Tiết
2: Nói Về Giới Điều
Của
Bồ Tát Giới Phạn Võng
(tiếp
theo)
Số
11: Không Được Làm Kẻ Quốc Tặc
Phật
tử thì không được vì lợi lộc hay vì ác ý, làm sứ thần
cho quốc gia mà liên minh quân sự, động binh đánh nhau, tàn
hại vô số sinh mạng. Là Bồ tát thì sự qua lại trong quân
binh còn không được có, huống chi cố ý làm tên quốc tặc.
Nếu cố ý làm thì phạm tội khinh cấu.
Làm
sứ thần gây chiến tranh là làm gián điệp ngoại giao, là
làm sứ thần cho chính thể gây hấn: là làm quốc tặc. Chiến
tranh do những tên quốc tặc này gây ra, dầu là giữa quốc
gia mình với quốc gia khác, dầu là giữa các quốc gia khác,
đều là những cuộc chiến tội ác. Và như vậy, những tên
quốc tặc còn là những tên giặc quốc tế. Nhưng đó là
nói sứ thần gây chiến. Sứ thần vận động hòa bình thì
giới này không nói đến.
Số
12: Không Được Buôn Bán Tàn Nhẫn
Phật
tử nếu cố ý buôn bán lương dân, buôn bán nô bộc tỳ thiếp,
buôn bán súc vật, buôn bán quan quách và những dụng cụ tẩn
liệm; nhưng mọi sự buôn bán ấy chính mình còn không được
làm, huống chi chỉ bảo người khác. Nếu cố ý tự làm hay
chỉ bảo người khác thì phạm tội khinh cấu.
Buôn
người, buôn súc vật, là sống trên sinh mạng. Buôn đồ tẩn
liệm là sống trên cái chết.
Số
13: Không Được Phỉ Báng Không Thật
Phật
tử nếu vì tâm địa độc ác mà, một cách không có sự
thật, phỉ báng những người hiền lương, những vị thiện
đức, những bậc pháp sư, đại sư hòa thượng, đại sư
xà lê, quốc chúa, quí nhân, rằng phạm bảy tội nghịch,
mười giới nặng ... Nhưng, đối với những người nên coi
như cha mẹ chú bác anh em trong hàng lục thân ấy, mình phải
phát sinh tâm hiếu thuận, tâm từ bi, vậy mà đảo ngược
lại, đã không làm như trên, lại còn da thêm sự trái ý,
sự tổn thương, khiến họ hảm vào tình trạng khổ tâm,
thì phạm tội khinh cấu.
Đã
coi tất cả đều là bà con, nhất là "bà con Phật pháp", mà
lại làm cho họ khổ tâm, thì còn gì gọi là từ bi, gọi
là hiếu thuận. "Không thật" hay không có sự thật, là không
có tội lỗi mình thấy, nghe hay nghi, mà vu khống, phỉ báng
là có. Nếu thật có tội lỗi mà mình thấy, nghe hay nghi thì
phải cử tội đúng luật, không được dung túng, cũng không
được rêu rao.
Số
14: Không Được Cố Ý Thiêu Đốt
Phật
tử nếu vì tâm địa tàn ác mà phóng lửa lớn, đốt cháy
núi rừng, đồng nội; tháng tư đến tháng chín cũng phóng
lửa; phóng lửa đến nỗi có thể cháy lan đến cả nhà cửa,
phòng ốc, thành thị, thôn ấp, tăng phường, ruộng vườn
và cây cối của người, cháy lan đến vật quỉ thần, vật
công hữu. Nhưng hết thảy đều là vật có chủ, không được
cố ý thiêu đốt. Nếu cố ý thiêu đốt thì phạm tội khinh
cấu.
Vật
quỉ thần, vật công hữu. Nhưng hết thảy đều là vật có
chủ , chính văn tôi chọn để dịch là "quỉ thần quan vật.
Nhất thế hữu chủ vật". Trong cách dịch này, "hết thảy
đều là vật có chủ", dịch sát là"hết thảy vâểt có chủ".
Nếu nói hết thảy vật có chủ thì có nghĩa còn có vật
vô chủ và có thể thiêu đốt vật ấy. Nhưng giới này đã
kể vật quỉ thần và vật công hữu, thì không còn nhận
có vật gì là vô chủ, nên phải dịch như đã dịch. Chưa
hết, chính văn câu này có những bản chép hữu chủ vật
ra hữu sinh vật, theo đó thì phải dịch "những chỗ có sinh
vật"; lại có những bản chép quan vật ra cung vật, hữu chủ
vật ra hữu sinh vật, theo đó thì phải dịch "cung miếu và
tài vật của quỉ thần; nhưng tất cả những chỗ có sinh
vật". Giới này, xét kyՠthì thấy răn sự đốt phá vô trách
nhiệm nhiều hơn răn sự đốt phá tàn hại sinh mạng, nên
Vạn 60/87B nói chữa hữu chủ ra hữu sinh là sai. Tinh thần
giới văn cấm chỉ nhất là đốt rừng. Xét đến bao nhiêu
tác dụng trọng đại không thể thay thế của rừng rú mới
thấy sự quan trọng của giới này.
Tháng
tư đến tháng chín là những tháng ở Ấn độ thảo mộc
côn trùng sinh sản nhiều hơn và bị cấm thiêu đốt nhiều
hơn, chứ không phải chỉ cấm những tháng ấy mà thôi. Sau
hết, giới này là cấm đốt kẻo cháy lan đến của cải
và tánh mạng của người và vật; nếu cốt đốt cháy của
cải và tánh mạng của người và vật thì phạm tội trộm
cướp và tàn sát.
Số
15: Không Được Chỉ Dạy Sai Lệch
Phật
tử thì với những người cùng là Phật tử như mình, với
ngoại đạo, với kẻ ác, với bà con, với những người quen
biết tốt, với ai cũng hướng dẫn cho họ thọ trì kinh luật
đại thừa, hướng dẫn cho họ lý giải được nghĩa ý của
kinh luật ấy, làm cho họ phát bồ đề tâm; mười tâm phát
thú, mười tâm trưởng dưỡng, mười tâm kim cang, ba mươi
tâm ấy nhất nhất hướng dẫn cho họ hiểu rõ pháp dụng
thứ tự. Nếu là Bồ tát mà vì tâm lý xấu xa, tâm lý hiềm
ghét, một cách rất vô lý chỉ dạy cho người kinh luật của
nhị thừa thanh văn và học thuyết của ngoại đạo tà kiến
thì phạm tội khinh cấu.
"Không
được chỉ dạy sai lệch", cũng có thể nói không được
không dạy đại thừa. Đối với bất cứ ai, nhưng với sự
cẩn trọng tuyệt đối, người thọ Bồ tát giới phải hướng
dẫn cho họ 3 điều: học hiểu bồ tát giới, phát bồ đề
tâm, học hiểu bồ tát vị. Dạy khác đi là sai lệch. Pháp
dụng: cái dụng trừ mê lầm chứng chân lý của các pháp
phải học ở trên.
Về
việc dạy Tỷ kheo giới (kinh luật của nhị thừa thanh văn)
hay tại gia giới, thì tinh thần và sự việc đã nói trong
khi giải thích giới nhẹ số 8.
Số
16: Không Được Nói Pháp Rối Loạn
Phật
tử thì bằng một tâm nguyện tốt đẹp, trước tiên học
tập uy nghi và giới pháp của kinh luật đại thừa, lý giải
một cách sâu rộng nghĩa lý và ý vị của uy nghi và giới
pháp ấy. Rồi thấy các vị Bồ tát mới học mà có người
từ trăm dặm ngàn dặm đến cầu học kinh luật đại thừa,
thì phải nói cho họ, một cách đúng như chánh pháp, về những
khổ hạnh như thiêu đốt thân phần, cánh tay, ngón tay. Nếu
thấy họ tỏ ý e ngại sự thiêu đốt ấy, mặc dầu đã
được bảo là thiêu đốt để hiến lên chư Phật đi nữa,
thì biết không phải là Bồ tát xuất gia. Bồ tát xuất gia
thì dẫu đến hổ lang, sư tử và quỉ thần đang đói, cũng
nên xả thịt hay tay chân của mình mà cung cấp. Sau khi nói
những pháp khổ hạnh rồi, nhất nhất tuần tự nói cho họ
về giới pháp chính yếu, làm cho tâm của họ mở rộng, ý
của họ giải tỏa. Nếu là Bồ tát mà vì ý niệm lợi lộc
nên điều đáng giải đáp không giải đáp, nói một cách
rối loạn văn nghĩa của kinh luật đại thừa, không có thứ
tự trước sau, nói tóm, nói một cách phỉ báng Tam bảo, thì
phạm tội khinh cấu.
"Không
được nói pháp rối loạn" là phải nói một cách tuần tự.
Trước hết phải thử nghiệm và nung nấu tâm chí cho người
học đạo bằng cách trình bày các pháp khổ hạnh, sau đó
ngó được mới dạy Bồ tát giới. Uy nghi và giới pháp của
kinh luật đại thừa là chi tiết và giới điều của Bồ
tát giới Phạn võng. Thiêu đốt nằm trong nghĩa hy sinh, phóng
xả. Thiêu đốt để hiến lên chư Phật là hiến lên chư
Phật cái chí nguyện kiên cố như trong sự thiêu đốt. Nhưng
đây là nói để thử. Thử coi nói đến hiến lên chư Phật
mà họ có mạnh mẽ tâm chí không. Không thì phải dạy bảo
từ từ, cốt sao cho họ có được tâm chí kiên cường để
thọ trì Bồ tát giới. Đối với thân thể, nói tổng quát,
Bồ tát giới Phạn võng bảo trọng (như giới 37 nói) hay khinh
xả (như giới này nói) đều cốt để học tập Bồ tát giới.
