Chương
2
Dịch
Giải Nghi Thức Tụng
Bồ
Tát Giới Phạn Võng
Trước
khi tụng, vị tụng giới lạy và quì mà thưa: Con là tỷ kheo
XX, kính bạch Đại đức tăng, Đại đức tăng bảo con tụng
giới, nhưng con e có sự lầm lẫn trong khi tụng, vậy kính
xin Đại đức tăng từ bi chỉ bảo cho con.
Đây
là lời tác bạch trước khi đi vào nghi thức, và là lời
của vị Tăng sai tụng giới. Nếu tụng giới là vị thượng
tọa trong buổi bố tát thì không cần tác bạch lời này.
Điều kiện của sự tụng giới là tụng rõ ràng, và tụng
ở đây là đọc một cách trang trọng, chứ không phải tụng
như tụng kinh. Tụng rõ ràng là âm thanh rõ ràng, âm điệu
đúng với mạch lạc giới văn.
Nghi
thức tụng Bồ tát giới có 5 tiết.
Tiết
1: Qui Kính Khuyến Khích
-
Chúng
Bồ tát giới lắng nghe !
-
Qui y
kính lạy
-
đức
Lô xá na,
-
và Kim
cang phật
-
khắp
cả mười phương;
-
lại
lạy phân thân
-
đức
Lô xá na
-
là ngàn
trăm ức
-
các đức
Thích ca.
-
Nay tôi
kính tụng
-
về Bồ
tát giới
-
mà đại
cương là
-
ba loại
tịnh giới;
-
chúng
Bồ tát giới
-
hãy cùng
lắng nghe!
-
Giới
như ngọn đèn
-
đã sáng
lại lớn,
-
có thể
xua tan
-
bóng
tối đêm dài;
-
giới
như đài gương
-
trong
sáng quí báu,
-
hiện
rõ các pháp
-
đủ
cả không sót;
-
giới
lại y như
-
ngọc
báu ma ni,
-
tuôn
ra của cải
-
giúp
kẻ khốn cùng.
-
Siêu
thoát thế gian,
-
chóng
thành Phật đà,
-
làm được
như vậy
-
giới
này hơn cả!
-
Vì lý
do ấy
-
chúng
Bồ tát giới
-
cần
phải nỗ lực
-
kính
cẩn mà giữ!
Đoạn
chỉnh cú này lấy của Bồ tát giới Du dà, do ngài Đàm mô
sấm dịch, nội dung kính Phật kính Giới và khuyến khích
kiên trì. Kim cang phật là các vị sau kim cang đạo thì phá
dị thục thức, chứng bất hoại tánh, tức các vị viên mãn
báo thân như đức Lô xá na. Các câu 5-8 là đổi cho đúng
trường hợp Bồ tát giới Phạn võng. Trong đó câu là ngàn
trăm ức có nghĩa một ngàn và một ngàn lần trăm ức. Nếu
không đổi mà theo chính văn, thì phải dịch "lại xin kính
lạy luận chủ Du dà, là Phật đương lai Từ thị thế tôn".
Ba loại tịnh giới là "kết mọi giới pháp lại làm 3 môn:
nhiếp thiện pháp giới là tám vạn bốn ngàn pháp môn; nhiếp
chúng sinh giới là từ bi hỷ xả phổ cập chúng sinh, làm
cho tất cả đều được an lạc; nhiếp luật nghi giới là
mười giới pháp nặng làm chính yếu " (Anh lạc, Chính 24/1020).
Tiết
2: Sách Tiến Tu Tập
Chư
đại đức, hôm nay bốn tháng của mùa xuân đã qua mất nửa
tháng mà chỉ thiếu một đêm, còn lại chỉ thừa một đêm
và ba tháng rưỡi. Già bịnh đã gần, Phật pháp sắp ẩn.
Chư đại đức, và ưu bà tắc ưu bà di, muốn được đạo
quả, các vị phải nhất tâm nỗ lực mà tinh tiến. Tại sao,
vì đến như chư Phật cũng phải nhất tâm nỗ lực mà tinh
tiến mới thành tựu vô thượng bồ đề, huống chi những
kẻ khác đang còn tu tập các thiện pháp khác. Các vị nghe
như vậy thì trong lúc còn khỏe mạnh phải nỗ lực mà siêng
tu thiện pháp, đâu được không cấp tốc cầu đạo mà đợi
đến tuổi già. Đợi đến tuổi già là các vị còn muốn
vui thú nỗi gì?
