tâm một ai đều là sở chấp hư vọng, không thật.
Thanh
Tịnh Đạo Luận viết:
Có
sự khổ nhưng không có người thọ khổ
Có
tác nghiệp nhưng không có nghiệp giả
Có
Niết bàn nhưng không có người vào Niết bàn
Tất
cả những gì gọi là mình, người, hay một ai đều chỉ là
bọt sóng dậy trên đại dương, nhưng Tánh nước vẫn là
một. Những gì gọi là Tâm của mình, người, hay một ai trong
Tự Tánh vẫn là Nhất Chân Pháp Giới Tâm (chữ của kinh Lăng
Nghiêm, chữ tương đương là The Universal Mind của Krishnamurti
được phân tích trong sách The Future of Humanity), hoàn toàn không
khác nhau tới một sợi tóc nhưng đã bị Vô Minh bịt mắt
che tai.
Như
vậy, Tín Tâm đây có nghĩa là tin vào Nhất Chân Pháp Giới
Tâm này là mẹ sanh muôn pháp.
Ngay
hai câu đầu tiên của bản văn đã nêu lên Tông chỉ Thiền
một cách minh bạch nhưng cũng đã xô bao nhiêu Tăng Ni đời
sau phải ngác ngác ngơ ngơ. Hai câu này sẽ được giải dài
dòng ở đây, vì chính là chìa khóa vào toàn bản văn và cũng
là vào Nhà Tổ vậy.
"Đạo
lớn thì không khó, miễn đừng lựa chọn thôi." Tại sao vậy?
Câu này vẫn là hiển Tông chỉ trong thể phủ định với
đề nghị "đừng." Cũng không có chữ "phải"!
Có
điều gì trên đời mà không là lựa chọn đâu? Đi tu là
chọn con đường thành Phật, bỏ con đường chúng sanh. Không
cần nói tới chuyện đi tu, chỉ nói chuyện làm Phật tử
thôi cũng là lựa chọn rồi, ngay khi thọ Tam Quy Ngũ Giới.
Luôn luôn có lựa chọn giữa đúng với sai, giữa Phật với
Ma, giữa chính với tà, giữa Thiện với Ác. Như vậy không
lựa chọn nghĩa là gì? Tông chỉ thật sâu kín, khó tin, khó
hiểu, khó vào.
Lựa
chọn là một tác dụng của tâm. Không lựa chọn là vào được
chỗ không một tác dụng (hay nỗ lực) của Tâm; chỗ vô vi,
vô tác, vô nguyện của Tâm; tắt một lời là vào chỗ vô
phân biệt của Tâm (lời này ưa bị các học giả hiểu lầm
nhất). Lựa chọn là phân biệt. Không lựa chọn là vô phân
biệt.
Làm
sao để sống được với trí vô phân biệt?
Trong
Pháp Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ Huệ Năng nói với Trí Hoàng như
sau:
"...Đúng
như lời Huyền Sách nói, ông cứ để tâm ông tự nhiên như
hư không, mà vẫn không một kiến giải nào về cái không
ấy, thì tâm sẽ ứng dụng tự do, không vướng mắc, dầu
làm gì, động hay tịnh, vẫn là vô tâm, và đó là lúc phàm
hay thánh đều quên hết, năng (chủ) và sở (khách) đều dứt
trọn, tánh và tướng đều như như, tức là không lúc nào
chẳng là định vậy..."
Lời
trên khi được chiết giải một cách kỹ thuật đã trở thành
pháp Mặc Chiếu của Thiền Tào Động vậy. Bấy giờ thì
dù có mưa bão sấm chớp hay không, thì hư không ấy (hay Tâm
Vô Tâm ấy) vẫn hằng bất động vậy, đấy chính là nghĩa
thường định của Tổ Sư Thiền, dù là đang đi đứng chạy
nhảy vui đùa ca hát...
Thầy
tôi thường nói, "Phải Thấy Tánh trước, rồi vào trong Tánh
mà làm gì cũng chẳng sai," là cũng là đề nghị ấy. Tánh,
tức là Tâm Vô Phân Biệt, là cái được Lục Tổ Ví như
hư không, hoặc như kinh ví như Tánh nước của Đại dương.
Bọt sóng rồi sẽ tan, sóng rồi sẽ lặng, mây rồi sẽ qua
đi, nhưng hư không kia cũng như Tánh nước kia vẫn hằng bất
động. Đây còn gọi là pháp tu Vô Sanh Diệt Môn vậy. Vào
được chỗ này, còn được gọi là vào cõi Phật A Súc (tức
Phật Bất Động).
Tại
sao phải tu pháp Vô Sanh Diệt này?
Một
vị Cổ Phật hóa hiện vào thế kỷ 20 này, Ngài Krishnamurti
trả lời câu hỏi vừa đặt, trong quyển Đường Vào Hiện
Sinh, bản Việt dịch của Trúc Thiên, như sau:
"...Phàm
có hợp thì có tan; và cái không hợp thì chỉ có thể thấu
triệt được bằng sức tự tri. Cái tôi là cái có hợp, nên
chỉ bằng cách tháo banh cái tôi ra, thì cái không phải là
kết quả của ảnh hưởng, cái không có nguyên nhơn mới thấu
triệt được..."
(Đường
Vào Hiện Sinh, trang 315)
Có
hợp thì có tan, nhà Phật gọi là có sanh thì có diệt. Chữ
cái không hợp của Krishnamurti, nhà Phật gọi là cái vô sanh
diệt.
Như
thế nào để vào pháp Vô Sanh Diệt?
Đơn
giản nhất vẫn là không lựa chọn. Khai triển ra thì sẽ
nói như Lâm Tế Lục, đừng cầu bên ngoài, đừng cầu bên
trong, đừng tạo tác, đừng mong làm Phật, vân vân...
Như
vậy, nói theo cơ phong sẽ là sanh diệt với vô sanh diệt là
cảnh giới gì nhỉ, sinh tử với Niết bàn là trò nhảm gì
nhỉ, mới hợp với Tông nhỉ.
Vào
được cửa này thì bấy giờ nói xuôi nói ngược gì cũng
đúng, nói Tánh nói Tướng gì vẫn khế hiệp. Ta có thể theo
dõi các sách nói sau về chuyện Sinh với Tử, trích lời 2
vị Thiền Sư, sách Moon In A Dewdrop, tác giả là Ngài Dogen (Đạo
Nguyên):
Thiền
Sư Jiashan nói: "Bởi vì một vị Phật ở trong sinh với tử,
cho nên không có chuyện gì gọi là sinh với tử hết."
Thiền
sư Dingshan nói: "Bởi vì một vị Phật không ở trong sinh với
tử, cho nên Phật không bị mê mờ bởi sanh với tử." (trang
74).
Chữ
Phật đó chính là Tự Tánh Thanh Tịnh vậy, vào đó mà tu
thì còn sợ gì nữa. Nhưng khi vào được pháp định này thì
sẽ thấy rằng Tánh vẫn không lìa Tướng vậy.
Như
thế nào để vào được pháp định này? Chỉ cần buông bỏ
hết mọi lựa chọn, dù Tướng hay Tánh, dù có hay không, dù
Phật hay Ma thì Tâm sẽ hồn nhiên thường định vậy. Buông
bỏ mọi lựa chọn mà cũng không thấy cả cái buông bỏ đó,
ấy mới thật là buông bỏ. Nói cách minh bạch hơn, buông
bỏ tất cả mà vẫn thấy không có ai đang buông bỏ và không
có gì đang được buông bỏ, ấy mới thật là buông bỏ.
Trong cảnh giới này thì, có muốn gọi là buông bỏ hay nhấc
lên cũng chỉ là tạm gọi thôi, có thể cho là cùng nghĩa
cũng được, mà trái nghĩa cũng được, vì lời nào cũng vẫn
là xa lắm.
Đó
chính là ý của Triệu Châu khi bảo một vị Tăng buông hết
đi, Tăng trả lời là không một vật thì còn gì là buông.
Triệu Châu đáp, vậy thì nhấc lên. Buông tất cả rồi tức
là đang ở cảnh giới của vô ngã (nói theo kinh Luận), hay
là vô tâm (nói theo Thiền), thì lấy ngã nào với tâm nào
mà nhấc lên nữa. Nhưng cũng chính ở cảnh giới này của
định mà muôn pháp mới được thành tựu, nên còn tạm gọi
là nhấc lên, do đây mà Lục độ vạn hạnh mới thật sự
là Lục độ vạn hạnh. Còn như nếu lấy tâm sanh diệt mà
tu Lục độ vạn hạnh thì vẫn còn xa đạo lắm vậy, nếu
không muốn mượn lời chư Tổ mà bảo đấy chính là ngoại
đạo giả danh con Phật.