Số
17: Không Được Ỷ Thế Ham Cầu
Phật
tử nếu tự mình vì đồ ăn, vì thức uống, vì tiền của,
vì quyền lợi, vì danh vọng, thân cận với quốc vương, vương
tử, tể tướng, bách quan, rồi ỷ thế làm oai, yêu sách,
hành hung, chiếm đoạt tiền tài sản vật của người một
cách ngang ngược; nhưng mọi sự cầu lợi như vậy là ham
cầu tàn ác, ham cầu quá đáng, vậy mà còn chỉ bảo kẻ
khác ham cầu nữa, không còn gì là từ bi, là hiếu thuận,
thì phạm tội khinh cấu.
Trong
những cách ham cầu mà giới này nói còn thiếu mấy sự thường
thấy, nhất là đem kinh pháp ra nói sao cho vừa lòng phụ nữ
và chính quyền. Yêu sách, hành hung, dịch sát là xin, đòi,
đánh, tát, lôi, kéo.
Số
18: Không Được Mù Mờ Làm Thầy
Phật
tử nếu học và tụng Bồ tát giới thì ngày đêm sáu buổi
nắm giữ giới ấy trong trí, lý giải ý nghĩa giới ấy, nghĩa
là lý giải về tánh của Phật tánh. Là Bồ tát mà không
lý giải được một câu đủ nghĩa, một bài chỉnh cú, lý
do của giới pháp cũng không rành, lại nói dối trá rằng
lý giải được, như vậy là tự lừa đảo mình và lừa đảo
người khác. Nên, nhất nhất mù mờ, giới pháp giáo pháp
nào cũng không hiểu, vậy mà làm pháp sư truyền thọ giới
pháp cho kẻ khác, thì phạm tội khinh cấu.
Đầu
giới này có bản chép thêm, theo đó thì phải dịch "nếu
Phật tử thì phải học tập 12 thể loại khế kinh, hằng
ngày 6 buổi trì tụng Bồ tát giới" ... Học và tụng Bồ
tát giới là học hiểu và tụng thuộc lòng giới ấy. Ngày
đêm sáu buổi: ở chỗ khác là cách nói 24 giờ trên 24 giờ,
nhưng ở đây là buổi đầu, buổi giữa và buổi cuối, của
ngày và đêm. Nắm giữ trong trí , chính văn là trì, là lấy
1 pháp hạnh để nói 5 pháp hạnh: thọ trì, đọc tụng, chánh
ức niệm, giải nghĩa thú, như thuyết hành (hoặc: thọ trì,
độc, tụng, giải thuyết, viết chép). Lý giải ý nghĩa giới
ấy, nghĩa là lý giải về tánh của Phật tánh là lý giải
Bồ tát giới, và sự lý giải Bồ tát giới có nghĩa lý giải
về bản nguyên của giới ấy là tánh của Phật tánh. Tánh
của Phật tánh là những đức tính của Phật tánh, trong đó
có từ bi hiếu thuận diễn thành Bồ tát giới. Lý do của
giới pháp là nguyên nhân, trường hợp, chi tiết và tương
quan của mỗi giới điều. Người thọ Bồ tát giới, khoan
nói để làm thầy truyền giới ấy cho ai, mà chính mình phải
học cho thật hiểu và thật thuộc về giới ấy.
Số
19: Không Được Phỉ Báng Giữ Giới
Phật
tử nếu vì tâm lý xấu và ác, thấy vị tỷ kheo giữ giới
tay nâng lư hương thực tập Bồ tát hạnh, mà đâm thọc bên
này bên kia, phỉ báng vu khống người thánh thiện, không từ
điều xấu nào mà không dựng đứng lên, thì phạm tội khinh
cấu.
"Không
được phỉ báng giữ giới", rõ hơn thì phải thêm không được
phỉ báng sự giữ giới bằng cách thực tập Bồ tát hạnh,
nhất là sự phỉ báng ấy dùng lưỡng thiệt mà vu khống
và ly gián. Tay nâng lư hương thực tập Bồ tát hạnh là nói
tắt đến 2 lớp: nói tắt về sự hiến hương, lễ bái, trì
niệm, và mọi sự này chỉ là nói một chút về sự thực
tập Bồ tát hạnh. Thực tập Bồ tát hạnh là giữ Bồ tát
giới. Ai thực tập như vậy mình cũng tùy hỷ cả, không nên
đố kà tổn đức.
Số
20: Không Được Không Cứu Phóng Sinh
Phật
tử thì phải đem tâm từ bi mà thực hành sự phóng sinh. Phải
nghĩ như vầy: tất cả nam tính là cha ta, tất cả nữ tính
là mẹ ta, ta đời đời kiếp kiếp không khi nào không sinh
ra từ cha mẹ ấy. Nên sáu đường chúng sinh đều là cha mẹ
của ta, ta giết mà ăn là giết mà ăn cha mẹ của mình. Lại
cũng giết mà ăn chính thân cũ của mình, vì lẽ hết thảy
thể cứng thể lỏng và sức nóng sức động toàn là thân
thể cũ của ta. Vì nghĩ như vậy nên thường phóng sinh. Đời
đời thọ sinh, đó cũng là một sự thực có tính cách bất
biến, nên càng phải chỉ bảo khuyến khích mọi người phóng
sinh. Khi thấy thế nhân tàn sát sinh vật thì phải tìm cách
cứu hộ, giải thoát khổ nạn cho chúng. Rồi thời thường
phải giáo hóa, giảng nói Bồ tát giới cho người để cứu
hộ chúng sinh. Gặp ngày chết của cha mẹ anh em thì phải
cung thỉnh pháp sư diễn giảng kinh luật của Bồ tát giới.
Cái phước ấy giúp cho người chết được thấy chư Phật,
hoặc sinh trong nhân loại hay trên chư thiên. Nếu không làm
như vậy thì phạm tội khinh cấu.
"Không
được không cứu phóng sinh" là phải cứu sinh (cứu thoát
sinh vật) và phóng sinh (phóng thả sinh vật). Đời đời thọ
sinh là chúng ta không phải chỉ có đời này mà đã có vô
lượng đời kiếp, và đời kiếp nào cũng chịu sự sinh ra
bởi cha mẹ và tứ đại. Do vậy mà sinh vật nào cũng đã
là cha mẹ cũ của ta, và tứ đại nơi sinh vật nào cũng đã
là thân cũ của ta. Tứ đại là 4 thể lực tạo ra cơ thể
và vũ trụ vật lý, tức cứng, lỏng, nóng, động (kiên, thấp,
noãn, động: cố thể, dịch thể, nhiệt lực, động lực);
4 thể lực này mới là tứ đại, còn đất nước lửa gió
(địa thủy hỏa phong) chỉ là tứ đại tùy tăng: cứng nhiều
hơn là đất, cho đến động nhiều hơn là gió, và mỗi thứ
trong tứ đại tùy tăng ấy đều có đủ cả tứ đại.
Vì
đời đời thọ sinh nên phải cứu sinh và phóng sinh. Cứu
sinh có 2 cách: tìm cách mà cứu khi sinh vật bị bắt (cách
đó, phóng sinh là một) và tìm cách khuyên người đừng bắt
sinh vật nữa (cách đó, giảng Bồ tát giới là một). Cách
sau cứu được cả người bắt và sinh vật bị bắt, nên
gọi là cứu hộ chúng sinh.
Gặp
ngày chết của cha mẹ anh em , ngày chết là ngày mới chết
và ngày kﮠViệc giảng Bồ tát giới có ích lợi lớn lao
trong việc cứu hộ chúng sinh, nên gặp ngày chết mà giảng
Bồ tát giới thì người chết phi sinh tịnh độ (thấy Phật)
cũng sinh nhân thiên. Giảng Bồ tát giới là giảng giới ấy
với những cách thức thích nghi, chứ không phải chỉ giảng
giải chính văn.
Thông
thường Phật tử phóng sinh chỉ vì thương sinh vật theo lời
Phật dạy và muốn được phước như lời Phật dạy. Nhưng
lý thuyết phóng sinh nói trong giới này còn bác bỏ cái thuyết
cho sinh vật với người đều do thượng đế tạo ra, và thượng
đế tạo ra sinh vật là để cho người ăn.
Mười
giới pháp nhẹ như vậy các người phải học, phải cung kính
phụng trì, như trong phẩm Diệt trừ tội lỗi Như lai sẽ
nói rộng rãi về mỗi một giới pháp ấy.
Kết
thúc 10 giới pháp nhẹ thứ hai.
Số
21: Không Được Giận Dữ Báo Thù
Phật
tử thì không được đem sự giận dữ trả lại sự giận
dữ, không được đem sự đánh đập trả lại sự đánh đập,
cũng không được giữ tâm niệm trả thù những kẻ tàn sát
cha mẹ anh em bà con của mình hay những kẻ sát hại quốc
chúa. Tàn sát sự sống để trả thù sự sống là điều không
thuận với đạo hiếu. Không nuôi nô bộc tỳ thiếp mà đánh
đập mắng chưởi, ngày ngày ba nghiệp bùng dậy, nhất là
tội lỗi khẩu nghiệp lại càng vô lượng, huống chi cố
làm đến bảy tội nghịch. Là Bồ tát xuất gia mà không có
tâm từ bi, cố giữ ý niệm trả thù đến nỗi trong hàng
bà con cũng quyết không tha, thì phạm tội khinh cấu.