-
Ngày
nay đã qua,
-
mạng
sống cũng bớt,
-
như cá
thiếu nước,
-
đâu
có vui gì !
Đoạn
này trừ 4 câu chỉnh cú cuối cùng, toàn lấy của giới bản
Hữu bộ, nội dung nói sự vô thường để thúc dục cấp
bách tu tập. Mùa xuân mới hết nửa tháng, còn đến 3 tháng
rưỡi, nhưng không nói mới hết, còn đến, mà nói đã qua
mất, chỉ còn lại, là dụng ngữ có ý. Sau đây là những
chỗ cần ghi chú.
Ấn
độ có 3 mùa, mùa xuân từ 16/12 đến 15/4, mùa hè từ 16/4
đến 15/8, mùa đông từ 16/8 đến 15/12. Tháng của Ấn độ
lấy trăng bắt đầu tàn làm đầu tháng (tức đêm 16 mỗi
tháng âm lịch) và lấy trăng thật tròn sáng làm cuối tháng
(tức đêm rằm mỗi tháng âm lịch), không như âm lịch trăng
bắt đầu có là đầu tháng, trăng đã tối hẳn là cuối
tháng. Nhưng nửa tháng trăng sáng và nửa tháng trăng tối
thì như nhau: nói theo ngày âm lịch thì 1-15 là trăng sáng,
16-30 hay 29 là trăng tối. Bố tát tụng giới thì nửa tháng
1 kỳ, cử hành vào ngày cuối cùng nửa tháng (tức rằm và
ba mươi hay hâm chín) và thường cử hành ban ngày, như vậy
còn 1 đêm mới hết nửa tháng; 1 đêm ấy đối với nửa
tháng trước là thiếu mà đối với nửa tháng sau là thừa.
Lời trong tiết 2 này là nói trong kỳ bố tát tụng giới đầu
năm lịch Ấn, tức cuối năm âm lịch. Những kỳ sau đó có
4 chỗ phải đổi mà ai cũng phải biết. Chỗ 1, bốn tháng
phải thêm "và 1 tháng nhuận" nếu có tháng ấy; nhưng tháng
nhuận ấy vẫn gọi theo tháng chính chứ không gọi riêng.
Chỗ 2, mùa xuân tùy đó mà đổi: 16/4-15/8 đổi nói mùa hạ,
16/8-15/12 đổi nói mùa đông. Chỗ 3, nửa tháng tùy đó mà
đổi theo bảng kê dưới đây, kê theo ngày tháng âm lịch
cho dễ đổi, và chỉ lấy mùa xuân làm mẫu, 2 mùa hạ và
đông so theo mà đổi.
-
hết
tháng chạp : nửa tháng
-
rằm
tháng giêng : một tháng
-
hết
tháng giêng : một tháng rưỡi
-
rằm
tháng hai : hai tháng
-
hết
tháng hai : hai tháng rưỡi
-
rằm
tháng ba : ba tháng
-
hết
tháng ba : ba tháng rưỡi
-
rằm
tháng tư : bốn tháng
Chỗ
4, ba tháng rưỡi thì tùy đó mà đổi theo bản kê dưới đây,
cũng kê theo ngày tháng âm lịch và chỉ lấy mùa xuân làm
mẫu.
-
hết
tháng chạp : ba tháng rưỡi
-
rằm
tháng giêng : ba tháng
-
hết
tháng giêng : hai tháng rưỡi
-
rằm
tháng hai : hai tháng
-
hết
tháng hai : một tháng rưỡi
-
rằm
tháng ba : một tháng
-
hết
tháng ba : nửa tháng rằm
-
tháng
tư : thừa một đêm
Tiết
3: Làm Phương Tiện Trước
Tăng
tụ tập không?
Tăng
hòa hợp không?
Tăng
tụ tập hòa hợp để làm gì?
Những
người chưa thọ Bồ tát giới, hay thọ mà không thanh tịnh,
đã ra khỏi đây chưa?
Có
bao nhiêu người thọ Bồ tát giới không đến tụ tập mà
có dặn nhờ nói muốn và thanh tịnh?
Đây
là kiểm điểm Tăng chúng, chuẩn bị và quyết định cho sự
bố tát tụng giới cử hành được hay không. Sự kiểm điểm
này, như vậy, rất quan trọng, và chỉ quan trọng cho Tỷ kheo
tăng hay Tỷ kheo bồ tát tăng.