-
Đản
mạc tắng ái
-
4 Đỗng
nhiên minh bạch
-
(Quí
hồ không thương ghét
-
Thì tự
nhiên sáng ngời)
Thương
đây (ái) là phản nghĩa của ghét (tắng), là những phản
ứng có điều kiện của tâm, là những đáp ứng từ những
phóng chiếu của tâm, là những đánh thức tình cảm của
cái đã biết (the known, chữ của Kirshnamurti), chứ hoàn toàn
không phải là từ bi gì cả. Đừng có thương với ghét, tức
là đừng có nhìn đời bằng cái đã biết mà sẽ có những
đáp ứng tình cảm thương ghét xảy ra, thì tự nhiên cái
bất khả tri hiển lộ.
Lòng
Đại Bi hoàn toàn không có nghĩa của chữ thương ghét trên.
Đại Bi là tình yêu thương khởi dậy từ khi nhìn thấy Sự
Thật, không do một nguyên nhân nào, không là một đáp ứng
từ thiên kiến nào, và hoàn toàn không phân biệt, cũng như
mặt trời thì phải chiếu sáng vậy. Vấn đề là khi đám
mây thương-ghét-của-đáp-ứng-và-điều-kiện tan đi thì ánh
mặt trời hiện ra. Lúc bấy giờ thì, như Thầy tôi nói: "Có
chĩa súng vào ngực bắt con căm thù thì cũng không căm thù
nổi."
-
Hào li
hữu sai
-
6 Thiên
địa huyền cách
-
(Sai lạc
nửa đường tơ
-
Đất
trời liền phân cách)
Thiếu
nhi Việt Nam thường chơi trò chơi "Thiên Đường Địa Ngục
hai bên..." Chúng ta, nhân loại cũng đang chơi trò chơi "Niết
bàn Phiền não hai bên..." Vấn đề chỉ là sơ xẩy chút niệm
của tâm mà có thể kéo chúng ta đi chưa biết tới kiếp nào
gỡ được.
Thầy
tôi nói: "Cầm một viên sỏi nhỏ ném xuống mặt hồ, sóng
có thể gợn tới vô lượng kiếp sau."
Nhưng
nếu nói rằng xóa sạch cả hai bờ Niết bàn phiền não thì
vẫn còn là Như Lai Thiền, chưa là Tổ Sư Thiền. Mới biết,
vào được Tông chỉ thật sự là khó. Ngay đến bài kệ nghèo
(có trích dẫn ở trên) của Ngài Hương Nghiêm vẫn còn bị
sư huynh là Ngài Ngưỡng Sơn chê là mới thấu Như Lai Thiền,
chưa đạt Tổ Sư Thiền.
-
Dục
đắc hiện tiền
-
8 Mạc
tồn thuận nghịch
-
(Chớ
nghĩ chuyện ngược xuôi
-
Thì hiện
liền trước mắt)
Thế
nào là chuyện ngược xuôi? Chưa Ngộ thì bất cứ gì cũng
là chuyện ngược xuôi hết, chuyện Phật với Ma, phiền não
với Niết bàn, Thiện với Ác, Đúng với Sai, v.v... Ngộ rồi,
thì tất cả đều là giải thoát.
Ngay
đến các thừa Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát cũng vẫn là
chuyện ngược xuôi vậy. Có thể tìm một thí dụ cho minh
bạch nghĩa này, từ bài Bát Nhã Tâm Kinh, một trong sáu cửa
vào nhà Tổ.
Thừa
Thanh Văn đặt trên căn bản Tứ Diệu Đế: Khổ, Tập, Diệt,
Đạo. Bát Nhã Tâm Kinh viết: "Vô Khổ Tập Diệt Đạo." Dịch
là, trong cảnh giới của giác ngộ thì thấy rằng, vốn thật
không hề có cái gì gọi là Đau khổ, không hề có cái gì
gọi là Nguyên nhân của đau khổ, không hề có cái gì gọi
là khả năng trừ diệt nguyên nhân của đau khổ, và cả con
đường giải thoát cũng không hề có nữa.
Phá
Thừa Thanh Văn xong, Tâm kinh lại phá bỏ Thừa Duyên Giác:
"Vô vô minh, diệc vô vô minh tận." Vốn thật không từng có
cái gì gọi là vô minh, mà cũng không từng có cái gì gọi
là chấm dứt cái vô minh. Vô minh là đầu mắc xích của 12
Nhân duyên.
Kinh
tiếp: "Nãi chí vô lão tử, diệc vô Lão tử tận." Dịch là,
cho tới không hề có cái gì gọi là già chết, và cũng không
hề có cái gì gọi là chấm dứt già chết. Lão tử, tức
già chết, là mắc xích cuối cùng của 12 Nhân duyên. Bát Nhã
Tâm Kinh thế là đã phá triệt để cả đầu và cuối của
Thập Nhị Nhân Duyên.
Lời
của Tâm kinh mạnh bạo như vậy, đâu hề có dịu dàng hơn
lời của Lâm Tế, Đức Sơn đâu.
Phá
bỏ hai Thừa Thanh văn và Duyên Giác xong, Tâm kinh lại phá
bỏ Bồ Tát thừa. Bồ Tát phải tu Lục Độ Ba La Mật, trong
đó cuối cùng là Trí Huệ Ba La Mật, gọi tắt là Trí. Ba
La Mật, phạn ngữ là paramita, tức đáo bỉ ngạn, tức qua
bờ bên kia, tức là đắc vậy. Kinh lại nói, "Vô Trí diệc
vô Đắc," vốn thật không hề có cái gì gọi là Trí, mà
cũng không hề có cái gì gọi là chứng đắc, và rồi cũng
không hề có cái gì gọi là cái có thể đắc hết.
Phá
hết cả 3 thừa xong thì còn thừa nào để mà tu? Không còn
điều gì để tu hết, vì sự thật đã hiển lộ trước mắt
vậy (đắc hiện tiền).
(Ghi
chú cho ấn bản năm 2001: Theo Hòa Thượng Duy Lực trong một
bài lược giải, bài Bát Nhã Tâm Kinh này còn có ý phá luôn
cả Phật Thừa qua câu "Viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu
cánh Niết Bàn." Xin ghi thêm nơi đây để học nhân tham khảo.)
-
Vi thuận
tương tranh nhau
-
9 Thị
vi tâm bệnh
-
(Đem
thuận nghịch chỏi
-
Đó chính
là tâm bịnh)
-
Bất
thức huyền chỉ huyền
-
10 Đồ
lao niệm tịnh
-
(Chẳng
nắm được mối
-
Hoài
công lo niệm tịnh)
Nếu
không nắm được huyền chỉ, tức Tông Chỉ Thiền Đốn Ngộ,
thì sẽ mệt sức niệm tịnh vậy. Niệm tịnh là nghĩ tới,
gìn giữ cái tịnh. Làm vậy thì mệt cả đời mà biết tới
kiếp nào tới. Sao không chịu dấn bước một lần nắm lấy
cái Bất Động giữa tất cả cái Động, nắm lấy cái Vô
Niệm giữa biển trời của Niệm thì tức thì xong vậy. Còn
cứ ngồi tịnh hoài mà không thâm nhập được ý chỉ thì
chỉ là mài ngói làm gương vậy. Than ôi, giác ngộ đâu có
ở chỗ ngồi với không ngồi.
-
Viên
đồng thái hư
-
14 Vô
khiếm vô dư
-
(Tròn
đầy tợ thái hư
-
Không
thiếu cũng không dư)
Hai câu
này chỉ vào Thanh Tịnh Pháp Thân mà nói. Chứng nhập được
cảnh giới này thì không còn gì để nói năng, tư lường,
ngờ vực, tu với không tu nữa. Chứng nhập Pháp Thân thì
mọi chuyện phiền não với Niết bàn đều vắng bặt, chỉ
là giấc mộng đêm qua thôi.
Ngài
Bàng Uẩn tham vấn Mã Tổ hỏi:
- Ai
chẳng cùng muôn pháp làm bạn?
Câu
này chỉ thẳng vào Pháp Thân mà hỏi. Tuyệt diệu, hỏi được
câu này là chơi trò cơ phong được rồi vậy, đem ngôn ngữ
bình thường mà hỏi ý tột cùng là nội công thâm hậu rồi
vậy. Muôn pháp là các pháp sanh diệt. Kẻ không cùng muôn
pháp làm bạn là pháp vô sanh vậy. Bọt sóng có thể thay đổi,
thiên biến vạn hóa, nhưng Tánh nước không hề đổi vậy.
Mã
Tổ đáp:
- Khi
nào ông uống cạn nước Tây giang, ta sẽ nói cho ông nghe.
Bàng
Uẩn ngộ ngay dưới lời.