Cái
khác của người học đạo với người thế gian là ở chỗ
trả thù hay cảm hóa. Câu chót hết, chính văn là "nhi xuất
gia bồ tát vô từ tâm, báo thù, nãi chí lục thân trung cố
báo giả, phạm khinh cấu tội". Chính văn này có một cách
hiểu mà theo đó thì phải dịch "nếu bồ tát xuất gia mà
không có từ tâm, cố ý báo thù, cho đến vì lục thân mà
cố ý báo thù, thì phạm tội khinh cấu". Hiểu như vậy là
cố ép chính văn cho đúng với đoạn trên đã nói không được
trả thù kẻ giết cha mẹ thân nhân. Nhưng chính văn này rõ
ràng muốn nói, là Bồ tát, lại là Bồ tát xuất gia, mà quyết
tâm trả thù (bất cứ trả thù cho ai) đến nỗi không những
đối với người ngoài mà đối với bà con cũng không tha,
thì phạm giới này. Về chữ Bồ tát xuất gia, có bản chép
và có người nói không có, nhưng tìm xét thì có đúng hơn
(Chính 62/202). Có điều nói như vậy không có nghĩa giới này
chỉ răn cấm người xuất gia, mà là có nghĩa răn cấm người
xuất gia hơn.
Số
22: Không Được Kiêu Ngạo Không Học
Phật
tử nếu mới xuất gia, chưa lý giải gì, mà tự thị thông
minh, tự thị cao sang, tự thị tuổi tác, tự thị dòng họ,
tự thị giai cấp, kiến thức to lớn, phước đức to lớn,
giàu có to lớn, đủ cả thất bảo, ỷ thị những thứ ấy
mà kiêu ngạo, không chịu học hỏi kinh luật với các vị
pháp sư đã học hỏi trước mình. Các vị pháp sư ấy có
thể có người dòng họ nhỏ, tuổi tác nhỏ, giai cấp nhỏ,
nghèo nàn, thấp thỏi, các giác quan không hoàn chỉnh, nhưng
thật là người có đức, lý giải thấu đáo hết thảy kinh
luật. Nếu các vị Bồ tát mới học mà dòm ngó dòng họ
và giai cấp, không chịu đến học hỏi đệ nhất nghĩa nơi
vị pháp sư ấy, thì phạm tội khinh cấu.
Đệ
nhất nghĩa là chân lý tuyệt đối, tức Phật tánh thường
trú. Nếu kiêu ngạo mà không thỉnh cầu học hỏi giáo pháp
và giới pháp Phật tánh, thì thế là để sự kiêu ngạo vùi
lấp cả một kiếp làm người.
Số
23: Không Được Không Truyền Kinh Giới
Phật
tử nếu, sau khi Như lai nhập niết bàn rồi, muốn đem tâm
nguyện tốt đẹp lãnh thọ Bồ tát giới mà bằng cách tự
nguyện lãnh thọ giới ấy trước hình tượng Phật đà, hình
tượng Bồ tát, thì phải bảy ngày sám hối trước hình tượng
Phật đà, hình tượng Bồ tát, hễ thấy được tướng tốt
thì thọ giới là được giới. Nếu chưa thấy được tướng
tốt, thì phải hai lần hay ba lần bảy ngày, cho đến một
năm, phải sám hối cho thấy được tướng tốt. Thấy được
tướng tốt rồi thì có thể thọ giới trước hình tượng
Phật đà, hình tượng Bồ tát. Nếu không thấy được tướng
tốt, thì dẫu thọ giới trước hình tượng Phật đà, hình
tượng Bồ tát, cũng không thể gọi là được giới. Nếu
lãnh thọ Bồ tát giới bằng cách hiện diện đối trước
vị pháp sư đã thọ giới ấy trước mình, thì không cần
phải thấy được tướng tốt, tại sao, vì vị pháp sư ấy
đã do các vị pháp sư trước nữa truyền giới cho nhau, và
nay truyền lại cho mình, nên không bắt buộc phải thấy tướng
tốt. Và thọ giới trước vị pháp sư như vậy thì được
giới liền, được bởi cái tâm cùng cực cẩn trọng phát
sinh trong lúc ấy. Nếu trong vòng ngàn dặm, không ai có thể
làm vị pháp sư truyền thọ Bồ tát giới, thì người muốn
thọ giới ấy có thể tự nguyện mà lãnh thọ trước hình
tượng Phật đà, hình tượng Bồ tát, nhưng với điều kiện
phải sám hối thấy được tướng tốt. Nếu là vị pháp
sư mà tự thị sự lý giải của mình đối với kinh luật
và giới pháp đại thừa, chỉ làm bạn với quốc vương,
vương tử và bách quan, còn các vị Bồ tát mới học đến
xin hỏi hoặc nghĩa ý của khế kinh, hoặc nghĩa ý của giới
luật, vị pháp sư ấy vì tâm lý khinh miệt, tâm lý xấu xa,
tâm lý kiêu ngạo, không nhất nhất giải đáp một cách tốt
đẹp những câu của họ thưa hỏi, thì phạm tội khinh cấu.
Không
truyền kinh giới là không truyền dạy và truyền thọ cho hậu
học về khế kinh và giới luật, chủ yếu là Bồ tát giới
Phạn võng; và như vậy là chính mình làm cho giống Phật đứt
đoạn. Giới văn công kích sự xu phụ quyền quí mà khinh miệt
hậu học, không chu toàn nhiệm vụ của mình. Nhiệm vụ ấy,
như vừa nói, là truyền dạy và truyền thọ Bồ tát giới.
Phần người thọ giới, nếu trong vòng ngàn dặm không có
vị thầy xứng đáng thì có thể tự nguyện thọ Bồ tát
giới trước tượng Phật và cũng có thể được giới, với
điều kiện trước đó phải sám hối cho đến lúc thấy được
tướng tốt mà giới 41 sẽ nói. Còn nếu thọ Bồ tát giới
với thầy truyền giới thì phải là vị thầy đã do các vị
thầy trước truyền lần, và nay làm cả 2 nhiệm vụ đại
sư Hòa thượng và đại sư Xà lê mà truyền giới cho mình,
nhưng mình chỉ được giới nếu có cái tâm cùng cực cẩn
trọng trong lúc thọ giới (và tiếp sau đó trong lúc trì giới).
Vị thầy tự nguyện thọ giới dĩ nhiên không được truyền
giới, nhưng vị thầy do các vị thầy trước truyền lần
cũng chỉ được truyền giới với điều kiện ít nhất là
biết quí trọng tương lai của Phật pháp mà không xu phụ
quyền quí, là lãnh thọ và truyền trao đúng với sự qui định
của Bồ tát giới Phạn võng.
Kinh
Anh lạc nói thọ Bồ tát giới có 3: đối trước Phật đà
Bồ tát mà thọ là thượng phẩm, đối trước pháp sư thọ
trước mà thọ là trung phẩm, nếu trong vòng ngàn dặm không
có vị pháp sư ấy nên đối trước tượng Phật đà và Bồ
tát mà thọ là hạ phẩm (Chính 24/1020). Vì sao thọ giới trước
vị pháp sư hơn thọ giới trước tượng Phật thì xét thấy
(a) trong hình thức, thọ giới với vị pháp sư thì có vị
thầy không hiện diện là Phật, có vị thầy hiện diện là
pháp sư, (b) trong sự việc, thọ giới với vị pháp sư thì
trước, trong và sau khi thọ giới, vị pháp sư thường dạy
bảo, khuyến khích, nhất là kiểm tra.
Số
24: Không Được Học Các Sách Khác
Phật
tử nếu có chánh pháp đại thừa trong kinh luật Như lai đã
dạy, chánh pháp đủ cả chánh kiến, chánh tánh, chánh pháp
thân, mà không nỗ lực học hỏi tu tập, lại bỏ chánh pháp
quí báu như thất bảo ấy mà học tập sách vở phủ nhận
Phật tánh của nhị thừa, ngoại đạo và thế tục, như các
bộ a tỳ đàm, các luận thuyết hỗn tạp, những thi văn truyện
ký, thì thế là làm mất Phật tánh, làm cản đạo nghiệp,
chứ không phải thực hành Bồ tát đạo. Nếu cố ý học
tập thì phạm tội khinh cấu.
Chánh
pháp đại thừa trong kinh luật Như lai đã dạy là trong kinh
luật Phật dạy có kinh luật đại thừa. Các kinh luật Phật
dạy khác cũng có chánh pháp đại thừa ít nhiều trong đó.
Chánh pháp đại thừa là chánh kiến: kiến giải về Phật
tánh, là chánh tánh: thực hành đức tánh của Phật tánh,
và là chánh pháp thân: thành tựu Phật tánh (thành tựu pháp
thân: thực hiện bản thể đầy đủ đức tánh). Ba điều
này bao gồm tất cả nội dung về lý, hạnh và quả của đại
thừa. So với sách vở của tiểu thừa, ngoại đạo, và thế
tục, thì đại thừa như vậy quí như thất bảo, nhưng thông
đạt đại thừa rồi, muốn biết những sách vở ấy để
tiện việc hóa độ, thì lại là việc khác. Sách vở phủ
nhận Phật tánh , chính văn là tà kiến, chữ ấy ở đây
có nghĩa là những kiến thức phủ nhận Phật tánh, không
có căn bản Phật tánh ấy. Tà kiến như vậy bao gồm cả
nhị thừa, ngoại đạo và thế tục. Nhưng nhị thừa ở đây,
là các bộ a tỳ đàm, nói như vậy là chỉ nói thời kỳ
bộ phái, không nói thời kỳ nguyên thỉ, lại càng không nói
về giới luật. Do vậy mà người xuất gia thọ Bồ tát giới
càng phải lãnh thọ, học hỏi và tuân giữ cho nghiêm về
Tỷ kheo giới. Còn ngoại đạo ở đây là các chủ thuyết
phức tạp và hỗn tạp của hết thảy học phái cùng tôn
giáo khác. Thế tục là những thi văn truyện ký của thế
tục, nhưng có người chú giải ký là toán học, bao gồm cả
toán pháp, lý số và thiên văn, có người còn dẫn luận Du
dà mà chứng minh cho chú giải ấy.
