Tiết
3: Kết Thúc Và Khuyến Cáo Thọ Trì
Bồ
Tát Giới Phạn Võng
I. Mục
1 : Kết Thúc Phần Bồ Tát Giới (Phần Giới Pháp Vô Tận)
II. Mục
2 : Kết Thúc Phẩm Bồ Tát Tâm Địa Giới (Phẩm Pháp Môn
Tâm Địa)
III. Mục
3 : Phụ Lục Kết Thúc Phần Bồ Tát Giới Bằng Thể Chỉnh
Cú
A. Đoạn
1 : Nói Về Yếu Tố Và Hiệu Quả Của Bồ Tát Giới
B. Đoạn
2 : Nói Về Căn Bản Thật Tướng Bát Nhã Của Bồ Tát Giới
C. Đoạn
3 : Khuyến Cáo Và Hướng Nguyện Về Bồ Tát Giới
Mục
1: Kết Thúc Phần Bồ Tát Giới
(Phần
Giới Pháp Vô Tận)
Các
Phật tử, hãy nghe cho kyծ Giới pháp gồm có mười điều
nặng và bốn mươi tám điều nhẹ như trên đây, các đức
Phật đà trong ba thì gian đã tụng sẽ tụng và đang tụng.
Như lai nay cũng tụng y như vậy. Đại chúng các người, không
cứ quốc vương, vương tử, bách quan, tỷ kheo, tỷ kheo ni,
thiện nam, tín nữ, hễ lãnh thọ Bồ tát giới thì phải thọ
trì, đọc, tụng, giảng thuyết và viết chép đối với cuốn
kinh nói về giới pháp của Phật tánh thường trú, truyền
bá cho chúng sinh trong tất cả thì gian, làm cho sự cảm hóa
của giới pháp này được liên tục mãi, không bao giờ đứt
đoạn. Như vậy thì các người sẽ được thấy ngàn đức
Phật, đức Phật nào cũng trao tay cho, đời đời không sa
vào đường dữ, tám nạn, thường sinh trong nhân loại hay
chư thiên. Và như vậy là hôm nay, ở dưới cây bồ đề này,
Như lai đã tóm tắt khai thị giới pháp của cả bảy đức
Phật. Đại chúng các người hãy nhất tâm mà học giới pháp
ấy, và hoan hỷ mà phụng hành, như Như lai đã nhất nhất
khai thị phong phú trong phần Khuyến học của phẩm Vô tướng
thiên vương. Bấy giờ ba ngàn người học tập Bồ tát đạo
trong số thính giả hiện diện lúc ấy, nghe đức Thế tôn
tự tụng lại giới pháp như vậy, ai cũng tâm tâm kính thuận,
hoan hỷ phấn chấn mà thọ trì.
Đây
là kết thúc về toàn thể Bồ tát giới Phạn võng, tức kết
thúc phần Giới pháp vô tận trong phẩm Pháp môn tâm địa.
Kết thúc bằng cách khuyên thực hành 5 pháp hạnh đối với
giới pháp ấy, và nói về kết quả của 5 pháp hạnh này.
Về 5 pháp hạnh, thọ trì là tiếp nhận ghi nhớ, đọc là
đọc xét văn nghĩa, tụng là tụng được thuộc lòng, giảng
thuyết là giảng nói cho người, viết chép là sao chép ấn
hành. Nhưng thọ trì còn có nghĩa tiếp nhận kính giữ, vì
chữ trì nghĩa là giữ cho còn trong trí, giữ cho còn giữa
đời. Giảng nói cho người, trước hết còn là giới thiệu,
loan báo cho người biết về Bồ tát giới Phạn võng. Và 5
pháp hạnh trên đây cũng còn bao gồm các pháp hạnh chánh
ức niệm (nhớ nghĩ chính xác), giải nghĩa thú (lý giải ý
nghĩa), như thuyết hành (làm đúng kinh dạy).