Làm
sao uống cạn hết nước Tây giang được nếu không chứng
nhận được cảnh giới viên đồng thái hư kia, tức là ngộ
tính vô ngã, chứng nhập Pháp thân. Bấy giờ thì đâu có
cần lời với không lời, nghe với không nghe. Làm cái gì thì
bấy giờ cũng chỉ là bày trò đóng tuồng cho đời sau ngơ
ngơ ngác ngác vậy.
-
Lương
do thủ xả
-
16 Sở
dĩ bất như
-
(Bởi
mảng lo giữ bỏ
-
Nên chẳng
được như như)
-
Mạc
trục hữu duyên
-
18 Vật
trụ không nhẫn
-
(Ngoài
chớ đuổi duyên trần
-
Trong
đừng ghì không nhẫn)
-
Nhứt
chủng bình hoài
-
20 Dẫn
nhiên tự tận
-
(Cứ
một mực bình tâm
-
Thì tự
nhiên dứt tận)
Như có
nghĩa là thì như vậy, là nghĩa tánh bất động của vạn
pháp, là nghĩa cõi Phật A Súc (Bất Động) được hóa hiện
trong từng hạt bụi của cõi Ta Bà này, là Tánh nước không
hai không biến đổi trong vô lượng bọt sóng.
Nếu
cứ giữ bỏ (thủ xả) thì chẳng nhập được cảnh giới
đó của chư Phật vậy. Thế nào là giữ bỏ? Là nghĩa hai
đầu của tâm phân biệt vậy, nói khác là, hành nghiệp của
tâm lựa chọn vậy.
Một
khi thấy được Tánh Như của vạn pháp thì không còn thấy
có trong với ngoài nữa, nói khác thì là, vẫn thấy có trong
với ngoài nhưng cả hai hiện rõ một Tánh nên ngoài không
bụi nào bám được và trong thì chẳng cần ghì, với giữ,
với chấp trì gì cả kể cả cái Tánh không của vạn pháp.
Khi
duyên trần đến, thì phản ứng của người không tu thường
là mê muội chạy đuổi theo, còn phản ứng của người tu
thường là quán Tánh không của các pháp để khỏi mê mờ.
Theo Tổ Sư Thiền thì như vậy vẫn là sai. YÙ chỉ nơi đây
là:
-
Cứ một
mực bình tâm
-
Thì tự
nhiên dứt tận
Bình
tâm đây chính là bình thường tâm, nghĩa là nói ở phần
đầu, cũng chính là nghĩa chữ hồn nhiên, ngây thơ mà Krishnamurti
thường nói. Bồ Đề Đạt Ma cũng nói với Huệ Khả tương
tự: "Ngoài dứt chư duyên, Trong không toan tính, Tâm như tường
vạch, mới là nhập Đạo." Phải minh bạch ngôn ngữ chỗ
này là, cứ thoải mái hồn nhiên thôi, đừng khởi tâm theo
đuổi hay dứt bỏ hay toan tính gì cả, dù là toan tính làm
Phật.
-
Chỉ
động qui chỉ
-
22 Chỉ
cách di động
-
(Ngăn
động mà cầu tịnh
-
Hết
ngăn lại động thêm)
-
Duy trệ
lưỡng biên
-
24 Ninh
tri nhứt chủng
-
(Càng
trệ ở hai bên
-
Thà rõ
đâu là mối)
Bốn
câu này là Tổ Tăng Xán phá Như Lai Thiềân, cả Tiểu Thừa
và Đại Thừa. Hai câu đầu phá nguyên tắc đối trị của
Thiền Tiểu Thừa. Hai câu sau phá nguyên tắc chuyển y của
Thiền Đại Thừa. Tổ Sư Thiền là pháp tu-cái-không-tu, tìm
ngay tận gốc Tánh mà tu nên không thấy có gì là đối trị
hay chuyển y hết. Nghĩa tận gốc Tánh này còn gọi tắt là
Tông. Cho nên còn gọi Tổ Sư Thiền là Tâm Tông, hay tắt là
Tông để phân biệt với Giáo.
-
Nhứt
chủng bất thông
-
26 Lưỡng
xứ thất công
-
(Đầu
mối chẳng rõ thông
-
Hai đầu
luống uổng công)
-
Khiển
hữu một hữu
-
28 Tòng
không bối không
-
(Đuổi
có liền mất có
-
Theo không
lại phụ không)
Đầu
mối, tức nhứt chủng, tức gốc Tánh, tức Nhất Chân Pháp
Giới Tâm, không vào Tánh mà tu thì biết tới bao giờ xong.
Hai câu đầu đoạn này nhấn mạnh nghĩa của bốn câu trên.
Theo
đuổi cái có làm chi vì chư pháp vốn vô thường, vả lại
chúng ta đã muôn kiếp chạy theo cái có rồi. Bọt sóng đã
tan rồi hợp vô lượng kiếp rồi cơ mà.
Nhưng
nếu theo cái không thì cũng sẽ phản bội cái không, không
hiểu theo nghĩa phản nghĩa của Có, vì ngay khi ấy Không đã
trở thành một đối tượng của Tâm, tức là trở thành một
pháp phân biệt, thì lại hỏng nữa. Ngay cả đây có là cái
Chân Không Diệu Hữu thì cũng chỉ mới hợp giáo nghĩa kinh
điển, chứ vẫn chưa hợp Tông chỉ.
Có
thể lấy một ví dụ để thấy các cách hiển Tông chỉ khác
nhau, thích hợp cho đoạn văn này.
Sư
Toàn Khoát Nham Đầu cùng hai bạn đạo là các Sư Khâm Sơn,
Tuyết Phong lúc đang tham học Đức Sơn, có lần họp nhau,
bỗng dưng Tuyết Phong chỉ một chén nước (đây có thể hiểu
như là một hành động thách đấu, một chiến thư vậy).
Khâm
Sơn nói: "Nước trong, trăng hiện." Trăng là Tánh của Tâm,
là Diệu Minh Chân Tâm của vạn pháp. Khi cặn lắng xuống,
khi sóng êm đi, khi mây tan hết, thì đương nhiên Pháp Thân
hiện.
Tuyết
Phong nói: "Nước trong, trăng chẳng hiện." Ở đây là cảnh
giới nước với trăng đã là một Tánh, thấy được chỗ
này là vào được Định của Tổ Sư Thiền rồi vậy. Còn
thấy có trăng hiện là vẫn còn thấy trăng là đối tượng
của nước, cho nên mới cần có nước trong để cho trăng
hiện, nhưng thoát ý Ngài Tuyết Phong, chúng ta nên hiểu là
dù cho nước có trong đi nữa, trăng vẫn không lìa nước thì
gọi chi là hiện hay chẳng hiện. Hoàn toàn không có chuyện
chủ nước với khách trăng gì cả.
Nhưng
ta nên chờ xem câu trả lời của Ngài Nham Đầu mới là diệu
chỉ.
Sư
Nham Đầu đá chén nước rồi đi.
Đây
chính là ý chỉ Bồ Đề Đạt Ma vậy, hoàn toàn xa lìa tất
cả những gì của có với không, của chủ thể nước với
khách thể trăng, của Tướng với Tánh, vân vân... Câu trả
lời vượt lên (hướng thượng) này chỉ bất ngờ có khi
tâm đã hoàn toàn tương ưng vậy.
-
Đa ngôn
đa lự
-
30 Chuyển
bất tương ứng
-
(Nói
nhiều thêm lo quẩn
-
Loanh
quanh mãi chẳng xong)
-
Tuyệt
ngôn tuyệt lự
-
32 Vô
xứ bất thông
-
(Dứt
lời dứt lo quẩn
-
Đâu
đâu chẳng suốt thông)
Nói năng
với suy nghĩ chỉ làm lớn thêm tâm phân biệt thôi, chỉ càng
lúc càng xa đạo vậy. Phải chấm dứt cái gốc của nói năng
với suy nghĩ này, tức là gốc tâm phân biệt lựa chọn này
thì mới xong được.
Nhưng
nếu không dùng ngôn ngữ thì khó phát triển Tâm tông, nên
chư Tổ khi dùng lời có nhấn mạnh là phải dùng hoạt cú
chứ đừng dùng tử cú. Hoạt cú là trong lời không có lời,
tức không có vướng chuyện hai đầu đúng sai, phải trái,
có không, lành dữ, vân vân... Còn tử cú là trong lời có
lời.
Lấy
thí dụ trong cuộc đấu pháp 3 vị Sư ở đoạn trên. Lời
của Ngài Khâm Sơn, nước trong trăng hiện, là một phương
tiện an tâm được, nhưng vẫn bị xét là tử cú, vì là trong
lời có lời, có hai đầu đúng sai, chủ khách... Lời của
Ngài Tuyết Phong, nước trong trăng chẳng hiện, là hoạt cú
vì trong lời không còn hai đầu nữa, gì mà trong với chẳng
trong, hiện với chẳng hiện, dù là nước trong đi nữa trăng
cũng chẳng hiện vì nước với trăng không hai không khác.
