TIỂU
SỬ
Tác
giả húy Hoài Hải, họ Vương, người Trướng Lạc, Phước
Châu. Thuở bé theo mẹ vào chùa lễ Phật, chỉ tượng Phật
hỏi mẹ : "Đây là ai". Mẹ nói : "Là Phật". Sư nói : "Hình
dạng Phật với người chẳng khác, tôi sau nầy cũng sẽ làm
Phật".
Sư
xuất gia từ thở thiếu thời, tam học đều thông, ham thích
thiền đốn ngộ, nghe thiền sư Mã Tổ Đạo Nhật khai hóa
ở Nam Khang (nay là núi Mã Tổ ở Giang Tây), Sư bèn hết lòng
y chỉ. Sau khi nối pháp Mã Tổ, Sư được đàn tín thỉnh
trụ trì Đại Trí Thọ Thánh thiền tự ở núi Đại Hùng
thuộc Hồng Châu, núi cao chót vót, nước suối Ngô Nguyên
bay xuống ngàn thước, nên có tên là núi Bá Trượng. Sư trụ
trì chưa đầy một tháng, người bốn phương đến tham học
vân tập hơn một nghìn, trong đó Qui Sơn và Hoàng Bá làm thượng
thủ. Từ đó pháp môn càng ngày càng hưng thạnh, tông phong
lừng lẫy, Sư bèn quyết ý lập ra thiền viện đầu tiên.
Trước kia các tự viện thiền tông đều nhờ vào chùa của
luật tông, từ nay mới được lập riêng. Sư là người khởi
sáng cho thiền tự được độc lập, soạn định chế độ
tòng lâm, gọi là Bá Trượng thanh quy, nên cũng được tôn
xưng là Tổ Trung Hưng của thiền tông.
Sư
là người siêng năng làm việc, mỗi khi có việc nhà chùa
đều tự mình làm trước cả đại chung; người chủ sự
lén dấu dụng cụ canh tác của Sư, mời Sư nghỉ ngơi, Sư
nói : "Đức ta không đủ, đâu dám trút sự lao động của
mình cho người khác!". Kiếm dụng cụ không được thì ngày
đó không ăn, cho nên mới có câu : "Nhất nhật bất tác, nhất
nhật bất thực" (Một ngày không làm, một ngày không ăn).
Vì thế mới biết được gia phong của Sư chân thật như thế
nào, thật đáng làm mô phạm cho muôn đời.
Ngày
17 tháng giêng năm Nguyên Hòa thứ 9 đời nhà Đường (CN 8l4)
Sư thị tịch, thọ 9l tuổi, đệ tử được phó pháp là Qui
Sơn Linh Hựu thiền sư, Hoàng Bá Hy Vận thiền sư, v.v... tất
cả có 28 người, hết thảy đều là môn đồ xuất sắc,
kỳ lân, phụng hoàng trong Phật pháp. Ngoài tác phẩm này ra
còn có Bá Trượng Thanh Qui 2 quyển. Năm Trường Khánh thứ
nhất đời Đường Mục Tông, được sắc ban là Đại Trí
Thiền Sư, tháp hiệu là Đại Bảo Thắng Luân.
*
*
*
Sư
làm thị giả cho Mã Tổ, mỗi khi thí chủ cúng dường trai
phạn Mã Tổ, Sư vừa mở nắp đậy đồ ăn thì Mã Tổ liền
lấy một miếng bánh thị chúng rằng : "Là cái gì?". Mỗi
mỗi như thế trải qua ba năm.
*
*
*
Một
hôm sư theo hầu Mã Tổ, có một bầy vịt trời bay qua, Tổ
nói :
"Là
gì vậy?" - Sư nói : "Vịt trời". Tổ nói : "Đi đâu rồi?"
- Sư nói : "Bay qua rồi". Tổ bèn quay lại nhéo mũi Sư một
cái, Sư đau la thất thanh. Tổ nói : "Sao nói bay qua rồi!".
Sư
ngay đó tỉnh ngộ, rồi liền trở về phòng thị giả khóc
to thảm thiết. Bạn đồng tham hỏi rằng : "Ông nhớ cha mẹ
à?" - Sư nói :
"Không".
Lại hỏi : "Bị người ta mắng chửi à? - Sư nói : "Không".