Số
25: Không Được Lạm Dụng Gây Rối
Phật
tử nếu, khi Như lai nhập niết bàn rồi, làm chủ sự thuyết
pháp, làm chủ sự hành đạo, làm chủ nơi tăng phường, làm
chủ sự giáo hóa, làm chủ sự tọa thiền, làm chủ sự đi
lại, thì phải phát sinh tâm từ bi, khéo hòa giải mọi sự
mâu thuẫn, khéo hộ vệ vật của Tam bảo, đừng sử dụng
vô độ như là của riêng. Nếu trái lại, làm cho Tăng chúng
rối loạn vì sự tranh chấp, mặc sức sử dụng của Tam bảo,
thì phạm tội khinh cấu.
Các
chức vị làm chủ trong giới văn này, tùy qui chế và định
nghĩa mà xưa nay gọi bằng những tên hoặc đồng hoặc khác,
như làm chủ sự thuyết pháp gọi là pháp sư, cho đến làm
chủ sự đi lại gọi là tri khách. Nhưng làm pháp sư hay làm
trú trì, bất cứ chức vị gì mà nắm trọn phần hay nắm
một phần quyền hành trong Tăng chúng, thì phần tự lợi không
được lạm dụng, phần lợi tha phải khéo điều giải mâu
thuẫn. Nếu lạm dụng và gây rối thì chính mình là tên giặc
phá hoại Tăng chúng.
Số
26: Không Được Không Đãi Khách Tăng
Phật
tử nếu đã ở trước trong tăng phường, sau thấy các vị
tỷ kheo hay tỷ kheo bồ tát, đến nơi tăng phường, đến
nơi nhà cửa, thành thị hay thôn ấp của mình, đến nơi nhà
của quốc vương thiết lập, đến nơi chỗ đang kiết hạ
an cư, hay nơi chỗ đang thiết lập đại hội cầu phước,
thì mình là chư tăng ở trước, phải đón rước, tiễn đưa,
và hiến cúng ẩm thực; phòng ở, đồ nằm, giường giây
hay giường cây, mọi sự đều cung cấp. Nếu không có sẵn,
thì dẫu phải bán mình, bán cả con cái, cũng gắng mà cung
phụng những thứ các vị ấy cần dùng. Rồi nếu có thí
chủ đến thỉnh chư tăng, thì các vị khách tăng ấy cũng
có đồng phần, nên vị chủ tăng phường phải y theo thứ
tự mà mời các vị khách tăng ấy thọ thỉnh. Nếu chư tăng
ở trước chỉ thọ thỉnh riêng, không mời các vị khách
tăng, thì vị chủ tăng phường tội lỗi vô lượng, không
khác gì loài vật, không phải sa môn, không phải dòng giống
họ Thích. Nếu cố ý làm như vậy thì phạm tội khinh cấu.
Giới
này cốt nói cho người xuất gia thọ Bồ tát giới, nhất
là các vị tri sự hay trú trì mà trong giới văn gọi là vị
chủ tăng xá. Nhưng trong chi tiết lại có vài chỗ nói chung
hoặc nói riêng cho cả người tại gia thọ Bồ tát giới.
Nhà cửa, thành thị hay thôn ấp của mình là nói chung cho
cả xuất gia tại gia mà nói cho tại gia nhiều hơn. Nhà của
quốc vương thiết lập là thời xưa ở Ấn, vua chúa hay làm
những nhà cửa nghỉ chân cho tu sĩ, du khách. Phòng ở, đồ
nằm, giường cây hay giường giây, toàn là nói về đồ nằm,
nhưng sự hiến cúng thường có 4, là đồ ăn, đồ mặc, đồ
nằm và dược phẩm. Bán mình, bán cả con cái, có bản chép
thêm cắt thịt thân mình mà bán, nhưng nhiều bản không có,
và không có thì đúng hơn. Câu này nói riêng cho người tại
gia thọ Bồ tát giới, và đó là nói cái tình đãi sư tăng
và đồng đạo cực kỳ chí thiết, nên nói như vậy có nghĩa
giả sử nhiều hơn. Tuy nhiên, cách nói ấy cũng nên hiểu.
Nói bán mình và bán con như kiểu đi ở thì xưa và nay hay
có. Nói bán mình và bán con là bán sức lao động chân tay
và trí thức thì ở đâu và thời nào cũng có và có dưới
nhiều hình thức. Nhưng nói bán thịt mình, nếu thật giới
này có nói, thì chỉ là giả sử, trừ ra bán thịt có nghĩa
như bán mình. Y theo thứ tự mà mời các vị khách tăng ấy
thọ thỉnh , cách thức này quan trọng, sẽ được giải thích
trong giới 28 sau đây. Nếu khách tăng bị kỳ thị, không được
tiếp đãi chu tất, không được lợi hòa đồng quân đúng
luật, thì sự kỳ thị ấy bị Phật kết án gần như chưa
từng thấy.
Số
27: Không Được Thọ Thỉnh Riêng Biệt
Phật
tử thì trường hợp nào cũng không được thọ thỉnh riêng
biệt, thu đồ hiến cúng về cả nơi mình. Đồ hiến cúng
là thuộc về chư tăng mười phương. Nếu thọ thỉnh riêng
biệt thì ấy là lấy vật của chư tăng mười phương thu
về nơi mình; lại xâm phạm đến vật của Phật đà, thánh
giả, đại sư, chư tăng, cha mẹ và bịnh nhân trong tám ruộng
phước, vì lẽ mình chỉ dùng cho mình mà thôi, nên phạm tội
khinh cấu.
Đồ
hiến cúng là thuộc về chư tăng mười phương, chư tăng mười
phương là các vị tỷ kheo và tỷ kheo thọ Bồ tát giới trong
mọi phương hướng, bất cứ ở đâu. Đồ hiến cúng, theo
luật, là của chung chư tăng như vậy. Nói nôm na, theo luật,
không có chùa riêng và đồ riêng của chư tăng ở trước
trong mỗi chùa, mà tất cả chùa chiền, và đồ vật được
hiến cúng đã lâu hay mới có, trong đó có sự trai tăng, đều
là của chư tăng 10 phương mà chư tăng ở trước chỉ là
một bộ phận, một số đại diện. Tám ruộng phước là
Phật đà, thánh giả (Bồ tát, Duyên giác, La hán), đại sư
Hòa thượng (vị truyền giới), đại sư Xà lê (vị dạy cách
thọ giới), chư tăng, cha, mẹ và bịnh nhân; 8 bậc và người
này là những đám ruộng tốt mọc lên và nuôi lớn phước
đức cho người, nên gọi là 8 ruộng phước. Đồ hiến cúng,
theo luật, cũng là của chung 8 ruộng phước như vậy. Nếu
không thọ thỉnh theo thứ tự như giới 28 sau đây nói, mà
thọ thỉnh riêng biệt, lại sử dụng một mình, thì thế
là chiếm đoạt 2 lớp: chiếm đoạt của chư tăng 10 phương
và của 8 ruộng phước. Thọ thỉnh riêng biệt, nói nôm na,
là nhận lời mời trai tăng riêng, nhận đồ hiến cúng riêng,
chứ không lợi hòa đồng quân cho chư tăng, nhất là cho khách
tăng. Thu đồ hiến cúng về nơi mình, mình chỉ dùng riêng
cho mình, những chữ mình trong 2 câu này chỉ cho vị trú trì
hay tri sự, lại chỉ cho chư tăng ở trước trong mỗi ngôi
chùa. Nếu người thỉnh tăng mà thỉnh riêng, nếu tăng thọ
thỉnh mà thọ riêng, thì không được gọi là thỉnh tăng
hiến cúng và không được cái phước ấy. Hãy coi kyՠgiới
28 dưới đây.
Số
28: Không Được Thỉnh Tăng Riêng Biệt
Phật
tử thì dầu xuất gia thọ Bồ tát giới, dầu tại gia thọ
Bồ tát giới, hay vị trí thí chủ nào, khi muốn thỉnh chư
tăng để hiến cúng cầu nguyện, cũng phải đến tăng phường,
hỏi vị tri sự mà bạch rằng muốn theo thứ tự thỉnh chư
tăng để hiến cúng cầu nguyện. Như vậy là thỉnh được
Hiền thánh tăng mười phương. Nếu thỉnh riêng biệt như
thế nhân, thì thỉnh năm trăm vị tăng La hán và Bồ tát,
cũng không bằng thỉnh một vị tăng phàm phu trong thứ tự
của chư tăng. Thỉnh riêng là nề nếp của ngoại đạo, bảy
đức Phật không có qui chế thỉnh riêng. Sự ấy không thuận
với đạo hiếu. Nếu cố ý thỉnh riêng thì phạm tội khinh
cấu.