Nhưng
tới hành động của Ngài Nham Đầu mới là tối hậu cú vậy.
Đá chén nước là xa lìa tất cả những gì gọi là tử với
hoạt rồi vậy. Tông chỉ thật sự là khó tin, khó hiểu,
khó vào.
-
Qui căn
đắc chỉ
-
34 Tùy
chiếu thất tông
-
(Trở
về nguồn nắm mối
-
Dõi theo
ngọn mất tông)
-
Tu du
phản chiếu
-
36 Thắng
khước tiền không
-
(Phút
giây soi ngược lại
-
Trước
mắt vượt cảnh không)
-
Tiền
không chuyển biến
-
38 Giai
do vọng kiến
-
(Cảnh
không trò thiên diễn
-
Thảy
đều do vọng kiến)
-
Bất
dụng cầu chơn
-
40 Duy
tu tức kiến
-
(Cứ
gì phải cầu chơn
-
Chỉ
cần dứt sở kiến)
Tám câu
này lại lần nữa hiển Tông chỉ vậy. Câu đầu, qui căn
đắc chỉ, là yêu cầu nắm lấy Tánh và tu. Tánh nước chỉ
có một, nhưng bọt sóng thì vô lượng hết hợp rồi tan,
làm sao theo sóng mà tu nổi.
Niệm
thì ngàn niệm vạn niệm dù có theo dõi quan sát hết chỉ
rồi quán, cũng chẳng biết tới bao giờ thể nhập Tánh Vô
Tự Tánh của Niệm được. Sao không vào các cảnh giới Vô
Niệm mà tu, là về ngay tận gốc mẹ sanh của Niệm, thì sẽ
đốn nhập vậy. Và các cảnh giới Vô Niệm mới hiện rõ
Tánh Vô Tâm của vạn pháp vậy.
Lấy
thí dụ như gương sáng. Nếu cứ theo các ảnh hiện thì vô
lượng ảnh vậy, công đâu mà chạy theo bóng với hình. Khi
có ảnh ví như có Niệm, khi không ảnh ví như Vô Niệm, nhưng
có ảnh với không ảnh vẫn do từ một Tánh sáng của gương
mà ra. Lìa tánh sáng này thì không thể có chuyện ảnh với
vô ảnh.
Tông
chỉ chính là theo Tánh sáng đó mà tu, chẳng bận tâm chuyện
có ảnh hay không ảnh (xa lìa cả Có và Không). Pháp Định
này chính là Tối Thượng Thừa vậy.
Hai
câu, "Cảnh không trò thiên diễn, thảy đều do vọng kiến,"
tương đương với ý kinh Hoa Nghiêm: "Tâm như diễn viên, ý
như thằng hề." Vốn thật là không đó (là bổn lai vô nhất
vật, chỉ Tánh mà nói), nhưng thiên biến bạn hóa vì do Tâm
động, do sở kiến hư vọng, do phân biệt, nên Chân Tâm bị
chấp y làm tâm mình, tâm người, tâm một ai, nên mới trở
thành nhảy múa lung tung như diễn viên, như thằng hề. Nếu
lấy cái tâm diễn viên, thằng hề đó mà tu thì muôn kiếp
không xong vậy. Vậy nên Tổ Sư Thiền không lấy tâm đó mà
tu, chỉ riêng lấy Tánh của Tâm mà tu nên còn gọi là "giẫm
ngược sóng và nước," lật ngược Tướng là Tánh, lật ngược
Tâm là Vô Tâm, vào Tánh này mà tu thì như Lục Tổ nói, dù
có múa gươm vào trận vẫn là thường định, vẫn là hiển
hiện Pháp Thân trước mắt vậy.
Bấy
giờ thì cần chi mà mê làm Phật, làm Tổ, cần chi mà cầu
chơn nữa vì thấy được sóng là nước tức thì vào ngay
vị vô công dụng hạnh rồi vậy.
-
Nhị
kiến bất trụ
-
42 Thận
vật truy tầm
-
(Hai bên
đừng ghé mắt
-
Cẩn
thận chớ đuổi tầm)
-
Tài hữu
thị phi
-
44 Phấn
nhiên thất tâm
-
(Phải
trái vừa vướng mắc
-
Là nghiền
đốt mất tâm)
Bốn
câu này chỉ lập lại các ý trên và cảnh giác học nhân
không bận tâm tới tất cả gì gọi là nhị biên (hai bên).
Tông
chỉ Thiền là đi con đường vượt lên (hướng thượng).
Dẹp chuyện (nói dẹp vẫn còn sai, vì dẹp là một hành động,
một nỗ lực của Tâm) hai bên, phải trái, vân vân... là trở
lại ý câu miễn đừng lựa chọn.
-
Nhị
do nhứt hữu
-
46 Nhứt
diệc mạc thủ
-
(Hai do
một mà có
-
Một
rồi cũng buông bỏ)
-
Nhứt
tâm bất sanh
-
48 Vạn
pháp vô cửu
-
(Một
tâm ví chẳng sanh
-
Muôn
pháp tội gì đó)
-
Vô cửu
vô pháp
-
50 Bất
sanh bất tâm
-
(Không
tội thì không pháp
-
Chẳng
sanh thì chẳng tâm)
-
Năng
tùy cảnh diệt
-
52 Cảnh
trục năng trầm
-
(Tâm
theo cảnh mà bặt
-
Cảnh
theo tâm mà chìm)
Công
án: "Vạn pháp quy Nhất, Nhất quy hà xứ," tức là, vạn pháp
quy về Một, vậy Một quy về đâu, là một công án thuộc
loại khó giải, khó nhập, khó hội. Bởi vì công án này vừa
khai thị Pháp Thân (quy về đâu, không thâm nhập Pháp Thân
thì không thấy được cái đâu, cái xứ này), vừa khởi tâm
phân biệt nơi học nhân, giữa nhiều và một, giữa một và
cái chưa biết. Trong pháp Tham Công Án nêu nơi phần đầu,
thì cách dụng tâm để giải công án này dễ bị phân đôi.
Chư Tổ có vị còn tránh, huống gì là chúng ta.
Tuy
nhiên hai câu: "Hai do một mà có, một rồi cũng buông bỏ"
làm phá hủy công án trên, mà không cần phải trả lời chữ
đâu vậy.
Ta
thấy, nắm vững Tông thì công án này tự hủy. Và ngược
lại, khi giải được vài công án căn bản thì vững vàng
an trụ trong Tông chỉ được vậy.
Nếu
phải trình bày kiến giải cho Thầy thì bắt buộc phải hiển
Tông chỉ (bằng lời hoặc cách nào đó) cho công án này.
Nhưng
nếu đang vấn đáp cơ phong với người khác thì phải tránh
chữ Một và chữ về đâu vì bất kỳ câu nói nào vướng
vào hai chữ có ý khởi tâm phân biệt này đều sai, đều
không hiển được cảnh giới vô phân biệt. Nhưng khi chạy
trốn những chữ này cũng vẫn là sai Tông chỉ. Vấn đề
là trong sóng nắm lấy nước thôi, trong niệm khai thị vô
niệm thôi, và trong lời phải hiểu được cái không lời.
Các
câu tiếp theo ý là, tâm sanh thì mới có tội, tâm không sanh
thì không có gì gọi là tội lỗi. Tới đây chúng ta sẽ thấy
hai quan điểm khác nhau về tội trong Thiền.
Quan
điểm thứ nhất là, đã vô tâm thì không có tội gì hết,
là xa lìa nhân quả. Tuệ Trung Thượng Sĩ đứng về lập trường
này. Để trả lời câu hỏi của Sư Pháp Loa: "Chúng sanh quen
cái nghiệp ăn thịt uống rượu, làm thế nào thoát khỏi
tội báo?" Thượng Sĩ trả lời:
"Nếu
có người đứng xây lưng lại, thình lình có vua đi qua sau
lưng, người ta không biết hoặc cầm vật gì ném vào vua,
người ấy có sợ không? Ông vua có giận không? Như thế biết
rằng hai việc ấy không dính dấp gì nhau vậy."
Ngài
kín đáo dặn thêm: "Đừng bảo cho người không ra gì hết."
Tín
Tâm Minh đứng về lập trường này.