Kiểm
điểm bằng 5 câu hỏi, nhưng cần nhất là 2 câu đầu. Tăng
chúng ở một chỗ, khi kiết ma bố tát tụng giới, phải đầy
đủ 2 yếu tố thì việc ấy mới thành, ấy là tụ tập đông
đủ, không ai vắng mặt mà không nói muốn và thanh tịnh;
là hòa hợp với nhau, không ai tụ tập để chống phá. Nói
cách khác, muốn kiết ma bố tát tụng giới thì Tăng chúng
ở một chỗ phải thân và tâm cùng họp lại và ưng muốn;
thân không họp lại mà tâm ưng muốn thì được, thân họp
lại mà tâm không ưng muốn thì hỏng.
Nói
muốn và thanh tịnh là dặn nhờ một hay hơn một vị khác,
bạch với Tăng chúng, rằng mình ưng muốn việc kiết ma bố
tát tụng giới và mình cũng thanh tịnh. Như vậy chỉ được
phép nói muốn và thanh tịnh với lý do vì bận việc Tam bảo,
vì bịnh hay vì coi bịnh, và với điều kiện là trong nửa
tháng vừa qua không có phạm giới (mình tự biết không phạm
giới, Tăng chúng cũng không ai thấy, nghe hay nghi mình phạm
giới). Lời dặn nhờ có thể nói thông thường như sau, "Bạch
đại đức, tôi là tỷ kheo XX, vì lý do XX nên không thể tụ
tập kiết ma bố tát tụng giới, nhưng đối với việc ấy
tôi ưng muốn, và tôi cũng thanh tịnh. Xin nhờ đại đức
bạch lại với Đại đức tăng như vậy". Dặn nhờ như vậy,
nếu không nói được thì có thể ra dấu. Lời bạch lại
cũng có thể nói thông thường như sau, "Bạch đại đức tăng,
con là tỷ kheo XX, có nhận lời dặn nhờ của tỷ kheo XX,
vắng mặt vì lý do XX, nhưng nửa tháng vừa qua vị ấy không
có phạm giới. Vị ấy dặn nhờ con bạch lại với Đại
đức tăng rằng, đối với việc kiết ma bố tát tụng giới
hôm nay của Đại đức tăng, vị ấy nói muốn và thanh tịnh".
Cả
5 câu hỏi là của vị tụng giới, người trả lời là vị
tri sự hay vị nào biết rõ tình trạng của Tăng chúng cùng
ở một chỗ. Câu 1, không có ai vắng mặt, ai vắng mặt có
nói muốn và thanh tịnh, thì trả lời "Tăng tụ tập". Câu
2, không có ai tụ tập với dụng ý để phá, cãi, thì trả
lời "Tăng hòa hợp". Câu 3, trả lời "Để kiết ma bố tát
tụng Bồ tát giới Phạn võng". Câu 4, có thì bảo ra và trả
lời "Người chưa thọ Bồ tát giới, hay người thọ rồi
mà không thanh tịnh, đã ra cả rồi"; nếu không có thì trả
lời "Trong Tăng chúng đây không có người chưa thọ Bồ tát
giới hay thọ rồi mà không thanh tịnh". Câu 5, có ai dặn nhờ
nói muốn và thanh tịnh thì người được dặn nhờ bước
ra mà bạch lại, không thì trả lời "Trong Tăng chúng đây
không có người thọ Bồ tát giới không đến tụ tập mà
có dặn nhờ nói muốn và thanh tịnh".
Tiết
4: Lời Tựa Mở Đầu
Chư
Phật tử, hãy chắp tay lắng nghe. Nay tôi sắp nói đến lời
mở đầu giới pháp rộng lớn của chư Phật, các vị tụ
tập, yên lặng mà lắng nghe. Và tự xét có tội lỗi thì
phải sám hối; sám hối thì yên vui, không sám hối thì tội
lỗi càng sâu nặng. Không có tội lỗi thì yên lặng; do sự
yên lặng ấy mà tôi biết các vị thanh tịnh.
Chư
đại đức, và ưu bà tắc ưu bà di, hãy nghe cho kyծ Sau khi
đức Thế tôn nhập diệt, trong thời kỳ Phật pháp cuối
cùng, càng phải tôn kính Ba la đề mộc xoa. Ba la đề mộc
xoa là giới pháp này đây. Phụng trì giới pháp này thì như
đêm tối mà gặp ánh sáng, như nghèo nàn mà được vàng ngọc,
như bịnh tật mà được lành mạnh, như tù đày mà thoát
lao ngục, như đi xa mà được về nhà. Phải biết giới pháp
này là đức thầy cao cả của các vị. Đức Thế tôn còn
ở đời cũng không khác gì giới pháp này.