Thỉnh
tăng riêng biệt , nói nôm na là mời các Thầy ăn riêng, cho
riêng; ý riêng thích ai thì mời thì cho người ấy. Như vậy
không được gọi là thỉnh tăng và không có cái phước thỉnh
tăng. Do đó, giới 27 trên đã cấm tăng thọ thỉnh riêng biệt,
giới 28 này lại cấm người thỉnh tăng riêng biệt, mà thỉnh
và thọ thỉnh đều phải theo thứ tự của chư tăng. Thỉnh
và thọ thỉnh theo thứ tự của chư tăng là thế này. Chư
tăng cùng ở 1 trú xứ, vốn phải phân thứ tự theo năm thọ
Tỷ kheo giới mà giới 38 sẽ nói. Có thể phân thứ tự ấy
bằng 1 bảng danh sách. Và thứ tự phân theo năm thọ giới
như vậy gọi là thứ tự của chư tăng . Các vị khách tăng
cũng vậy, ngay khi mới đến, sẽ ở lại mau hay lâu, hay vô
hạn định, vị trú trì hay tri sự phải hỏi năm thọ Tỷ
kheo giới của các vị ấy mà đưa vào thứ tự của chư tăng
trong trú xứ. Rồi ai muốn thỉnh thì hãy đến trú xứ ấy
mà bạch với vị trú trì hay tri sự, rằng xin thỉnh tăng
theo thứ tự , lại phải bạch rõ thỉnh cúng được mấy
vị. Nếu người thỉnh không biết cách thỉnh tăng theo thứ
tự thì vị trú trì hay tri sự phải hỏi và phải chỉ cho
họ. Đến lượt chư tăng thọ thỉnh theo thứ tự là vị
trú trì hay tri sự bạch chư tăng rõ ý nguyện của người
thỉnh, và chư tăng cùng thọ thỉnh theo ý nguyện ấy. Vị
trú trì hay tri sự lại coi cái số mà người thỉnh có thể
cúng, nếu đủ cả chư tăng thì bạch chư tăng đi dự cả,
nếu không đủ thì vị trú trì hay tri sự theo thứ tự của
chư tăng mà cử đi. Cử số này cho lần này rồi cử đến
số khác cho lần khác, khi chư tăng ai cũng đi rồi thì bắt
đầu trở lại mà cử. Như vậy, không kể thỉnh và thọ
thỉnh là bao nhiêu vị, mà ý nguyện người thỉnh là thỉnh
Hiền thánh tăng mười phương, còn tăng thọ thỉnh thì một
hay mấy vị, và là phàm phu tăng đi nữa, cũng là thay mặt
Hiền thánh tăng mười phương mà thọ thỉnh. Do đó mà người
thỉnh dầu chỉ thỉnh cúng được một vị, và là một vị
phàm phu tăng mà thôi, cũng vẫn gọi là thỉnh tăng, và vẫn
được cái phước thỉnh tăng ấy. Nếu người thỉnh tăng
cũng như tăng thọ thỉnh mà không theo sự thỉnh và thọ thỉnh
thứ tự, lại thỉnh và thọ thỉnh riêng biệt, thì đó là
ngoại đạo, không phải qui chế của Phật, và người thỉnh
dầu thỉnh hàng trăm vị, và toàn là thánh tăng cả, cũng
vẫn không được gọi là thỉnh tăng, và không có cái phước
của sự thỉnh tăng. Tuy nhiên, trên đây là nói thỉnh và
thọ thỉnh trong sự hiến cúng cầu nguyện, ngoài sự đó
thì không phải là điều mà giới này nói đến.
Câu
phải đến tăng phường, hỏi vị tri sự mà bạch rằng muốn
theo thứ tự thỉnh chư tăng để hiến cúng cầu nguyện, như
vậy là thỉnh được Hiền thánh tăng mười phương, có bản
chép thêm mấy chữ mà theo đó thì phải chuyển văn nhiều
hơn một chút mới dịch rõ được: Phải đến tăng phường,
hỏi vị tri sự mà bạch rằng muốn thỉnh chư tăng để hiến
cúng cầu nguyện; vị tri sự trả lời hãy thỉnh theo thứ
tự. Người ấy y lời mà thỉnh theo thứ tự. Như vậy là
thỉnh được Hiền thánh tăng mười phương. Cách chép này
kém, nhưng rõ hơn được chút nữa cho giới này, lại làm
cho giới này dạy được cả người thí chủ và vị tri sự.
Số
29: Không Được Sống Bằng Tà Mạng
Phật
tử nếu vì độc ác và vụ lợi mà buôn bán dâm nam dâm nữ,
tự tay làm đồ ăn, tự xay tự giã, coi tướng nam nữ, đoán
mộng tốt xấu, đoán thai trai gái, làm các chú thuật, xảo
thuật, luyện tập chim săn thú săn như luyện chim ưng, pha
chế thuốc độc bằng trăm thứ ngàn thứ độc hợp lại,
độc rắn, độc vàng bạc sống, độc sâu cổ, không còn
gì là từ bi, hiếu thuận. Nếu cố ý làm thì phạm tội khinh
cấu.
Tà
mạng, là sống bằng những cách sống thiếu uy nghi, thiếu
tư cách, thiếu từ tâm. Người xuất gia thì "hoằng pháp thị
gia vụ, lợi sinh vi sự nghiệp" nên phải sống bằng sự giúp
đỡ của tín đồ, còn người tại gia thì "như lý cầu tài"
kiếm của một cách hợp lý mà sống, ngoài ra đều là tà
mạng cả. Tự tay làm đồ ăn, tự xay tự giã là nói sự
thiếu uy nghi của vị tỷ kheo. Độc sâu cổ là bắt cả trăm
thứ sâu bỏ vào 1 cái hộp cho chúng ăn nhau, con nào còn sống
gọi là sâu cổ. Đem phân sâu cổ ấy tán ra mà đầu độc
thì phát điên cuồng hay bị cổ trướng. Lấy phân cả trăm
thứ sâu nuôi chung mà đầu độc, cũng gọi là độc sâu cổ.
Số
30: Không Được Bất Kính Hảo Thời
Phật
tử nếu vì tâm lý bất lương, chính mình phỉ báng Tam bảo
bằng cách tỏ ra thiết cốt với Tam bảo, nhưng, mở miệng
ra là nói về không mà việc làm thì toàn ở trong có: kinh
lý cho thế nhân, vì thế nhân mà mai mối nam nữ, kết hợp
sắc dục, tạo ra đủ thứ hệ lụy; sáu ngày chay trong mỗi
tháng, hay ba tháng chay trong mỗi năm, cũng sát sinh, trộm cướp,
phá trai, phạm giới, thì phạm tội khinh cấu.
Hảo
thời là những thì gian quí báu, cần phải da tăng sự cẩn
trọng, như những ngày lục trai hàng tháng (8, 14, 15, 23, 29
và 30) và ba tháng trường trai hàng năm (giêng, năm và chín),
hay các ngày kỷ niệm Phật đà, Bồ tát. Những thì gian quí
báu như vậy mà phá giới phạm trai, thì đã phạm những tội
phá giới phạm trai mà còn phạm giới này nữa. Giới này
răn sự xảo trá đối với Tam bảo, răn sự nói và làm nghịch
nhau, sự kinh lý cho thế nhân, và như vậy là răn tà nghiệp,
răn thêm tà mạng, nhất là răn cấm đích thân phỉ báng Tam
bảo bằng những sự ấy, nên các bản chú thích đặt tên
khác nhau theo những sự răn như vậy. Kinh lý cho thế nhân,
ngoài sự mai mối nam nữ còn có lắm việc, như kinh tài, môi
giới chính trị ...
Mười
giới pháp nhẹ như vậy, các người phải học, phải cung
kính phụng trì, như trong phẩm Thiết chế giới luật Như
lai đã giải thích đầy đủ.
Kết
thúc 10 giới nhẹ thứ ba.
Số
31: Không Được Không Cứu Không Chuộc
Phật
tử nếu, sau khi Như lai nhập niết bàn, trong thời kỳ dữ
dội, thấy ngoại đạo và những kẻ tàn ác, những kẻ đạo
tặc, chiếm đoạt và đem bán hình tượng Phật đà, hình
tượng Bồ tát, những hình tượng mà mình tôn thờ như cha
mẹ, bán kinh bán luật, bán các vị tỷ kheo, tỷ kheo ni, bán
bồ tát mới phát bồ đề tâm, cho quan lại sai sử hay cho
kẻ khác làm nô bộc tỳ thiếp - Nếu là Bồ tát thì thấy
những sự tình ấy phải phát sinh tâm từ bi, tìm mọi phương
cách mà cứu hộ, đi khắp nơi khuyến hóa mọi người để
kiếm tiền của mà chuộc hình tượng của Phật đà và Bồ
tát, chuộc các vị tỷ kheo, tỷ kheo ni và bồ tát mới phát
tâm, chuộc kinh chuộc luật. Nếu không chuộc như vậy thì
phạm tội khinh cấu.
Giới
văn này nói đã quá rõ về tình trạng đau buồn của đạo
pháp, đã xảy ra và chắc chắn còn xảy ra. Bổn phận của
người thọ Bồ tát giới là phải duy trì ngôi Trú trì tam
bảo, nên tự mình vô lực thì phải cực lực khuyến hóa
mọi người, cùng nhau cứu chuộc về cho đạo pháp những
vật và những người đã bị bức đoạt một cách bất lương
và bẩn thỉu. Bán các vị tỷ kheo, tỷ kheo ni và bồ tát
mới phát tâm, cho quan lại sai sử hay cho kẻ khác làm nô bộc
tỳ thiếp, câu này ngày xưa có thể là nghĩa đen cả, nhưng
ngày nay thì sự thể biến ảo vô lường, ý nghĩa đen đúa
hơn mà danh từ lại rất bóng nhoáng, và chẳng phải chỉ
bán Phật tử, lại cũng chẳng phải chỉ bán cho kẻ khác
làm lao công mà thôi. Hình tượng Phật đà, hình tượng Bồ
tát, những hình tượng mà mình tôn thờ như cha mẹ, Vạn
60/57A giải thích là hình tượng của Phật đà, của Bồ tát
và của cha mẹ, nhưng xét ra không đúng với câu kết của
giới này. Tuy nhiên, nói như vậy không phải bảo Phật tử
đừng quan tâm đến cha mẹ, thân nhân và ân nhân.