Quan
điểm thứ hai là, dù là vô tâm nhưng vẫn phải chịu chung
một cộng nghiệp như chúng sanh. Thầy tôi nhấn mạnh ý bất
muội nhân quả (không mê mờ nhân quả) để chống lại ý
bất lạc nhân quả (không rời vào nhân quả) như sau: "Ngay
đến Phật còn phải chịu dư nghiệp nữa, như lúc bị nhức
đầu ba ngày vì đã đánh vào đầu con cá voi ba gậy từ nhiều
kiếp về trước." Cho nên đừng ném viên sỏi nào vào mặt
hồ.
Tuy
nhiên, khi tôi hỏi về việc nên giữ giới luật thế nào,
Thầy đáp:
- Con
chỉ cần giữ một giới thôi, đó là giới của Phật?
- Thưa
Thầy, giới của Phật là giới nào?
Thầy
đáp:
- Giới
của Phật là Bình Đẳng.
Xin
ghi lại cả hai quan điểm ở đây để học nhân tùy nghi.
Hai
câu cuối "Tâm theo cảnh mà bặt, cảnh theo tâm mà chìm" là
một cảnh giới của pháp định này, được Ngài Tăng Xán
nêu ra để giải thích nghĩa vô Tâm thì vô Tội đã nêu trên.
-
Cảnh
do năng cảnh
-
54 Năng
do cảnh năng
-
(Tâm
là tâm của cảnh
-
Cảnh
là cảnh của tâm)
-
Dục
tri lưỡng đoạn
-
56 Nguyên
thị nhứt không
-
(Ví biết
hai đằng dứt
-
Rốt
cùng chỉ một không)
-
Nhứt
không đồng lưỡng
-
58 Tề
hàm vạn tượng
-
(Một
không, hai mà một
-
Bao gồm
hết muôn sai)
-
Bất
kiến tinh thô
-
60 Ninh
hữu thiên đảng
-
(Chẳng
thấy trong, thấy dục
-
Lấy
gì mà lệch sai)
Khi thể
nhập được Tông chỉ, thì tâm học nhân sẽ tự nhiên rơi
vào các cảnh giới của pháp định này, được diễn bày
bằng 8 câu trên. Các giới này đã diễn bày rõ trong bài "Ảnh
Trầm Hàn Thủy." Hai câu "Tâm là tâm của cảnh, Cảnh là cảnh
của Tâm" chỉ giai đoạn 3 trong Tứ Liệu giản của dòng Lâm
Tế. Chữ Tâm đây tức là chữ Nhân trong bài kệ. Đây chính
là cảnh giới Tâm Vật Nhất Như, người với hoa vô biệt.
Sáu câu sau là phần thứ tư của Tứ Liệu Giản, là cảnh
giới của tuyệt cùng Tông chỉ. Pháp định này còn được
gọi là Tối Thắng Kim Cương Định vậy.
-
Đại
đạo thể khoan
-
62 Vô
dị vô nan
-
(Đạo
lớn thể khoan dung
-
Không
dễ mà chẳng khó)
-
Tiểu
kiến hồ nghi
-
64 Chuyển
cấp chuyển trì
-
(Kẻ
tiểu kiến lừng khừng
-
Gấp
theo và chậm bỏ)
Đối
với kẻ một phen thấy Tánh thì không còn gì là khó nữa.
Còn chưa thì dĩ nhiên là không dễ.
Cả
gia đình Ngài Cư Sĩ Bàng Uẩn đều là bậc đại ngộ. Một
lần Ông nói:
- Khó
khó mười tạ dầu mè trên cây vuốt.
Bàng
phu nhân đáp:
- Dễ
dễ trên đầu trăm cỏ ý Tổ Sư.
Linh
Chiếu, cô con gái, tiếp theo:
- Cũng
chẳng khó, cũng chẳng dễ, đói đến thì ăn, mệt thì ngủ.
Câu
đáp của Linh Chiếu là giai đoạn của kẻ đang bảo nhậm
Tâm Giác Ngộ. Nhưng câu của Bàng phu nhân có thể dùng làm
phương tiện an tâm được. YÙ là cứ sống thoải mái tự
nhiên như đầu ngọn cỏ vậy, gió thổi thì nghiêng, không
thì đứng, đừng một cưỡng tâm nào hết, là hợp được
ý của Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma vậy. Trên đầu trăm cỏ ý
Tổ Sư, bách thảo đầu thượng Tổ Sư ý, là một câu đáp
hợp với đa số căn cơ vậy.
-
Chấp
chi thất độ
-
66 Tâm
nhập tà lộ
-
(Chấp
giữ là nghiêng lệch
-
Dấn
tâm vào nẻo tà)
-
Phóng
chi tự nhiên
-
68 Thể
vô khứ trụ
-
(Cứ
tự nhiên buông hết
-
Bổn
thể chẳng lại qua)
Bốn
câu này cũng hiển Tông chỉ. Nghĩa này đã rất minh bạch
trong bài thơ Đại Thủ Ấn Văn được dịch ở đoạn trên.
Một chữ phóng cũng đủ vào pháp rồi vậy. Phóng là buông
bỏ, là cởi mở, là thoải mái, là chàng Qui Tông đi tiêu
chảy, là người Đạo Nguyên buông xả thân tâm. Là công án
Tùy Tha Khứ, là cho theo người mà đi...
-
Nhiệm
tánh hiệp đạo
-
70 Tiêu
dao tuyệt não
-
(Thuận
tánh là hiệp đạo
-
Tiêu
dao dứt phiền não)
-
Hệ niệm
quai chơn
-
72 Trầm
hôn bất hảo
-
(Càng
nghĩ càng trói thêm
-
Lẽ đạo
chìm mê ảo)
-
Bất
hảo lao thần
-
74 Hà
dụng sơ thân
-
(Mê ảo
nhọc tinh thần
-
Tính
gì việc sơ thân)
Nếu
đã thuận Tánh được thì pháp tu chỉ còn là cứ vui chơi
suốt một đời thôi. Lần đầu tiên khi gặp Thầy tôi, tôi
có hỏi hàm ý chính trị:
- Như
thế nào để hộ trì chánh pháp Như Lai?
- Phải
Thấy Tánh.
Chỉ
ba chữ trên cũng đủ quét sạch hết những mây mù chính trị
để đưa học nhân vào sân chùa đùa chơi cùng Chư Tổ. Thấy
Tánh là yêu cầu đầu tiên của Tổ Sư Thiền. Vào cảnh giới
này rồi cứ vui chơi suốt một đời thôi dù đã là chuyển
pháp luân rồi vậy. Còn làm gì chỉ là tùy duyên thôi.
Phải
Thấy Tánh chính là thông điệp của Tổ Sư Bồ Đề Đạt
Ma vậy. Như vậy, ý chỉ của Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma là
gì? Câu trả lời chính xác và trực tiếp nhất là của Ngài
Lâm Tế:
- Nếu
có ý, tự cứu cũng chẳng xong.
Câu
này thích hợp để chú giải đoạn này vậy.
Phải
Thấy Tánh cũng là chìa khóa giải được tất cả các công
án về Pháp Thân: Thí dụ như công án Chích Thủ Diệu Thanh,
Tiếng Vỗ Của Một Bàn Tay, một khi học nhân đã thâm nhập
Tánh Nghe Thường Trụ thì làm gì còn bị lừa gạt bởi chuyện
hai bàn tay với một bàn tay, hay chuyện tiếng vỗ có với
tiếng vỗ không; Tánh Nghe có bao giờ gián đoạn đâu, có
bao giờ sanh đâu mà nói tới diệt...
-
Dục
thú nhứt thặng
-
76 Vật
ố lục trần
-
(Muốn
thẳng đường nhứt thặng
-
Đừng
chán ghét sáu trần)
-
Lục
trần bất ác
-
78 Hoàn
đồng chánh giác
-
(Sáu
trần có xấu chi
-
Vẫn
chung về giác đấy)
-
Trí giả
vô vi
-
80 Ngu
nhơn tự phược
-
(Bậc
trí giữ vô vi
-
Người
ngu tự buộc lấy)
Nhất
thặng đây chính là Nhất thừa, là con đường làm Phật.
Sáu trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, là đối tượng
của sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Đừng có say mê
nhưng cũng đừng chán ghét nó vì trong cái thấy này thì vạn
pháp (tất cả bọt sóng trên biển) trong vũ trụ đều từ
Nhất Chân Pháp Giới Tâm (Tánh nước của đại dương) mà
ra. Vì vậy cho nên cứ hồn nhiên thoải mái như đóa huệ
ngoài đồng là đủ vậy. Vô vi là nghĩa, không làm, mượn
từ tư tưởng Lão Trang trong truyền thống Trung Hoa để dùng
tương đương với các chữ vô tác, vô nguyện của nhà Phật.