Thực
hành 5 pháp hạnh thì Bồ tát giới sẽ tồn tại lâu dài và
rộng rãi, do đó mà người thực hành được kết quả là
thấy ngàn đức Phật, và khi lâm chung thì thấy ngàn đức
Phật trao tay cho. Pháp hoa cũng có kết quả này. Được thấy
ngàn đức Phật là như người niệm Phật, lúc gần lâm chung,
đức A di đà phật và vô số chư Phật hóa thân, cùng với
Thánh chúng hiện ra trước mắt của họ. Khi lâm chung được
ngàn đức Phật trao tay cho là như người niệm Phật thì khi
lâm chung thân không bịnh khổ, tâm không lưu luyến, ý không
thác loạn, y như nhập định, đức A di đà phật cùng vô
số đức Phật hóa thân và Thánh chúng bưng đài kim cang, đưa
tay đón dắt. Thường sinh trong nhân loại hay chư thiên, nói
cách khác thì như Đại bát nhã đã nói "từ nước Phật này
sinh ở nước Phật khác" - tức như người niệm Phật tuy
ở trong thế giới ngũ trược này mà cũng như ở trong thế
giới Cực lạc, và chết rồi sinh ra ở thế giới này hay
ở thế giới nào cũng như ở trong thế giới Cực lạc ấy.
Trọn
đoạn văn mục này là trả lời 2 câu hỏi: kính giữ Bồ
tát giới bằng cách nào ? kính giữ Bồ tát giới thì khi chết
sẽ thế nào, chết rồi sinh ra ở đâu?
Ba
ngàn người học tập Bồ tát đạo ... phấn chấn mà thọ
trì, 3.000 ở đây chỉ là một số trong đại hội mà thọ
trì Bồ tát giới Phạn võng ngay khi Phật thuyết xong giới
ấy. Thọ trì ở đây không phải chỉ là nghe nhớ: tiếp nhận
nắm giữ cho còn trong trí, cũng không phải chỉ là truyền
bá: tiếp nhận nắm giữ cho còn trong đời, mà chính yếu
là thọ trì Bồ tát giới Phạn võng: tiếp nhận giữ gìn
giới ấy cho thật nghiêm cẩn. Và đó là cách thượng phẩm
thọ Bồ tát giới Phạn võng. Kinh Anh lạc nói thọ Bồ tát
giới có 3 cách: đối trước Phâểt đà hay Bồ tát mà thọ
là thượng phẩm, đối trước vị pháp sư thọ trước mình
mà thọ là trung phẩm, nếu trong vòng ngàn dặm không có vị
pháp sư ấy nên đối trước tượng Phật đà và Bồ tát
mà thọ là hạ phẩm (Chính 24/1020).
Mục
2: Kết Thúc Phẩm Bồ Tát Tâm Địa Giới
(Phẩm
Pháp Môn Tâm Địa)
Bấy
giờ đức Thích ca mâu ni nói xong phần Giới pháp vô tận
trong phẩm Pháp môn tâm địa của đức bản thân Lô xá na
ở Hoa tạng thế giới đã nói, thì một ngàn và một ngàn
lần trăm ức đức Thích ca khác cũng nói y như vậy. Sự từ
cung Đại tự tại thiên vương xuống đến cây bồ đề, trải
qua mười chỗ thuyết các pháp phẩm cho hết thảy Bồ tát,
và cho đại chúng nhiều đến số lượng không thể nói hết,
được thọ trì, đọc tụng và giảng nói, cũng như nhau. Nói
tóm, một ngàn và một ngàn lần trăm ức thế giới, Hoa tạng
thế giới, và các Hoa tạng thế giới khác nhiều như vi trần,
cũng diễn về tất cả kho tàng chánh pháp của chư Phật là
kho tàng tâm, kho tàng địa, kho tàng giới, kho tàng vô lượng
hạnh nguyện, kho tàng nhân quả Phật tánh thường trú. Và
như vậy là chư Phật đã nói hoàn tất về tất cả kho tàng
chánh pháp. Hết thảy chúng sinh trong một ngàn và một ngàn
lần trăm ức thế giới đều thọ trì, hoan hỷ và phụng
hành. Nếu khai thị một cách rộng lớn các nghĩa tướng của
tâm địa thì phải như trong phẩm Phật hoa quang vương đã
nói.