Số
32: Không Được Tổn Hại Chúng Sinh
Phật
tử thì không được cất chứa buôn bán dao gậy cung tên,
buôn bán bình thường mà dùng dụng cụ cân lường nhẹ và
nhỏ, dựa vào uy thế của quan quyền mà chiếm đoạt tài
vật của người, giam cầm và phá hoại sự thành công của
người bằng tâm địa độc hại, nuôi lớn những loài mèo
chồn heo chó. Nếu cố ý làm những việc như vậy thì phạm
tội khinh cấu.
Tổn
hại chúng sinh bằng cách với người thì buôn bán bất lương,
ỷ thế cướp của, giam cầm và phá hoại sự thành công;
với vật thì nuôi để ăn để bán, nuôi những vật săn bắt
tàn hại vật khác. Đến như buôn bán vũ khí thì khỏi nói.
Số
33: Không Được Tà Dâm Làm Quấy
Phật
tử thì không được bằng tâm lý đen tối mà xem sự đấu
sức nam nữ, của quân trận, của tướng sĩ, của giặc cướp
... Không được xem nghe ca vũ, không được cờ bạc, không
được bói toán, không được làm liên lạc cho đạo tặc.
Những việc như vậy nhất nhất không được làm. Nếu cố
ý làm thì phạm tội khinh cấu.
Ngoại
trừ đam mê thanh sắc, cờ bạc, du hý, là các thứ mới răn
ở đây, ở đây vẫn còn răn thêm về tà mạng và tà nghiệp
(bói toán và làm việc cho giặc).
Xem
nghe ca vũ là dịch tắt cho rõ và đủ hơn. Dịch sát là nghe
thổi ốc, đánh trống, đánh mõ sừng (chính văn là giác,
có người nói thổi còi sừng), đàn cầm, đàn sắt, đàn
tranh, thổi sáo (có bản tiếp đây chép thêm thổi sanh), đàn
không hầu, nam nữ ca hát, ngâm vịnh (chính văn là kiếu, có
sự giải thích đó là huân, một nhạc khí bằng đất, hay
đi đôi với trì, một nhạc khí khác bằng tre), và mọi thứ
tiếng diễn tấu các nhạc khí khác.
Cờ
bạc cũng là dịch tắt cho rõ và đủ. Dịch sát là đánh
sư bồ (cờ ngũ mộc), cờ vây, cờ tướng (ba la tắc hý),
cờ đạn (vật tròn chọi vào lỗ hay chọi vào nhau), lục
bác, phách cúc (hay cầu, là đánh bóng, đá bóng), ném đá,
gieo hồ, và khiên đạo bát đạo hành thành (còn gọi là bát
đạo hành thành, chỉ có ở Ấn).
Bói
toán, chính văn là bốc thệ (bốc: bói bằng mai rùa, thệ:
bói bằng cỏ thi), nhưng ở đây tôi dùng chữ này để dịch
tắt cho đủ và rõ về mọi sự bói toán. Dịch sát là móng
kính (luyện thuốc bôi vào móng tay hay ngón tay cho bóng như
kính, làm hiện lên điềm tốt xấu, bôi trên kính trên vách
cũng vậy, nên Tàu gọi là phép bói sáng ngời), cỏ thi (như
bói dịch), nhánh dương (bói bằng nhánh dương liễu), bát
bồn (bát phải viết trên chữ hữu là bạn, dưới chữ mãnh
là đồ sành, bát bồn là bói nước đựng trong chén bát),
đầu lâu (lấy đầu lâu luyện cho linh rồi nghe mách thầm
bên tai về sự tốt xấu). Trong loại bói toán này, kinh Niết
bàn còn cấm coi tướng tay, chân, mặt, mắt.
Các
loại ca vũ, cờ bạc và bói toán trên đây, nếu dịch sát
thì Ấn khác Tàu khác, xưa khác nay khác, xưa nay ở nước
ta với các nước lại càng khác hơn nữa, nên dịch sát và
cắt nghĩa chỉ như nói chuyện đồ cổ của một địa phương,
chỉ làm cho khó hiểu, và loảng đi về ca vũ, cờ bạc và
bói toán hiện hành tại mỗi xứ mà chủ ý giới này răn
cấm.
Số
34: Không Được Rời Bồ Đề Tâm
Phật
tử thì phải nghiêm trì giới pháp, bằng cách trong mọi cử
động đi đứng nằm ngồi và ngày đêm sáu buổi đều phải
đọc tụng giới pháp ấy, và giữ với lòng bền chắc như
ngọc kim cương, giữ như giữ chiếc phao nổi khi bơi qua biển
cả, giữ với quyết chí của vị tỷ kheo bị buộc bằng
cỏ, vĩnh viễn phát sinh nơi mình đức tin cao đẹp của đại
thừa, là tự biết chắc mình là Phật sẽ thành như chư Phật
là Phật đã thành, tâm bồ đề không một thoáng nào rời
khỏi tâm trí. Như vậy mà nếu nổi lên một ý niệm của
tâm lý nhị thừa hay ngoại đạo thì phạm tội khinh cấu.
Không
rời bồ đề tâm là thể hiện thường xuyên đức tin đại
thừa và hành trì thường xuyên giới pháp đại thừa. Nếu
tâm lý có ý niệm tự lợi hay nghi hoặc xen vào là rời bồ
đề tâm, là tiểu thừa và ngoại đạo. Bằng cách mọi cử
động đi đứng nằm ngồi, và ngày đêm sáu buổi, đều phải
đọc tụng giới pháp, đọc tụng ở đây không phải là bố
tát tụng giới, mà là nói tắt về 5 pháp hạnh đối với
Bồ tát giới: thọ trì, độc tụng, chánh ức niệm, giải
nghĩa thú, như thuyết hành (hoặc thọ trì, độc, tụng, giải
thuyết, sao chép). Vị tỷ kheo bị buộc bằng cỏ, sự tích
nằm trong Đại trang nghiêm kinh luận, nói vị tỷ kheo vì tuân
lời Phật dạy không được bứt cỏ, nên bị giặc trói bằng
cỏ mà vẫn cố chịu chứ không chịu làm trái lời Phật.
Số
35: Không Được Không Phát Đại Nguyện
Phật
tử thì phải thường phát khởi mọi lời nguyện, như nguyện
hiếu thuận cha mẹ, đại sư, chư tăng, Tam bảo; nguyện gặp
được vị pháp sư tuyệt hảo và các vị thiện tri thức
đồng một sở học, để luôn luôn dạy cho mình kinh luật
đại thừa và các bồ tát vị là mười phát thú, mười trưởng
dưỡng, mười kim cang và mười địa, làm cho mình lý giải
và thực hành chính xác; nguyện kiên trì giới pháp của Phật,
dầu phải mất tánh mạng đi nữa, một thoáng cũng không để
rơi mất khỏi tâm trí cái niệm kiên trì ấy. Nếu là Bồ
tát mà không phát khởi mọi lời nguyện như vậy thì phạm
tội khinh cấu.
Mọi
lời nguyện ở đây là nguyện được hiếu thuận với cha
mẹ và Tam bảo, nguyện được thầy bạn tuyệt hảo để
học và hành bồ tát giới và bồ tát vị, và căn bản là
nguyện được cái chí kiên trì giới pháp của Phật. Tóm
tắt thì như vậy, kê ra thì có 10 lời nguyện như sau: nguyện
hiếu thuận với cha mẹ, đại sư, chư tăng và Tam bảo, nguyện
được thầy tuyệt hảo, nguyện được bạn đồng sở học,
nguyện được chỉ dạy cho kinh luật đại thừa là Bồ tát
giới Phạn võng, nguyện được hiểu thập trú, nguyện được
hiểu thập hạnh, nguyện được hiểu thập hướng, nguyện
được hiểu thập địa, nguyện được thực hành chính xác,
nguyện kiên trì giới pháp.