Lại hỏi : "Thế tại sao khóc?" - Sư nói : "Tôi bị Đại sư
nhéo mũi đau thấu xương". Người đồng tham nói : "Có nhân
duyên gì không khế hợp chăng?" - Sư nói : "Ông cứ đi hỏi
Hòa thượng xem". Người đồng tham bèn đến hỏi Mã Tổ rằng
: "Thị giả Hoài Hải có nhân duyên gì không khế hợp mà
khóc ở trong liêu phòng, xin Hòa Thượng nói cho con biết".
Tổ nói : "Ông ta ngộ rồi, người cứ hỏi thẳng ông ta".
Người đồng tham trở lại liêu phòng nói với Sư : "Hòa Thượng
nói ông ngộ rồi và bảo tôi hỏi thẳng ông". Sư bèn cưới
ha hả.
Người
đồng tham nói : "Vừa mới khóc tại sao bây giờ lại cười?"
- Sư nói : "Vừa mới khóc bây giờ cười". Người đồng tham
ngơ ngác.
Hôm
sau, khi Mã Tổ thăng tòa, chúng vừa vân tập thì Sư bước
ra cuốn chiếu lại. Tổ bèn xuống tòa. sư liền theo đến
phương trượng. Tổ nói : "Hồi nãy ta chưa từng nói năng
gì tại sao ông cuốn chiếu lại vậy?" - Sư nói : "Hôm qua
bị Hòa Thượng nhéo mũi đau". - Tổ nói : "Hôm qua ông để
tâm vào đâu?" - Sư nói : "Lỗ mũi con hôm nay lại chẳng đau
nữa". Tổ nói : "Ông thấu rõ việc hôm qua rồi" - Sư làm
lễ mà lui ra.
*
*
*
Sư
ngộ rồi tái tham; lúc đang hầu bên cạnh Mã Tổ, Tổ chăm
chú nhìn cái phất trần ở góc thiền sáng (chỗ Tổ ngồi)
- Sư nói :
"Tức
dụng nầy, lìa dụng nầy".
Tổ
nói : "Về sau ông làm sao mở miệng dạy bảo người?".
Sư
lấy cái phất trần đưa lên.
Tổ
nói :
"Tức
dụng nầy, lìa dụng nầy". - Sư treo phất trần về chỗ cũ.
Tổ bèn oai hùng hét mạnh lên một tiếng làm sư bị điếc
tai luôn ba ngày.
*
*
*
Một
hôm, Hoàng Bá vào phòng Sư thưa rằng :
"Con
muốn đi lễ bái Mã Tổ"
Sư
nói :"Mã Tổ đã tịch rồi".
Bá
nói :
"Chưa
rõ Mã Tổ có để lại lời nào chăng?"
Sư
bèn kể lại nhân duyên tái tham với Mã Tổ mà nói rằng :
"Phật
pháp không phải là việc nhỏ đâu, lão tăng lúc ấy vì cái
hét của Mã Tổ mà bị điếc tai luôn ba ngày".
Bá
nghe kể đến đây bất giác lè lưỡi.
Sư
nói :
"Ông
về sau có nối pháp Mã Tổ không?"
Bá
nói :
"Không,
hôm nay nhờ Hòa Thượng kể lại mới được thấy đại cơ
đại dụng của Mã Tổ, nhưng không biết mặt Mã Tổ, mà
nếu nối pháp của Mã Tổ thì sau nầy sẽ làm mất con cháu
ta".
Sư
nói :
Đúng
thế, đúng thế,. Cái thấy bằng với thầy thì kém phân nửa
đức của thầy. Cái thấy hơn thầy thì mới đủ tư cách
truyền thụ. Ông thực có cái thấy siêu việt hơn thầy.
Bá
liền lễ bái.
*
*
*
Về
sau Qui Sơn hỏi Ngưỡng Sơn :
"Cái
nhân duyên đưa phất trần lên của Bá Trượng tái tham Mã
Tổ, ý chỉ của hai vị tôn túc nầy như thế nào?".
Ngưỡng
Sơn nói :
"Đó
là hiển bày đại cơ đại dụng".
Qui
Sơn nói :
"Dưới
Mã Tổ có 84 người đắc pháp là đại thiện tri thức xuất
sắc mấy người đắc đại cơ mấy người đắc đại dụng?".
Ngưỡng
Sơn nói :
"Bá
Trượng đắc đại cơ, Hoàng Bá đắc đại dụng, còn lại
đều là thầy giảng đạo".
Qui
Sơn nói :
"Đúng
thế, đúng thế.