Đây
là kết thúc phẩm Pháp môn tâm địa mà trong đó có phần
Giới pháp vô tận, tức là kết thúc trọn phẩm thứ 10 của
kinh Phạn võng. Phần Giới pháp vô tận, chính văn là thập
vô tận giới phẩm, phẩm ở đây là phần, là phần dưới
của phẩm Pháp môn tâm địa; 10 giới pháp vô tận hay Giới
pháp vô tận là 10 giới nặng, và như đã nói, nói 10 giới
ấy là nói về Bồ tát giới. Các pháp phẩm là nội dung của
10 chỗ thuyết pháp đã kê trong số 2 mục 1 của Tiết 1. Nhưng
10 chỗ ấy đáng lẽ phải nói tắt rằng từ dưới cây bồ
đề lên đến cung Đại tự tại thiên vương; nói từ cung
Đại tự tại thiên vương xuống đến cây bồ đề là nói
ngược thứ tự một chút. Nội dung 10 chỗ thuyết pháp ở
đây: tâm là 30 tâm, địa là 10 địa, và cả 2 là nói về
Bồ tát vị; giới là 10 giới nặng và 48 giới nhẹ, là nói
về Bồ tát giới; vô lượng hạnh nguyện là nói về các
Bồ tát hạnh và Bồ tát vị khác mà 10 chỗ thuyết pháp cũng
đã kê; nhân quả Phật tánh thường trú thì 4 kho tàng trên
là nhân, pháp thân là quả. Các Hoa tạng thế giới khác nhiều
như vi trần là dịch rõ chính văn vi trần thế giới. Chúng
sinh trong 1 ngàn và 1 ngàn lần trăm ức thế giới đều thọ
trì, hoan hỷ và phụng hành, là nói chúng sinh thuộc Hoa tạng
thế giới này để làm điển hình. Phật hoa quang vương, có
bản chép thêm: 7 hạnh của Phật hoa quang vương.
Mục
3: Phụ Lục Kết Thúc Phần Bồ Tát Giới Bằng Thể Chỉnh
Cú
Mục
này dĩ nhiên không thể cho là chính văn của Bồ tát Phạn
võng như có nhà chú thích cho như vậy. Có thể nguyên thỉ
tụng Bồ tát giới Phạn võng chỉ có bài tựa mở đầu và
bài văn chỉnh cú này làm lời mở và lời kết. Văn và ý
của mục chỉnh cú này kết hợp văn và ý của luận Du dà
và luận Trung quán. Do vậy, chỉ nên gọi là phụ lục mà
thôi. Tuy nhiên, mục chỉnh cú này thật đặc biệt, nói đến
căn bản quan trọng của Bồ tát giới là thật tướng bát
nhã. Thật tướng bát nhã là ánh sáng giới pháp mà đoạn
2 mục 3 của tiết 1 đã nói. Thật tướng bát nhã ấy là
tư tưởng căn bản của dịch chủ La thập.
Mục
này có 3 đoạn: đoạn 1 nói về yếu tố và hiệu quả của
Bồ tát giới, đoạn 2 nói về căn bản thật tướng bát nhã
của Bồ tát giới, đoạn 3 khuyến cáo và hướng nguyện về
Bồ tát giới.
Đoạn
1: Nói Về Yếu Tố Và Hiệu Quả Của Bồ Tát Giới
-
Những
người thông minh thật
-
thì đức
tính nhẫn nhịn
-
và khả
năng tuệ giác
-
cả hai
đều mạnh mẽ.
-
Nhờ
đó thọ trì được
-
giới
pháp Bồ tát này,
-
từ nay
đến thành Phật
-
thường
được năm lợi ích:
-
Một
là được chư Phật
-
thương
tưởng hộ trì luôn.
-
Hai là
khi lâm chung
-
chánh
kiến, tâm hoan hỷ.
-
Ba là
sinh chỗ nào
-
cũng
làm bạn Bồ tát.