-
Pháp
vô dị pháp Pháp
-
82 Vọng
tự ái trước
-
(Pháp
chẳng khác pháp
-
Do ái
trước sai lầm)
-
Tương
tâm dụng tâm
-
84 Khởi
phi đại thác
-
(Há chẳng
là quấy lắm
-
Sai tâm
đi bắt tâm)
Bốn
câu này là phá bỏ pháp của Như Lai Thiền. Tất cả các pháp
môn của Tiểu Thừa và Đại Thừa đều là tương tâm dụng
tâm.
Trong
chỗ cứu cánh thì phải thấy như vậy. Tuy nhiên, chúng ta
là những học nhân của thời Mạt Pháp này ít người vào
được cảnh giới này của pháp định bổn nhiên đó, cho
nên cần tránh mượn lời chư Tổ mà nói chỗ chưa tới của
mình, e thế nào cũng có lỗi vậy.
Phá
bỏ tư tưởng tương tâm dụng tâm ở nhiều chỗ khác còn
gọi đó là, tâm thượng sanh tâm, tuyết thượng gia sương,
đầu thượng trước đầu.
-
Mê sanh
tịch loạn
-
86 Ngộ
vô hảo ác
-
(Mê sanh
động sanh yên
-
Ngộ
hết xấu hết tốt)
-
Nhứt
thiết nhị biên
-
88 Vọng
tự châm chước
-
(Nhứt
thiết việc hai bên
-
Đều
do vọng châm chước)
Tất
cả các cảnh tịch (vắng lặng) và loạn (động) đều là
các cảnh hư vọng sóng và không sóng của mặt nước, là
ảnh và không ảnh của gương soi. Thâm nhập được pháp môn
hướng thượng nhất lộ, một đường vượt lên, là sống
an nhiên trong tánh của nước và gương thì các cảnh hư vọng
đó, sóng và không sóng, ảnh và không ảnh, tịch và loạn,
đều tự nhiên xa lìa.
Ngộ
rồi thì cũng tự nhiên xa lìa các cảnh của Thiện và Ác.
Làm thiện thì được hưởng quả phước ở các cõi trời
người. Làm ác thì gặp quả xấu. Pháp môn này hoàn toàn
xa lìa tất cả những gì của Thiện và Ác. Đây chính là
Đại Giải Thoát pháp môn vậy.
Thâm
nhập được pháp định này thì sẽ nói như Ngài Viên Ngộ:
"Nếu
là người thấu đạt nên bắt lấy bò của dân cày, đoạt
lấy cơm của kẻ đói."
Dân
cày là người đi gieo trồng ruộng phước (phước điền).
Kẻ đói là người đang tìm cầu Phật Pháp. Tất cả những
hành động gieo trồng ruộng phước với tìm cầu Phật Pháp
đều là sai lầm, chỉ thêm tà kiến, luân hồi miên viễn
thôi, đều chỉ là những khởi động của tâm. Cứ hồn nhiên
thoải mái thì đâu là chẳng đại phước điền, khắp pháp
giới đâu mà chẳng là cơm (vô tình thuyết pháp).
-
Mộng
huyễn không hoa
-
90 Hà
lão bã tróc
-
(Mơ mộng
hão không hoa
-
Khéo
nhọc lòng đuổi bắt)
-
Đắc
thất thị phi
-
92 Nhứt
thời phóng khước
-
(Chuyện
thua được thị phi
-
Một
lần buông bỏ quách)
-
Nhãn
nhược bất thụy
-
94 Chư
mộng tự trừ
-
(Mắt
ví không mê ngủ
-
Mộng
mộng đều tự trừ)
-
Tâm nhược
bất dị
-
96 Vạn
pháp nhứt như
-
(Tâm
tâm ví chẳng khác
-
Thì muôn
pháp nhứt như)
Vạn
pháp đều là hoa đốm hư không vậy, vấn đề chỉ là buông
bỏ hết thì tâm nhập được. Nếu thấy rằng ta đang sống
ở trong một giấc mộng thì không gì có thể làm ta vướng
bận được. Nếu thấy ta đang ở trong một vở kịch thì
những hồi chuyển biến của vở tuồng đâu có đắm trước
được ta. Tất cả những xoay chuyển của các hồi chỉ còn
là dư nghiệp thôi.
-
Nhứt
như thể huyền
-
98 Ngột
nhĩ vong duyên
-
(Nhứt
như vốn thể huyền
-
Bằn
bặt không mảy duyên)
-
Vạn
pháp tề quán
-
100 Qui
phục tự nhiên
-
(Cần
quán chung như vậy
-
Muôn
pháp về tự nhiên)
Hai câu
đầu chỉ vào Tự Tánh Thanh Tịnh. Hai câu sau là yêu cầu
vào Tánh mà tu, là pháp môn thoải mái tự nhiên nhất của
Phật.
Huệ
Năng hỏi Chí Thành pháp dạy Giới Định Huệ của Đại Sư
Thần Tú, Chí Thành thưa:
- Đại
Sư Thần Tú dạy chúng tôi:
Các
điều dữ chớ phạm, đó gọi là giới,
Các
điều lành vâng làm, đó là huệ,
Giữ
ý mình trong sạch, đó là định.
Huệ
Năng nói:
- Giới
Định Huệ của thầy ông dùng để tiếp độ người Đại
Thừa; giới định huệ của tôi để tiếp độ hàng Tối
Thượng Thừa. Mọi pháp tôi nói ra đều ra từ tự tánh, không
bao giờ lìa Tự Tánh... Nghe kệ ta đây:
Tự
tâm vốn không bao giờ quấy, đó là tự tánh giới,
Tự
tâm vốn không bao giờ si, đó là tự tánh huệ,
Tự
tâm vốn không bao giờ loạn, đó là tự tánh định.
........
Tự
tánh vốn không quấy, không si, không loạn, lúc nào trí tuệ
cũng chiếu soi, tự do tự đại, dọc ngang đều ứng đối
đặng cả. Tự tánh tự sáng tự tỏ (tự ngộ), thoáng tu
thoáng ngộ, không thứ lớp gì hết. Muôn vật đều "không
tịch" thì có gì là thứ lớp?
(Pháp
Bảo Đàn Kinh, phẩm Đốn Tiệm).
-
Dẫn
kì sở dĩ
-
102 Bất
khả phương tỉ
-
(Đừng
hỏi vì sao cả
-
Thì hết
chuyện sai ngoa)
-
Chỉ
động vô động
-
104 Động
chỉ vô chỉ
-
(Ngăn
động chưa là tịnh
-
Động
ngăn khác tịnh xa)
-
Lưỡng
kí bất thành
-
106 Nhứt
hà hữu nhĩ
-
(Cái
hai đà chẳng được
-
Cái một
lấy chi mà...)
Đoạn
này cũng chỉ lập lại một số ý đã nói ở trên. Hai câu
giữa: "Ngăn động chưa là tịnh, Động ngăn khác tịnh xa"
chỉ tất cả các pháp môn có tu có chứng. Đã có tu thì đương
nhiên có chứng, có chứng thì đương nhiên có đắc, có đắc
thì đương nhiên có cái gọi là sở đắc. Và cái có sở
đắc đương nhiên cũng chỉ là hư vọng vì là cái có nguyên
nhân, có tạo thành, do nhân duyên mà nên. Luật nhân quả rất
minh bạch, cái có hợp thì có tan, có sanh thì có diệt. Vậy
thì phải vào pháp môn không tu không chứng.
Thế
nào để vào pháp môn vô tu vô chứng này? Đó là cái nhiều
không lập, mà cái một cũng không trụ vào.
-
Cứu
cánh cùng cực
-
108 Bất
tồn quĩ tắc
-
(Rốt
ráo đến cùng cực
-
Chẳng
còn mảy quĩ tắc)
-
Khế
tâm bình đẳng
-
110 Sở
tác câu tức
-
(Bình
đẳng hiệp đạo tâm
-
Im bặt
niềm tạo tác)
Tới
chỗ cùng cực thì không có gì gọi là quĩ tắc, con đường,
phương pháp hay nguyên tắc nữa.
Tăng
hỏi Lâm Tế:
- Tại
sao Hòa thượng không dạy ngồi Thiền, tụng kinh?
- Ta
không dạy ngồi Thiền, tụng kinh mà chỉ dạy làm Phật, làm
Tổ.
Ta
có thể đối chiếu pháp ngoại trên với công án "Vô phận
sự" của Triệu Châu như sau:
Tăng
hỏi Triệu Châu:
- Nhiệm
vụ của thầy tăng là gì?
Triệu
Châu đáp:
- Vô
phận sự.
Vấn
đề chỉ là khế hiệp với Tâm Bình Đẳng, tức là Tánh
Soi Chiếu Bình Đẳng Vô Phân Biệt của gương, hay Tánh Sáng
Chiếu Bình Đẳng Vô Phân Biệt của mặt trời, hay vị mặn
bình đẳng chan hòa vô phân biệt trong vô lượng bọt sóng
của biển.