Số
36: Không Được Không Phát Đại Thệ
Phật
tử thì phát khởi mười lời nguyện rộng lớn rồi, để
kiên trì giới pháp của Phật, lại có những lời thề như
sau. Thà đem thân này gieo xuống hố lửa, núi dao, quyết không
phá hủy giới pháp của tam thế chư Phật bằng cách làm sự
bất tịnh với bất cứ nữ nhân nào. Lại thề rằng thà
bị lưới sắt nóng ngàn lớp quấn lấy thân thể, quyết
không đem cái thân phá giới mà mặc y phục của tín đồ
hiến cúng; thề rằng thà miệng phải nuốt viên sắt nóng
hay dòng lửa dữ đến cả trăm ngàn đời, quyết không đem
cái miệng phá giới mà ăn thực phẩm của tín đồ hiến
cúng; thề rằng thà thân này phải nằm trong lưới sắt đỏ
hay trên đất sắt nóng, quyết không đem cái thân phá giới
mà nằm ngồi giường ghế của tín đồ hiến cúng; thề rằng
thà thân này một đời vài đời chịu hàng trăm mũi giáo
đâm vào, quyết không đem cái thân phá giới mà dùng dược
phẩm của tín đồ hiến cúng; thề rằng thà thân này gieo
vào vạc sắt nóng đến cả trăm ngàn đời, quyết không đem
cái thân phá giới mà ở phòng ốc, nhà cửa, vườn tược
và đất đai của tín đồ hiến cúng. Lại thề rằng thà
thân này bị chùy sắt giáng đập từ đầu đến chân nát
như bụi nhỏ, quyết không đem cái thân phá giới mà nhận
sự cung kính lễ bái của tín đồ. Lại thề rằng thà bị
cả trăm cả ngàn khí cụ bằng sắt nóng móc mất đôi mắt
đi, quyết không đem đôi mắt ấy với tâm phá giới mà nhìn
vào sắc đẹp; thề rằng thà một đời hai đời bị cả
trăm cả ngàn dùi sắt đâm vào hai tai, quyết không đem hai
tai ấy với tâm phá giới mà nghe đến tiếng hay; thề rằng
thà bị cả trăm cả ngàn dao bén cắt mất mũi đi, quyết
không đem cái mũi ấy với tâm phá giới mà ngửi đến hơi
thơm; thề rằng thà cái lưỡi bị cả trăm cả ngàn dao bén
cắt đứt, quyết không đem cái lưỡi ấy với tâm phá giới
mà nếm vào mùi ngon; thề rằng thà thân này bị chặt bị
xả bởi búa sắc, quyết không đem cái thân ấy với tâm phá
giới mà chạm vào chỗ ưa thích. Lại phát khởi lời thề
như sau, thề làm cho hết thảy chúng sinh đều thành Phật
đà. Nếu là Bồ tát mà không phát khởi những lời thề như
vậy thì phạm tội khinh cấu.
Để
hoàn thành 10 lời nguyện mà quan trọng là nguyện kiên trì
giới pháp của Phật, phải có những lời thề như sau. Thứ
nhất, thề không làm sự bất tịnh; giới này lấy nam làm
điển hình mà nói đến nên đối tượng là nữ, như vậy
nữ thì đối tượng là nam, và chứng tỏ sinh lý làm cho phá
giới hơn cả. Thứ hai, thề nếu phá giới thì không nhận
đồ mặc, đồ ăn, đồ nằm, dược phẩm và chỗ ở, chứng
tỏ nhu cầu hay làm cho phá giới. Thứ ba, thề nếu phá giới
thì không nhận sự tôn kính lễ bái, chứng tỏ sự không
biết hổ thẹn hay làm cho phá giới. Thứ tư, thề 5 căn không
tiếp xúc 5 cảnh bằng tâm phá giới, chứng tỏ giác quan hay
làm cho phá giới. Thứ năm, thề làm cho chúng sinh được làm
Phật cả, lời thề này là tổng quát và căn bản, chứng
tỏ thệ nguyện lớn lao thì khó mà có sự phá giới. Mười
lời nguyện rộng lớn, ai cũng nói là 10 lời nguyện nói trong
giới nhẹ 35 ở trên, nhưng có người dẫn kinh Phát bồ đề
tâm mà đưa ra pháp số khác, và không ai đồng ý (Vạn 60/96A
và 231A). Dòng lửa dữ, chính văn là đại lưu mãnh hỏa, là
nhỏ thì như nước đồng sôi mà rót ra, lớn thì như thác
lửa tuôn ra khi hỏa diệm sơn phun lửa.
Số
37: Không Được Mạo Hiểm Tai Nạn
Phật
tử thì thường mỗi năm phải có hai kỳ thực hành đầu
đà, mùa đông mùa hạ phải tọa thiền an cư. Thực hành đầu
đà thì thường dùng nhánh dương để làm tăm, đậu để
rửa, ba pháp y, bình, bát, tọa cụ, tích trượng, lư hương,
đãy lọc nước, khăn tay, con dao, đồ lấy lửa, nhíp, giường
giây, kinh luật Bồ tát giới và tượng Phật bồ tát. Là
Bồ tát thì khi thực hành đầu đà và khi đi du hóa, dầu
đi lại cả trăm dặm ngàn dặm đi nữa, mười tám vật ấy
vẫn thường mang theo mình. Hai kỳ đầu đà là từ rằm tháng
giêng đến rằm tháng ba, từ rằm tháng tám đến rằm tháng
mười, trong hai kỳ ấy, mười tám vật cũng thường mang theo
mình như hai cái cánh với con chim. Bố tát tụng giới thì
các vị Bồ tát mới học đã phải nửa tháng nửa tháng bố
tát, tụng mười giới nặng và bốn mươi tám giới nhẹ;
khi tụng thì đối trước tượng Phật Bồ tát mà tụng; một
người bố tát thì một người tụng, mà hai ba cho đến hàng
trăm hàng ngàn người cũng chỉ một người tụng; người
tụng ngồi cao, người nghe ngồi thấp, ai cũng mang pháp y chín
điều bảy điều hay năm điều. Kiết hạ an cư thì nhất
nhất phải làm cho đúng phép. Khi thực hành đầu đà thì
đừng đến chỗ tai nạn; chỗ nguy hiểm, chỗ quốc chúa tàn
bạo, chỗ đất quá cao thấp, chỗ cây cỏ rậm rạp, chỗ
cọp beo sư tử, chỗ hay bị nạn nước lửa gió, chỗ có
đạo tặc, chỗ đường sá đầy rắn độc, những chỗ tai
nạn như vậy đều không được đến đó. Thực hành đầu
đà, cho đến kiết hạ an cư, đều không được đến ở
những chỗ tai nạn như vậy. Nếu cố ý đến thì phạm tội
khinh cấu.
Trừ
ra sự du hóa phải tìm hết cách mà thâm nhập quần chúng,
với sự đề phòng càng cẩn thận càng tốt ; lại trừ ra
sự bố tát tụng giới chỉ cần thì gian ngắn và luật đã
dạy cách ứng phó ; còn 2 sự này không được đến ở những
chỗ tai nạn: đầu đà và an cư. Giới văn dạy các hạnh
du hóa, đầu đà, bố tát, an cư, nhưng đầu đà và bố tát
được nói đến nhiều hơn.
Về
đầu đà (đập rủ sự tham lam về ăn, mặc, ở) có 12 hạnh
và 18 vật. Mười hai hạnh như sau, kê theo Đại bát nhã mà
Vạn 60/231B và 438B trích dẫn và tôi xếp lại thứ lớp: ăn
có 5 hạnh, là thường khất thực chứ không thọ thỉnh, khất
thực theo thứ tự không lựa chọn giàu nghèo quen lạ hay cùng
đạo khác đạo, mỗi ngày ăn 1 bữa và ngồi ăn 1 lần, ăn
chừng mực là đáng ăn 3 phần mới no thì ăn 2 phần thôi,
và sau đứng bóng thì nước vắt trái cây cũng không dùng
; mặc có 2 hạnh, là mặc 3 pháp y thứ vải thô mà chắp vá,
và chỉ mặc 3 pháp y mà thôi; ở có 5 hạnh, là ở chỗ thanh
vắng mà cách làng xóm bò rống lớn mới nghe, chỗ tha ma để
dễ quán bất tịnh và sự chết, chỗ dưới gốc cây chứ
không che cất chòi thất, chỗ đất trống để đêm trăng
thanh dễ nhập Không tam muội, và thường ngồi mà ngồi ngay
thẳng chứ không nằm. Du dà luận nói sự tham lam về ăn mặc
ở không thuận lợi cho phạn hạnh; như lông không đập thì
không thể làm thảm, đầu đà đập rủ sự tham lam ấy để
thành tựu phạn hạnh. Trí độ luận nói, Phật pháp chỉ
lấy tuệ giác làm căn bản, không lấy khổ hạnh làm ưu tiên,
nhưng 12 hạnh đầu đà giúp cho tuệ giác nên Phật thường
ca tụng. Còn 18 vật của hạnh đầu đà thì cũng là của
hạnh du hóa, và chính văn kê đã rõ. Tựu trung, bát là nói
về sự ăn, 3 pháp y là nói về sự mặc, và tọa cụ là liên
quan sự ở. Ngoài ra, nhánh dương để làm tăm mà xỉa răng
và nhấm, nay là tăm và đồ đánh răng; đậu để rửa vốn
dùng các thứ đậu và hạt, hoặc nước tro, bồ kết, bồ
hòn, nay là xà phòng; tích trượng phòng rắn và thú dữ, lại
để báo hiệu trong khi đi khất thực; đồ lấy lửa là dùng
cây, đá, thủy tinh mà lấy lửa, nay là diêm, quẹt; giường
giây là lòng giường đan mây, đan giây, là võng ; nhíp để
nhổ gai vì đi chân trần.
Về
du hóa, càng đi xa càng phải mang theo 18 vật như đầu đà.
Về an cư, nói nhất nhất phải làm cho đúng phép là đúng
như trong Luật đã qui định. Về bố tát, nói ai cũng mang
pháp y 9 điều 7 điều hay 5 điều là nói cho người xuất
gia thọ Bồ tát giới. Nói bồ tát mới học là nói ngay các
vị này đã phải tụng giới, không phải nói chỉ các vị
này mới phải tụng giới còn các vị trên nữa thì khỏi.