-
Bốn
là công đức tụ
-
giới
độ thành tựu cả.
-
Năm là
trong đời này
-
và các
đời sau nữa
-
đủ
cả phước và tuệ
-
của
giới pháp tự tánh.
Đoạn
này lấy văn ý luận Du dà, nói về yếu tố và hiệu quả
của sự thọ trì Bồ tát giới. Yếu tố ấy là đức tính
nhẫn nhịn và khả năng tuệ giác. Còn hiệu quả ấy là 5
lợi ích mà luận Du dà nói rõ hơn: Cho đến chưa chứng vô
thượng bồ đề, nhờ nỗ lực tu tập một cách chính xác
đối với vô lượng Bồ tát giới, nên thường được 5 lợi
ích vượt bậc. Một là thường được mười phương chư
Phật giữ gìn. Hai là khi sắp bỏ thân mạng thì lòng rất
hoan hỷ. Ba là sau khi thân mạng kết thúc, sinh ra chỗ nào
cũng thường cùng các vị Bồ tát giới hạnh thanh tịnh hoặc
bằng hoặc hơn mình làm đồng phận, đồng pháp hữu và thiện
tri thức. Bốn là thành tựu kho tàng vô lượng công đức
to lớn, có thể viên mãn tịnh giới ba la mật. Năm là đời
này và các đời sau thường thành tựu được tịnh giới
của tự tánh, tịnh giới thành ra cá tính (Chính 30/522). Những
lợi ích này cho thấy thọ trì Bồ tát giới thì ở đâu cũng
là nước Phật.
Sau
đây là mấy từ ngữ cần chú thích. Chánh kiến, ở đây,
khi sắp chết, là như người niệm Phật thì khi ấy tâm trí
không hôn mê, thác loạn, thấy Phật đưa tay đón dắt. Công
đức tụ: cái đống công đức. Giới độ: tịnh giới ba
la mật.
Đoạn
2: Nói Về Căn Bản Thật Tướng Bát Nhã Của Bồ Tát Giới
-
Giới
pháp như thế này
-
là sở
hành của Phật,
-
với
chỗ sở hành ấy
-
trí giả
hãy khéo nghĩ:
-
Tâm hạnh
như ngoại đạo
-
trước
tướng và chấp ngã,
-
thì giới
pháp như vầy
-
không
thể nào tín thọ.
-
Tuệ
giác của Thanh văn
-
diệt
tận chứng niết bàn,
-
cũng
không phải là chỗ
-
gieo giống
giới pháp này.
-
Muốn
nuôi lớn mầm mống
-
lúa tuệ
giác bồ đề
-
để
ánh sáng tuệ ấy
-
chiếu
tỏa cả thế gian,
-
thì cần
phải thường xuyên
-
yên tịnh
tâm trí mình
-
mà quán
sát thật tướng
-
của
tất cả các pháp
-
siêu
việt mọi khái niệm
-
đối
lập nhau như sau:
-
phát
sinh với tiêu diệt
-
vĩnh
cửu với hư vô
-
đồng
nhất với mâu thuẫn
-
xuất
hiện với biệt dạng.
-
Bằng
sự quán sát ấy
-
nỗ lực
mà trang hoàng:
-
việc
Bồ tát phải làm,
-
phải
tuần tự học tập.
-
Với
tất cả các vị
-
tu học
còn tiếp tục
-
tu học
đã hoàn tất
-
đừng
sinh tâm phân biệt,
-
thì đó:
đệ nhất nghĩa,
-
ũng gọi
là đại thừa.
-
Mọi
hý luận lầm lỗi
-
đều
bặt dấu ở đây,
-
và từ
đây xuất phát
-
trí toàn
giác của Phật.
Đoạn
này lấy văn ý của Trung luận, của Bát nhã, và của chính
Phạn võng (đoạn 2 mục 3 tiết 1). Giới pháp như thế này
là sở hành của Phật, chính văn là thử thị Phật hành xứ,
một số bản chép thử thị chư Phật tử, chép như vậy là
sai đến nỗi rất đáng ngạc nhiên. Sở hành của Phật là
cái của Phật biết và Phật làm. Sở hành ấy chính là thật
tướng bát nhã, Bồ tát giới xuất phát từ căn bản ấy.