Nhưng
chính cái "im bặt niềm tạo tác" cũng phải là một tự nhiên
nhi nhiên, chứ nếu không thì chính "cái không làm" đó cũng
đã trở nên "làm cái không làm" rồi vậy. Và như vậy hẳn
đã là sai rồi vậy.
-
Hồ nghi
tận tịnh
-
112 Chánh
tín điều trực
-
(Niềm
nghi hoặc lắng dứt
-
Lòng
tin hòa lẽ thực)
-
Nhứt
thiết bất lưu
-
114 Vô
khả kí ức
-
(Mảy
bụi cũng chẳng lưu
-
Lấy
gì mà kí ức)
-
Hư minh
tự nhiên
-
116 Bất
lao tâm lực
-
(Bổn
thể vốn hư minh
-
Tự nhiên
nào nhọc sức)
Một
khi thâm nhập được Pháp Thân Thường Định rồi thì tất
cả niềm nghi hoặc đều được giải trọn, bấy giờ mới
tin tất cả lời nói xuôi nói ngược nói dọc nói ngang của
chư Tổ đều chỉ vào Tánh mà nói. Trong cảnh giới này thì
tâm sẽ hiện ra tánh sáng chiếu soi vô phân biệt của gương
xưa.
Trong
cảnh giới này thì sống cũng như đã chết, và xa lìa hoàn
toàn những gì của hai thế giới sống với chết. Nói như
Krishnamurti thì là, mời rủ cái chết về vui cười nhảy múa
với cái sống. Nhưng đây cũng là nơi tâm được cực kỳ
linh hoạt, nhảy bén, không trở ngại. Câu hỏi ở đây nên
là, vậy thì cái gì linh hoạt, nhạy bén đó, và cái gì sống,
cái gì chết đó? Câu trả lời cho cái gì này nằm trong các
công án Pháp Thân vậy.
Còn
câu hỏi về cảnh giới của sống và chết, sống ư, chết
ư, lại nằm trong một công án Cơ Quan, Đại Ngô và Tiệm
Nguyên điếu tang. Tóm tắt công án như sau:
Đạo
Ngô và Tiệm Nguyên đến nhà thí chủ điếu tang. Tiệm Nguyên
vỗ hòm và nói: "Sống ư? Chết ư?" và Đạo Ngô đáp: "Sống
ư? Ta không nói. Chết ư? Ta không nói." (Đây là câu đáp loại
hoạt cú, trong lời không có lời. Đạp lên đây sẽ bị trượt
té. Dù vậy, Ngài vẫn chưa hiển Tông chỉ ở đây. Tuy nhiên,
thấy rõ là nói Chết cũng sai, mà nói Sống thì hoàn toàn
hỏng. Bởi vì lúc đó có thể vặn là, Ai Chết với Ai Sống?)
Tiệm
Nguyên hỏi thêm: "Tại sao không nói?" (Tiệm Nguyên bị vướng
vào cái có lời nên mới hỏi câu này. Đáng lý ra, thấy Đạo
Ngô nói thế, thì phải nhận ra ngay là có nói Chết hay nói
Sống thì đều sai cả. Không học được môn võ cơ phong này
thiệt uổng.)
Đạo
Ngô đáp: "Không nói là không nói." (Cây đáp này minh bạch
hơn câu trên, thứ nhất là làm mất tính phân đôi của câu
trên, thứ nhì là chỉ vào Tánh Không Tịch của muôn pháp).
Trên
đường về Tiệm Nguyên lại hỏi: "Nếu hòa thượng không
nói, con quật ngã hòa thượng liền." Đạo Ngô đáp: "Quật
thì cứ quật, còn nói thì không nói." Tiệm Nguyên bèn đánh
Thầy. Đạo Ngô nói: "Con nên rời chùa một thời gian. Nếu
Thầy Thủ tòa biết được sẽ làm khó dễ cho con." Tiệm
Nguyên bỏ đi. Tiệm Nguyên đến một ngôi chùa nhỏ, tình
cờ nghe một tục gia đệ tử tụng kinh Phổ Môn: "Ưng dĩ
Tì Khưu thân đắc độ giả, tức hiện Tì Khưu thân nhi vị
thuyết pháp." Tiệm Nguyên hốt nhiên đại ngộ tự nhủ: "Quả
ta đã lầm. Lúc ấy chẳng hiểu Tiên Sư làm gì hết. Sự
tình này thiệt chẳng ở nơi lời." (Than ôi, bây giờ mới
biết là sự này chẳng ở nơi lời, vì lời nào cũng đều
sai, chỉ nên thầm ám hội thôi, vì lời nào cũng kẹt cả.)
Về
sau, Tiệm Nguyên đến với Thạch Sương yêu cầu soi sáng cho
chuyện trên. Thạch Sương cũng trả lời như Đạo Ngô: "Sống
ư? Ta không nói. Chết ư? Ta không nói." (Câu trả lời này
có tác dụng khác với câu của Đạo Ngô vì khi Tiệm Nguyên
nghe kinh Phổ Môn đã hội được ý vô lượng ứng hóa thân,
trong đó có Tì Khưu thân, cũng do từ một Phật Quan Âm mà
nên, tức từ một Tánh nước mà nên vô lượng sóng, nhưng
vẫn còn ngờ vực về cảnh giới).
Thạch
Sương lặp lại: "Không nói là không nói." Tiệm Nguyên bừng
tỉnh. (Làm sao đạt được cái tâm trực nhận rằng chỗ
này không nói được? Chính cái tâm đó mới là đất tâm
cho vô lượng công đức sinh khởi.)
Một
hôm, Tiệm Nguyên vác xẻng vào Pháp đường, đi qua đi lại,
bản ý là để trình bày kiến giải. Thạch Sương hỏi: "Làm
gì vậy?" Tiệm Nguyên nói: "Tìm linh cốt của Tiên Sư."
Thạch
Sương nói: "Sóng sông nhấp nhô, sóng biển ào ạt. Linh cốt
nào của Tiên sư mà tìm ở đây."
Tiệm
Nguyên đáp: "Chính là lúc ra sức."
Câu
vặn hỏi cuối cùng của Thạch Sương thật là hay, và câu
đáp cuối của Tiệm Nguyên thật tuyệt diệu. Không thâm nhập
nổi pháp định này, pháp định của cái chết vui đùa với
cái sống, mà cũng là xa lìa cả hai cảnh giới chết và sống
đó thì không vấn đáp sắc bén được như vậy.
Thái
Nguyên Phù phê bình: "Linh cốt Tiên Sư còn đó." Còn Ngài Tuyết
Đậu làm bài tụng gợi ý rất minh bạch, lời nào cũng chỉ
vào Pháp Thân như sau:
-
Thỏ,
ngựa có sừng
-
Trâu,
dê không sừng
-
Không
chút mảy may
-
Bằng
núi, bằng non
-
Linh cốt
vàng ròng nay còn đây
-
Sóng
biển ồ ạt, thôi hết đường
-
Thôi
hết đường (vô xứ trước, chủ điểm còn là ở đây)
-
Lẻ dép
về Tây bặt dấu luôn.
Ta thấy
như sau, các cảnh giới sống và chết đều đã được giải
rất rõ trong Kinh Luận, hành nghiệp làm sao, nhân nào, quả
nào, các cảnh trung ấm thân (thần thức người chết) như
thế nào và ở bao lâu, ở đâu thì đi, kể cả các cảnh
Niết bàn, vân vân... Tuy nhiên, để hội tất cả các lời
vấn đáp của công án này bắt buộc phải thâm nhập được
pháp định này, và ngược lại, thâm nhập vào pháp định
này được thì tự nhiên đắc tứ vô ngại biện tài, lời
nào cũng ở trong Tánh mà nói.
-
Phi tư
lượng xứ
-
118 Thức
tình nan trắc
-
(Trí
nào suy lượng được
-
Thức
nào cân nhắc ra)
-
Chơn
như pháp giới
-
120 Vô
tha vô tự
-
(Cảnh
chơn như pháp giới
-
Không
người cũng không ta)
Phi tư
lượng xứ có nghĩa là cảnh giới của không suy tư, đo lường,
cân nhắc, lựa chọn, phân biệt gì hết. Nói khác là mảnh
đất của Vô Tâm thì tình thức không thể dò tới được.
Tào
Động Trung Hoa còn lấy ba chữ phi tư lường làm yếu quyết
an tâm như sau: "Phải tư lường cái rốt ráo không thể tư
lường. Cái rốt ráo không thể tư lường thì làm sao có thể
tư lường? Phải phi tư lường vậy."