Lòng
sợ tội lỗi khó mà sinh được, tâm có đức lành khó mà
phát ra. Nên trong khế kinh đã dạy:
-
Đừng
khinh tội lỗi nhỏ,
-
cho là
không tai họa;
-
giọt
nước tuy là ít,
-
chảy
mãi đầy hồ lớn.
-
Tội
lỗi gây chốc lát,
-
họa
ở vô gián ngục;
-
một
khi mất thân người,
-
muôn
kiếp khó được lại.
-
Sự khỏe
đẹp không bền,
-
qua mau
như ngựa chạy;
-
mạng
người vốn vô thường,
-
quá hơn
nước núi đổ:
-
hôm nay
dẫu còn đó,
-
ngày
mai khó bảo tồn.
Các vị
phải nhất tâm mà nỗ lực tinh tiến, cẩn thận đừng giải
đải, đừng biếng nhác, đừng ham ngủ, đừng phóng ý. Thâu
đêm cũng phải tập trung tâm ý lại mà tưởng niệm Phật
pháp tăng. Đừng để đời mình trôi qua một cách trống rỗng,
mệt nhọc một cách vô ích, để rồi sau đó phải hối hận
sâu xa.
Các
vị hãy nhất tâm, kính cẩn mà phụng hành cho thật chính
xác đối với giới pháp này. Phải học như vậy.
Lời
tựa này có trong Chính 24/1003. Có lẽ trước khi có nghi thức,
sự mở đầu tụng Bồ tát giới Phạn võng chỉ có lời tựa
này mà thôi. Lời tựa này kết hợp cả kinh Di giáo và Pháp
cú, nhưng không có gì gượng ép vì chắp vá và biến thể
như các tiết trước và sau tiết này. Lời tựa này được
soạn khá sớm, vì câu thời kỳ Phật pháp cuối cùng , chính
văn vốn là thời kỳ Phật pháp tương tự. Phật pháp tồn
tại có 3 thời kỳ: nguyên chất (chánh pháp) tương tự (tượng
pháp) và cuối cùng (mạt pháp). Mỗi thời kỳ có 1000 năm.
Nay kỷ nguyên Phật giáo đã 2527 năm, là đã hơn một nửa
thời kỳ cuối cùng.
Vô
gián ngục là địa ngục kết quả của 5 tội nghịch (cũng
gọi là 5 tội vô gián, 5 nghiệp vô gián). Năm tội nghịch
là giết cha, giết mẹ, giết La hán, làm chảy máu thân Phật,
phá Tăng hòa hợp. Thêm giết Hoà thượng và giết Xà lê vào
nữa thì gọi là 7 tội nghịch, được nói đến trong giới
nhẹ 40. Nhưng xét 5 tội nghịch còn như kinh Địa tạng nói,
cho người xuất gia nhiều hơn nằm trong phẩm 3 của kinh ấy.
Ở đó, sự phỉ báng Tam bảo và khinh thường kinh pháp cũng
là làm chảy máu thân Phật. Trong 5 tội nghịch, tội phá Tăng
hòa hợp nặng nhất, xét ra vì lẽ tội này làm rã Tăng hòa
hợp mà thực chất là biệt lập giáo phái để làm giáo lãnh.
Năm tội nghịch còn 1 pháp số nữa, của kinh Ni kiền tử:
Một là phá hủy chùa tháp, đốt phá kinh tượng, chiếm đoạt
của Tam bảo. Hai là phỉ báng tiểu thừa và đại thừa, phá
hoại và trở ngại, làm cho các pháp ấy khuất lấp. Ba là
bắt bớ, tù đày, tra tấn, hành hung, khinh khi, làm nhục, buộc
hoàn tục hay hại tính mạng đối với người xuất gia. Bốn
là làm 1 trong 5 tội nghịch thông thường (mà đã nói ở trên).
Năm là bài bác nhân quả thiện ác, thường làm 10 ác nghiệp,
không sợ đời sau, tự làm và xúc sử người làm mà ngoan
cố không bỏ.