Tâm hạnh như ngoại đạo ... gieo giống giới pháp này là
nói Bồ tát giới thì ngoại đạo và nhị thừa không kham
thọ trì. Nhưng nói như vậy chỉ để đề cao Bồ tát giới,
và là nói trong 1 lúc nên đối với Bồ tát giới có người
có thể thọ trì, có người không thể thọ trì, còn nói trong
nhiều lúc thì lúc này có người còn không thể mà lúc khác
người ấy đã có thể, do vậy nên nói ai cũng có thể thọ
trì Bồ tát giới và trở thành Phật đà, đó mới là tư
tưởng chính yếu của Bồ tát giới Phạn võng. Muốn nuôi
lớn mầm mống ... của tất cả các pháp : Tuệ giác bồ đề
là thật tướng bát nhã: tuệ giác thể nhập thật tướng
của các pháp. Mầm mống của tuệ giác bồ đề thì chính
là tuệ tâm sở trong 5 tâm sở biệt cảnh; sử dụng tâm sở
này thì tập quán sát được về thật tướng. Siêu việt
mọi khái niệm ... xuất hiện với biệt dạng: Thật tướng
là gì? là bản chất thật: bản chất siêu việt mọi khái
niệm mà thực chất chỉ là đối
lập nhau mà hình thành.
Mọi khái niệm ấy, ở đây đưa ra 4 phạm trù thành 8 khái
niệm để làm tiêu biểu. Tất cả 6 câu này nếu dịch sát
chính văn đến gần như không dịch thì phải là không sinh
với không diệt, không thường với không đoạn, không nhất
với không dị, không lai với không khứ. Bằng sự quán sát
ấy, nỗ lực mà trang hoàng: việc Bồ tát phải làm, phải
tuần tự học tập : Bằng sự quán sát ấy, chính văn là
như thị nhất tâm trung, nhất tâm là sự quán sát thật tướng,
chỉ lấy thật tướng làm chủ đề duy nhất (chứ chưa thể
nói là đồng nhất với thật tướng). Nỗ lực mà trang hoàng,
trang hoàng (trang nghiêm) là nói tắt, nói đủ là trang hoàng
quốc độ bằng cách giáo hóa chúng sinh (thành ngữ: trang nghiêm
quốc độ, thành thục chúng sinh). Và đó là việc phải làm
của Bồ tát. Việc phải làm ấy - mà chính yếu là Bồ tát
giới - là xuất phát từ thật tướng bát nhã. Nên người
thọ Bồ tát giới thì, với sự quán sát thật tướng bát
nhã, phải nỗ lực mà học và hành. Với tất cả các vị
... cũng gọi là đại thừa: Tu học còn tiếp tục là hữu
học, tu học đã hoàn tất là vô học. Đối với các vị
ấy - mà người thọ Bồ tát giới sống với - người thọ
Bồ tát giới không phân biệt để khinh trọng, thì đó là
một bước biểu hiện của bát nhã. Hý luận lầm lỗi, hý
luận ở đây là hết thảy tư duy và mô tả theo các phạm
trù đối lập nhau; đối với thật tướng bát nhã thì tư
duy mô tả như vậy đã là hý luận, mà là hý luận lầm lỗi.
Trí toàn giác của Phật, trí toàn giác, chính văn là tát bà
nhã.
-
Đoạn
3: Khuyến Cáo Và Hướng Nguyện Về Bồ Tát Giới
-
-
Thế
nên các Phật tử
-
hãy nổi
đại dũng mãnh:
-
đối
với giới của Phật
-
giữ
như giữ ngọc sáng.
-
Các Bồ
tát quá khứ
-
đã học
về giới ấy,
-
vị lai
thì sẽ học,
-
như hiện
tại đang học.