Chỉ
có phi tư lường mới vào được cảnh giới vô tâm, vô niệm,
non-thinking của Krishnamurti và thể nhập được cái thấy mình
người không khác, người hoa vô biệt, ta và pháp giới không
hai, mà vốn thật là không người không ta vậy.
Chỉ
có ở trong Pháp Thân mới hội được mấy câu thơ sau của
Phó Đại Sĩ:
Tay
không: nắm cán mai (Ai tay không?)
Đi
bộ: lưng trâu ngồi (Ai đi bộ?)
Theo
cầu qua bến nước (Ai qua cầu?)
Cầu
trôi nước chẳng trôi (Einstein tam muội?)
Pháp
định này còn được gọi là Chơn Như Tam Muội vậy.
-
Yếu
cấp tương ưng
-
122 Duy
ngôn bất nhị
-
(Cần
nhứt hãy tương ưng
-
Cùng
lẽ đạo bất nhị)
-
Bất
nhị giai đồng
-
124 Vô
bất bao dong
-
(Bất
nhị thì hòa đồng
-
Không
gì chẳng bao dong)
-
Thập
phương trí giả
-
126 Giai
nhập thử tông
-
(Mười
phương hàng trí giả
-
Đều
chung nhập một tông)
Vấn
đề của người tu Thiền là phải thể nhập Tánh Bất Nhị
của vạn pháp. Kinh Duy Ma Cật đưa cao Bất Nhị Pháp môn cũng
chỉ vào đây vậy.
Tuy
nhiên cần chú ý là chư Tổ không nói là Một, mà chỉ nói
là Không Hai là để chỉ cái tánh hư minh chiếu soi của gương
không gọi được là Nhiều, nhưng gọi là Một cũng chỉ là
cưỡng gọi.
Đứng
về mặt giáo điển thì có thể gọi là Một được, để
chỉ cho Thánh Trí Tự Giác, cho Nhất Chân Pháp Giới Tâm, cho
Tánh ướt của nước, cho vị mặn của biển, cho Tánh soi
chiếu của gương, cho Tánh bất động bao dong của hư không,
cho Tánh Thường Định vững vàng kiên cố không dời đổi
của đất (hoặc núi).
Nhưng
đứng về mặt Tông thì cứ hồn nhiên như thơ trẻ là được,
Nhiều với Một cũng đều không lập hết thì mới ngộ nhập
được pháp định này. Đây còn gọi là Đại Viên Mãn pháp
môn vậy.
-
Tông
phi xúc diên
-
128 Nhứt
niệm vạn niên
-
(Tông
này vốn tự tại
-
Khoảnh
khắc là vạn niên)
-
Vô tại
bất tại
-
130 Thập
phương mục tiền
-
(Dầu
có không không có
-
Mười
phương trước mắt liền)
Vào được
Tông chỉ thì cực kỳ là thoải mái, hồn nhiên, hoàn toàn
chẳng còn bận tâm chuyện gì nữa, dù đó là chuyện Phật
hay đạo. Thể nhập được pháp thường định của Tự Tánh
Thanh Tịnh thì chẳng còn gì ngăn ngại được nữa. Có gì
còn chăng chỉ là chút dư nghiệp, món nợ cũ nhiều đêm trước,
lớp sóng dậy nhiều ngàn ngày hôm qua thôi.
Cũng
như căn phòng tối từ vô lượng kiếp, chỉ cần một sát
na của ánh sáng bật lên thì bóng tối triệu nghìn kiếp trước
đều biến mất.
Câu
hỏi là, như vậy ánh sáng đó, giây phút giác ngộ đó, có
khi nào bị mê mờ trở lại không?
Phật
trả lời trong kinh Lăng Nghiêm là không.
Thanh
Tịnh Đạo Luận trả lời là:
"Vô
minh phiền não không có khởi đầu, nhưng có chấm dứt. Giác
ngộ (Niết bàn) có khởi đầu, nhưng không có chấm dứt."
Đó
là sự thật. Tuy nhiên người tu phải tự cảnh giác là, tập
khí lâu đời cũng cần nhiều năm sau mới sạch được dù
đã là bậc Đại Ngộ. Triệu Châu còn cần 30 năm chỉ để
bảo nhậm cái tâm thể đó, huống gì là chúng ta.
Chỉ
có trong cảnh giới này mới thấy là bất kỳ một khởi tâm
nào cũng là trở ngại. Cho nên Ngài Lâm Tế còn nói: "Phùng
Phật sát Phật, phùng Tổ sát Tổ," gặp Phật giết Phật,
gặp Tổ giết Tổ. Đây chỉ là cách nói nhấn mạnh thôi,
nhưng phải thấy rằng còn mang tâm phùng Phật sát Phật vẫn
còn là sai vậy.
Có
lẽ cách trả lời sau của Triệu Châu hay hơn. Khi một vị
Tăng sắp đi, có xin một lời khuyên. Triệu Châu đáp:
- Chỗ
nào có Phật, đừng dừng lại. Chỗ nào không có Phật, cũng
đi qua luôn.
Câu
này thật tuyệt diệu, vừa hiển được Tông chỉ, vừa có
thể làm phương tiện an tâm được nữa vậy.
Chúng
ta có thể thử sửa lại câu nói của Triệu Châu như sau mà
vẫn hợp Tông chỉ:
- Dù
có Phật hay không Phật, dừng lại với qua luôn cũng không
là điều để nói.
Câu
tiếp theo là nhất niệm vạn niên không có nghĩa là một niệm
dài vạn năm, mà chỉ có nghĩa là trong pháp định này thời
gian đã chấm dứt, hoàn toàn không còn cái gì gọi là hôm
qua, hôm nay và ngày mai nữa. Đây thật sự là một pháp môn
khó tin, khó hiểu, khó vào.
Ở
Việt Nam, sau khi qua vài giai đoạn tu hành, tôi có trình kiến
giải lên Thầy tôi bằng 3 bài thất ngôn bát cú, trong đó
có hai câu:
-
Nhược
đắc vạn niên an nhất niệm
-
Nhi thành
diệu sắc tại bào thân
-
(Nếu
an được vạn năm trong một niệm
-
Thì sẽ
thành được thân diệu sắc của Phật trong tấm thân bọt
nước này.)
Thầy
vẫn lắc đầu từ chối, cho là chưa phải. Đây chính là
tuyệt đại bí mật của Tông chỉ vậy. Nếu xét theo pháp
Cơ Phong Vấn Đáp thì chỉ có thể nói là hai câu này còn
thuộc loại trong lời có lời. Nhưng nếu xét về mặt kiến
giải thuần túy thì sao? Tôi vẫn chưa có dịp để hỏi lại
chỗ này. Câu này còn sai một điểm trong pháp Cơ Phong nữa
là, câu đầu chỉ vào cảnh giới định chấm dứt thời gian,
câu sau lại nói có sự thành tựu diệu sắc tại thân bọt
nước hàm nghĩa trong thời gian, thế là mâu thuẫn vậy. Trong
trường hợp không có thầy để tham vấn, học nhân có cách
nào để tự trắc nghiệm không?
Trước
tiên là tự mình mình biết chỗ đứng của mình qua các cảnh
giới của định. Tới chỗ thì biết là định này hoàn toàn
không có do huân tập tu hành mà nên, và cũng hoàn toàn không
do một nỗ lực nào của Tâm mà thành tựu dù là đã phải
ngồi nhiều năm để tham công án. Biết rõ ràng thêm nữa
là nhận định này hoàn toàn không do tướng ngồi mà thành,
không do bất kỳ một nhân duyên nào mà thành, mà nó hiển
hiện trước mắt như cổ đức gọi là gương xưa.
Thứ
đến là, nên giải một số công án căn bản và đọc lại
tất cả kinh điển Đại Thừa. Còn bất kỳ một chỗ nghi
nào trong kinh mà không đối chiếu được với pháp định
này, thì là còn thiếu sót.
-
Cực
tiểu đồng đại
-
132 Vong
tuyệt cảnh giới
-
(Cực
nhỏ và cực lớn
-
Đồng
nhau, bặt cảnh duyên)
-
Cực
đại đồng tiểu
-
134 Bất
kiến biên biểu
-
(Cực
lớn là cực nhỏ
-
Đồng
nhau, chẳng giới biên)
Có một
công án thường được nhắc tới là: "Quả núi tu di trong
hạt cải." Khi thâm nhập Pháp Thân thì vô lượng Tam muội
đều thành tựu. Cảm giác đầu tiên của người vừa trải
qua một phen chết lớn là chứng nhập được cái thấy như
huyễn, tức Như Huyễn Tam Muội mà kinh Kim Cang nói tới. Riêng
bốn câu này của Ngài Tăng Xán diễn bày cái thấy Sự Sự
Vô Ngại của kinh Hoa Nghiêm trong pháp định này.
-
Hữu
tức thị vô
-