Trong sự bố tát tụng giới, điều quan trọng là phải ngồi
theo thứ tự mà giới 38 sau đây sẽ nói; còn người tụng
giới thì cũng theo thứ tự ấy mà chọn người có khả năng
nhất trong chúng cao nhất của các chúng đồng bố tát. Không
có cái phép trong chúng cao mà không có người có khả năng
tụng giới đến nỗi phải chọn người trong chúng dưới;
nói cách khác, bất cứ ai thọ Bồ tát giới rồi, không có
cái phép không thể tụng giới ấy : đoạn 2 mục 3 của tiết
1 Phật đã qui định như vậy.
Thực
hành đầu đà cho đến kiết hạ an cư đều không được
đến ở những chỗ tai nạn, "cho đến" là nói lược về
du hóa và bố tát. Du hóa thì cần thâm nhập mọi nơi, bố
tát thì chỉ cần thì gian ngắn, nên có thể không cần tránh
những chỗ tai nạn; nhưng chỉ có thể, không phải hoàn toàn
không cần. Còn đầu đà và an cư thì phải tránh. Trong những
chỗ tai nạn phải tránh, chỗ nguy hiểm, chính văn là ác quốc
giới: nước dữ, có bản chép quốc nạn: tai nạn cả nước,
như vậy cũng có nghĩa là chỗ đang bị tai nạn như chiến
tranh, khủng hoảng ... , nhưng Vạn 60/440A nói ác quốc giới
là chỗ mà người và cảnh đều không hiền, vậy thì chỗ
nguy hiểm còn là nơi nhân tâm hung dữ. Nghĩa này đủ và quan
trọng hơn. Sự cấm mạo hiểm tai nạn của giới này cho thấy
đối với thân người, Phật pháp khinh là khinh như thế nào
mà quí là quí như thế nào.
Sau
hết, bố tát thì các vị Bồ tát mới học đã phải nửa
tháng nửa tháng thường bố tát, tụng 10 giới nặng và 48
giới nhẹ; khi tụng thì đối trước tượng Phật Bồ tát
mà tụng; một người bố tát thì một người tụng ..., có
bản chép gọn hơn, theo đó thì phải dịch: ngày bố tát,
khi các vị Bồ tát mới học nửa tháng nửa tháng bố tát
tụng 10 giới nặng và 48 giới nhẹ, thì đối trước Phật
Bồ tát, 1 người bố tát 1 người tụng ... Những chỗ tai
nạn như vậy không được đến đó. Thực hành đầu đà
cho đến kiết hạ an cư đều không được đến ở những
chỗ tai nạn như vậy. Nếu cố ý đến thì phạm tội khinh
cấu, có bản chép hơi khác, theo đó thì phải dịch : những
chỗ tai nạn như vậy đều không được đến đó. Vì đó
là những chỗ tai nạn cho hạnh đầu đà. Kiết hạ an cư
mà những chỗ tai nạn ấy cũng không được đến, huống
chi thực hành đầu đà. Thấy chỗ tai nạn mà có ý đến
thì phạm tội khinh cấu.
Số
38: Không Được Ngồi Không Thứ Tự
Phật
tử thì sự ngồi phải có thứ tự đúng như chánh pháp, nghĩa
là ai thọ giới trước thì ngồi trước, ai thọ giới sau
thì ngồi sau. Không kể già trẻ, tỷ kheo tỷ kheo ni, quí nhân
quốc vương vương tử, cho đến hoàng môn nô bộc tỳ thiếp,
tất cả đều nên ai thọ giới trước thì ngồi trước, ai
thọ giới sau thì tuần tự mà ngồi. Đừng như ngoại đạo
ngu si, già cũng như trẻ không trước không sau, ngồi hỗn
tạp như binh nô. Trong chánh pháp của Như lai, người trước
ngồi trước, người sau ngồi sau. Nếu là Bồ tát mà ai nấy
không ngồi theo thứ tự đúng như chánh pháp, thì phạm tội
khinh cấu.
Không
phải chỉ một sự ngồi, mà mọi sự cư xử, bình thường
cũng như nghi lễ, đều phải căn cứ thứ tự. Thứ tự ấy
có 2, tóm tắt theo Vạn 60/373B-376B, như sau.
Một
là thứ tự giữa các chúng. Các chúng có 9, chia ra 2 bộ. Khi
2 bộ ngồi riêng, thì bên tăng bộ thứ tự như sau: tỷ kheo
đứng đầu, kế đến sa di, đến cận trú nam, đến cận
sự nam; bên ni bộ thứ tự như sau: tỷ kheo ni đứng đầu,
kế đến thức xoa, đến sa di ni, đến cận trú nữ, đến
cận sự nữ. Khi 2 bộ ngồi chung thì thứ tự như sau: hết
tỷ kheo đến tỷ kheo ni, hết tỷ kheo ni đến thức xoa, hết
thức xoa đến sa di, hết sa di đến sa di ni, hết sa di ni đến
cận trú nam, hết cận trú nam đến cận trú nữ, hết cận
trú nữ đến cận sự nam, hết cận sự nam đến cận sự
nữ.
Hai
là thứ tự trong các chúng. Thứ tự này cũng có 2. Thứ nhất,
2 chúng tỷ kheo và tỷ kheo ni phải lấy tuổi tỷ kheo giới
làm thứ tự, vì giới ấy là bản thể của Tăng bảo. Thọ
bồ tát giới trước tỷ kheo giới mấy năm cũng không kể,
vì giới ấy không biến thành tỷ kheo giới; nhưng thọ bồ
tát giới sau tỷ kheo giới thì tỷ kheo giới biến thành bồ
tát giới, nên tuổi bồ tát giới bấy giờ được kể theo
tuổi tỷ kheo giới. Thứ 2, 7 chúng còn lại thì y theo tuổi
bồ tát giới mà làm thứ tự (khi tụng Bồ tát giới).
Riêng
thứ tự lấy theo tuổi tỷ kheo giới thì gọi là "thứ tự
của chư tăng" mà các giới nhẹ 26, 27 và 28 đã nói.
Thứ
tự như trên đây là ý niệm bình đẳng có lý: ý niệm bình
đẳng theo tư cách giới pháp. Nếu thứ tự kể theo giai cấp
và tuổi tác, nếu bình đẳng một cách hỗn tạp, thì đó
là binh nô: chỉ lấy sức mạnh mà giành phần.
Nếu
là bồ tát mà ai nấy không ngồi theo thứ tự đúng như chánh
pháp, có bản chép gọn hơn, theo đó thì chỉ dịch: Nếu là
Bồ tát mà không ngồi theo thứ tự ...
Số
39: Không Được Không Làm Lợi Lạc
Phật
tử thì thường khuyến hóa mọi người kiến thiết tăng phường,
tạo lập núi rừng, ruộng vườn, xây dựng tháp Phật, thiết
lập những chỗ để mùa đông mùa hạ tọa thiền an cư, nói
tóm, tất cả những cơ sở hành đạo đều nên kiến thiết.
Là Bồ tát thì lại phải diễn giảng cho mọi người về
kinh luật đại thừa. Nhưng lúc tật bịnh, quốc nạn, giặc
giã, những ngày mạng vong của cha mẹ, anh em, của đại sư
hoà thượng và đại sư xà lê thì từ ngày ấy cho đến ngày
tam thất và chung thất, cũng nên trì tụng và diễn giảng
kinh luật đại thừa. Những lúc làm chay cầu phước, đi lại
làm ăn mà có thể bị lửa dữ thiêu đốt, nước lớn trôi
chìm, gió bão thổi bạt thuyền bè nguy khốn trong sông to biển
cả đầy nạn la sát, thì trước đó cũng nên đọc tụng
giảng nói kinh luật đại thừa. Cho đến hết thảy khổ báo
là ba ác, bảy nghịch, tám nạn, gông cùm, xiềng xích, trói
buộc, đa dâm, đa sân, đa si, đa bịnh, đều nên giảng nói
kinh luật đại thừa. Nếu vị Bồ tát mới học không làm
như vậy thì phạm tội khinh cấu.
Thường
khuyến hóa mọi người kiến thiết, nếu là tại gia thọ
Bồ tát giới thì phải thêm: thường tự mình và khuyến hóa
... Ngoài việc tạo lập các cơ sở hành đạo, giới pháp
này đặc biệt khuyến khích tụng và giảng Bồ tát giới
Phạn võng trong mọi trường hợp cầu an, cầu siêu, cầu nguyện,
cầu diệt khổ nhân, cầu trừ khổ báo. Như vậy Bồ tát
giới Phạn võng có thể bao gồm hết thảy công năng các kinh
Dược sư, Phổ môn, Di đà, Bát nhã. Tạo lập núi rừng, là
tạo lập những khu vườn lớn, cây có nước có, có đủ
tăng xá. Từ ngày mạng vong cho đến ngày tam thất và chung
thất, nói như vậy không phải các ngày và các tuần khác
không cần cầu siêu, mà chỉ nói quan trọng nhất là ngày
mới chết, ngày tam thất và ngày chung thất, chứ không phải
chỉ ngày chung thất mới quan trọng như ta thường làm. Gió
bão, chính văn là hắc phong (gió đen), là cuồng phong vùng
tâm bão, vùng gió mưa mây nước tạo thành bầu trời đen
tối. Khổ báo 3 ác là 3 đường dữ địa ngục, ngạ quỉ,
súc sinh; nhưng có người thấy có bản chép 3 báo nên giải
thích là khổ báo chịu trong đời này (hiện báo) đời sau
(sinh báo) hay những đời sau nữa (hậu báo). Khổ báo 7 nghịch
là vô gián ngục.
Chín
giới pháp nhẹ như vậy các người phải học, phải cung kính
phụng trì, như Như lai sẽ nói rõ trong phẩm Phạn đàn.
Kết
thúc 9 giới nhẹ thứ nhất.