-
Giới
ấy chư Phật làm,
-
giới
ấy chư Phật khen,
-
và tôi
hôm nay đây
-
đã kính
theo chư Phật
-
mà tụng
lại giới pháp
-
phước
đức vô lượng ấy
-
hồi
hướng cho chúng sinh
-
để
cùng nhau xoay về
-
trí toàn
giác của Phật,
-
cầu
nguyện cho các vị
-
được
nghe giới pháp này
-
chóng
thành đạt trí Phật.
Và tôi
hôm nay đây, tôi là vị tụng giới tự xưng. Mà tụng lại
giới pháp phước đức vô lượng ấy, chính văn là thuyết
phước đức vô lượng tụ, có người hiểu là nói về giới
pháp, sự nói ấy được vô lượng phước đức; nay xét phước
đức vô lượng tụ - mà ở trên nói là công đức tụ - nghĩa
đen là cái đống phước đức vô lượng, cái đống ấy chính
là giới pháp Bồ tát của Phạn võng.
Kính
lạy đức Lô xá na như lai. Kính lạy đức Thích ca mâu ni
như lai. Kính lạy kho tàng Bồ tát giới Phạn võng.
Cả
3 danh hiệu này là của nghi thức tụng giới. Vị tụng giới
niệm 3 danh hiệu này trước khi nói lời tác bạch cuối cùng.
Chương
1: Phụ Lục Nghi Thức Tụng Bồ Tát Giới Phạn Võng
Trước
khi tụng, vị tụng giới lạy và quì mà thưa: Con là tỷ kheo
XX, kính bạch Đại đức tăng, Đại đức tăng bảo con tụng
giới, nhưng con e có sự lầm lẫn trong khi tụng, vậy kính
xin Đại đức tăng từ bi chỉ bảo cho con.
-
Chúng
Bồ tát giới lắng nghe!
-
Qui y
kính lạy
-
đức
Lô xá na
-
và Kim
cang phật
-
khắp
cả mười phương;
-
lại
lạy phân thân
-
đức
Lô xá na
-
là ngàn
trăm ức
-
các đức
Thích ca.
-
Nay tôi
kính tụng
-
về Bồ
tát giới
-
mà đại
cương là
-
ba loại
tịnh giới;
-
chúng
Bồ tát giới
-
hãy cùng
lắng nghe!
-
Giới
như ngọn đèn
-
đã sáng
lại lớn,
-
có thể
xua tan
-
bóng
tối đêm dài;
-
giới
như đài gương
-
trong
sáng quí báu,
-
hiện
rõ các pháp
-
đủ
cả không sót;
-
giới
lại y như
-
ngọc
báu ma ni,
-
tuôn
ra của cải
-
giúp
kẻ khốn cùng.
-
Siêu
thoát thế gian,
-
chóng
thành Phật đà,
-
làm được
như vậy
-
giới
này hơn cả!
-
Vì lý
do ấy,
-
chúng
Bồ tát giới
-
cần
phải nỗ lực
-
kính
cẩn mà giữ!
Chư đại
đức, hôm nay bốn tháng của mùa xuân đã qua mất nửa tháng
mà chỉ thiếu một đêm, còn lại chỉ thừa một đêm và
ba tháng rưỡi. Già bịnh đã gần, Phật pháp sắp ẩn. Chư
đại đức, và ưu bà tắc ưu bà di, muốn được đạo quả,
các vị phải nhất tâm nỗ lực mà tinh tiến. Tại sao, vì
đến như chư Phật cũng phải nhất tâm nỗ lực mà tinh tiến
mới thành tựu vô thượng bồ đề, huống chi những kẻ khác
đang còn tu tập các thiện pháp khác. Các vị nghe như vậy
thì trong lúc còn khỏe mạnh phải nỗ lực mà siêng tu thiện
pháp, đâu được không cấp tốc cầu đạo mà đợi đến
tuổi già. Đợi đến tuổi già là các vị còn muốn vui thú
nỗi gì?
-
Ngày
nay đã qua,
-
mạng
sống cũng bớt,
-
như cá
thiếu nước,
-
đâu
có vui gì!
-
Tăng
tập hợp chưa?
-
Tăng
hòa hợp không?