Kết
quả của 5 tội nghịch là đọa vô gián ngục. Vô gián là
không cách hở. Tuệ viễn đại sư, trong Đại thừa nghĩa
chương, cuốn 7, nói 5 tội nghịch làm cho đọa vô gián ngục
thì có 4 sự không cách hở. Một, nhân quả không cách hở:
thân này chết rồi thì thân kế tiếp đọa vô gián ngục
mà chịu liền quả báo của 5 tội nghịch, không có đời
nào hay nghiệp gì làm cho cách hở nữa. Hai, chịu khổ không
cách hở: đọa vô gián ngục thì trong một thời kỳ dài,
khổ khổ liên tục, không có sự vui nào xen vào làm cho cách
hở. Ba, sinh mạng không cách hở: đọa vô gián ngục thì trong
một thời kỳ dài, chết đi sống lại liền liền mà sinh
mạng không chết hẳn. Bốn, thân hình không cách hở: đọa
vô gián ngục thì ai cũng thấy thân mình tràn đầy cả ngục,
không chướng ngại cách hở lẫn nhau. Bốn sự này bao gồm
đủ cả 5 sự đã nói trong phẩm 3 của kinh Địa tạng. Trong
4 sự, sự đầu rất quan trọng, Thành thật luận và Câu xá
luận đều nói, chứng tỏ 5 tội nghịch rất khó cầu cho
siêu độ.
Một
khi mất thân người muôn kiếp khó được lại là nói thân
người rất quí. Nói theo trường hợp Bồ tát giới Phạn
võng thì có thân mới thọ và trì được giới pháp ấy. Do
vậy, đem thân người làm những việc mệt nhọc một cách
vô ích, có hại, đã đành đáng trách, nhưng lối thuyết pháp
thóa mạ, khinh thị thân thể, cũng không phải là thái độ
hợp ý với Phật.
Tiết
5: Chất Vấn Thanh Tịnh
Chư
đại đức, hôm nay là ngày mười lăm của nửa tháng trăng
tối, ngày bố tát tụng Bồ tát giới. Các vị hãy nhất tâm
mà nghe cho khéo. Ai có lỗi thì xin nói ra, ai không lỗi thì
xin yên lặng. Yên lặng nên biết chư vị đại đức thanh
tịnh, có thể tụng Bồ tát giới. Như vậy là tôi đã nói
lời mở đầu Bồ tát giới. Nay xin hỏi, chư đại đức,
trong các vị có thanh tịnh cả không? Chư đại đức, các
vị thanh tịnh cả, vì các vị cùng yên lặng. Việc ấy tôi
xin ghi nhận như vậy.
Đây
là biến thể lời tác bạch kiết ma bố tát tụng giới mà
thành sự chất vấn thanh tịnh. Nay xin hỏi, chư đại đức,
trong các vị có thanh tịnh cả không, là hỏi trong nửa tháng
vừa qua, có ai phạm giới không. Không ai phạm giới mới có
thể tụng giới.
Việc
này tôi xin ghi nhận như vậy, chính văn là thị sự như thị
trì. Chữ trì nghĩa đen là nắm giữ, ở đây là nắm giữ
trong trí, tức là nói về sự ghi nhớ, về ký ức, và ở
đây là xác nhận. Nên chữ ấy đi đôi với chữ thọ thì
thọ trì nghĩa là tiếp nhận và ghi nhớ. Nghĩa chữ trì như
vậy nên đã được cắt nghĩa là liễu đạt bất vong (thấu
hiểu không quên). Thị sự như thị trì, dịch sát là việc
ấy tôi nắm chắc như vậy (nghĩa là hiểu và nhớ như vậy).
Nhưng chữ nắm chắc rất nên chuyển ra chữ ghi nhận cho sát
việc và dễ hiểu hơn. Chủ từ tôi phải thêm, vì đây là
lời của vị tụng giới. Nói giản dị, vị tụng giới nói,
"các ngài thanh tịnh, vì các ngài yên lặng: việc này tôi
xin ghi nhận như vậy".
Tiết
này có vài chỗ cần chú ý. Một, hết tháng thì nói trăng
tối, rằm thì nói trăng sáng; trăng tối thì ngày 15 có khi
phải đổi ra 14 nếu tháng ấy thiếu. Hai, câu nay tôi xin hỏi,
chư đại đức, trong các vị có thanh tịnh cả không , phải
nói 3 lần, sau mỗi lần phải đợi vài ba giây.
Tụng
giới xong, vị tụng giới đứng dậy mà thưa, Bạch Đại
đức tăng, con là tỷ kheo XX, xin kính tạ lỗi Đại đức
tăng; Đại đức tăng bảo con tụng Bồ tát giới, nhưng thân
miệng ý của con không tinh cần, tụng giới văn không thông
suốt, làm cho chư vị ngồi lâu hơn lên, không khỏi phát phiền.
Con xin chư vị từ bi hoan hỷ cho con.
Cũng
như lời tác bạch đầu tiên, lời tác bạch này, nếu vị
tụng giới là thượng tọa trong buổi bố tát thì không cần
nói.