-
Tăng
tập hợp hòa hợp để làm gì?
Những
người chưa thọ Bồ tát giới, hay thọ mà không thanh tịnh,
đã ra khỏi đây chưa?
Có
bao nhiêu người thọ Bồ tát giới không đến tập hợp mà
có dặn nhờ nói muốn và thanh tịnh?
Chư
Phật tử, hãy chắp tay lắng nghe. Nay tôi sắp nói đến lời
mở đầu giới pháp rộng lớn của chư Phật, các vị tập
hợp, yên lặng mà lắng nghe. Và tự xét có tội lỗi thì
phải sám hối; sám hối thì yên vui, không sám hối thì tội
lỗi càng sâu nặng. Không có tội lỗi thì yên lặng; do sự
yên lặng ấy mà tôi biết các vị thanh tịnh.
Chư
đại đức, và ưu bà tắc ưu bà di, hãy nghe cho kyծ Sau khi
đức Thế tôn nhập diệt, trong thời kỳ Phật pháp cuối
cùng, càng phải tôn kính Ba la đề mộc xoa. Ba la đề mộc
xoa là giới pháp này đây. Phụng trì giới pháp này thì như
đêm tối mà gặp ánh sáng, như nghèo nàn mà được vàng ngọc,
như bịnh tật mà được lành mạnh, như tù đầy mà thoát
lao ngục, như đi xa mà được về nhà. Phải biết giới pháp
này là đức thầy cao cả của các vị. Đức Thế tôn còn
ở đời cũng không khác gì giới pháp này.
Lòng
sợ tội lỗi khó mà sinh được, tâm có đức lành khó mà
phát ra. Nên trong khế kinh đã dạy:
-
Đừng
khinh tội lỗi nhỏ,
-
cho là
không tai họa;
-
giọt
nước tuy là ít,
-
chảy
mãi đầy hồ lớn.
-
Tội
lỗi gây chốc lát,
-
họa
ở vô gián ngục;
-
một
khi mất thân người,
-
muôn
kiếp khó được lại.
-
Sự khỏe
đẹp không bền,
-
qua mau
như ngựa chạy;
-
mạng
người vốn vô thường,
-
quá hơn
nước núi đổ:
-
hôm nay
dẫu còn đó,
-
ngày
mai khó bảo tồn.
Các vị
phải nhất tâm mà nỗ lực tinh tiến, cẩn thận đừng giải
đải, đừng biếng nhác, đừng ham ngủ, đừng phóng ý. Thâu
đêm cũng phải tập trung tâm ý lại mà tưởng niệm Phật
pháp tăng. Đừng để đời mình trôi qua một cách trống rỗng,
mệt nhọc một cách vô ích, để rồi sau đó phải hối hận
sâu xa.
Các
vị hãy nhất tâm, kính cẩn mà phụng hành cho thật chính
xác đối với giới pháp này. Phải học như vậy.
Chư
đại đức, hôm nay là ngày mười lăm của nửa tháng trăng
tối, ngày bố tát tụng Bồ tát giới. Các vị hãy nhất tâm
mà nghe cho khéo. Ai có lỗi thì xin nói ra, ai không lỗi thì
xin yên lặng. Yên lặng nên biết chư vị đại đức thanh
tịnh, có thể tụng Bồ tát giới. Như vậy là tôi đã nói
lời mở đầu Bồ tát giới. Nay xin hỏi, chư đại đức,
trong các vị có thanh tịnh cả không? Chư đại đức, các
vị thanh tịnh cả, vì các vị cùng yên lặng. Việc này tôi
xin ghi nhận như vậy.
Tụng
giới xong, vị tụng giới đứng dậy mà thưa, bạch Đại
đức tăng, con là tỷ kheo XX, xin kính tạ lỗi Đại đức
tăng; Đại đức tăng bảo con tụng Bồ tát giới, nhưng thân
miệng ý của con không tinh cần, tụng giới văn không thông
suốt, làm cho chư vị ngồi lâu hơn lên, không khỏi phát phiền.
Con xin chư vị từ bi hoan hỷ cho con.