*
*
*
Mã
Tổ sai người đem thư và ba hũ tương cho Sư, Sư bảo đem
xếp trước pháp đường rồi thăng tòa. Chúng vừa vân tập
thì Sư lấy gậy chỉ vào ba hũ tương rằng :
"Nói
được thì không đập bể, nói không được thì đập bể".
Chúng
lặng thinh.
Sư
bèn đập bể rồi trở về phương trượng.
*
*
*
Một
hôm Mã Tổ hỏi Sư :
"Từ
đâu đến?"
Sư
nói
"Từ
sau núi đến".
Tổ
nói :
"Có
gặp một người nào không?"
Sư
nói :
"Nếu
gặp thì kể với Hòa Thượng".
Tổ
nói :
"Được
tin tức nầy ở chỗ vào vậy?"
Sư
nói :
"Tội
lỗi của con".
Tổ
nói :
"Ấy
là tội lỗi của Lão tăng".
*
*
*
Có
một tăng vừa khóc vừa đi vào pháp đường.
Sư
nói :
"Làm
sao vậy?".
Tăng
ấy nói :
"Cha
mẹ đều mất, xin thầy chọn ngày cho".
Sư
nói :
"Ngày
mai đến đây chôn cùng một lượt".
*
*
*
Một
hôm Qui Sơn, Ngũ Phong, Vân Nham đang đứng hầu, Sư hỏi Qui
Sơn
:
"Nếu
bỏ cả cổ, họng, môi, mép thì nói như thế nào?"
Qui
Sơn nói :
"Xin
Hòa Thượng nói cho"
Sư
nói :
"Ta
không từ chối nói với ông, chỉ e về sau làm mất con cháu
của ông".
Lại
hỏi Ngũ Phong. Ngũ Phong nói :
"Hòa
Thượng cũng cần bỏ cả đi".
Sư
nói :
"Nơi
vắng vẻ sẽ dõi mắt nhìn ông"
Lại
hỏi Vân Nham. Vân Nham nói :
"Hòa
Thượng có hay chưa?".
Sư
nói :
"Làm
mất con cháu ta".
*
*
*
Mỗi
ngày Sư thăng tòa thường có một cụ già theo chúng nghe pháp.
Một
hôm chúng tan rồi mà cụ không đi. Sư mới hỏi :
"Người
đứng đó là ai vậy?".
Cụ
già đáp :
"Tôi
chẳng phải thân người. Vào đời Phật Ca Diếp trong quá
khứ tôi đã từng ở núi nầy. Có người tham học hỏi tôi
: "Người đại tu hành có còn lọt vào nhân quả không?". Tôi
đáp : "Bất lạc nhân quả" (chẳng lọt vào nhân quả), nên
bị đọa làm thân chồn năm trăm kiếp. Nay xin Hòa Thượng
cho tôi một chuyển ngữ để tôi được giải thoát thân chồn.
Sư
nói :
"Người
hỏi đi?".
Cụ
già bèn hỏi :
"Người
đại tu hành có còn lọt vào nhân quả không?".
Sư
nói :
"Bất
muội nhân quả" (nhân quả rõ ràng).
Cụ
già ngay đó đại ngộ, đảnh lễ rằng :
"Tôi
đã thoát thân chồn, nay xác ở sau núi, xin Sư y theo lệ tăng
mất mà thiêu cho".
Sư
bảo Duy Na đánh chuông báo cho đại chúng biết thọ trai xong
xin mời tất cả đi đưa đám tăng chết.
Đại
chúng không rõ ra sao. Sư dẫn chúng đến hang đá phía sau núi
lấy gậy khều ra một con chồn chết rồi y theo thường lệ
mà hỏa táng. Như một ông tăng viên tịch.
Đến
tối, Sư kể lại nhân duyên trên, Hoàng Bá bèn hỏi :
"Người
xưa chỉ đáp sai một câu chuyển ngữ mà bị đọa thân chồn
500 kiếp, nay chuyển ngữ nào cũng không đáp sai thì như thế
nào ?".
Sư
nói :
"Lại
gần đây ta nói cho nghe".
Hoàng
Bá đến gần bạt tai Sư một cái.
*
*
*
Tăng
hỏi :
"Thế
nào là việc kỳ đặc?"
Sư
đáp :
"Độc
tọa ở Đại Hùng Sơn".
Vị
tăng lễ bái.
Sư
bèn đánh.
*
*
*
Nhân
lúc phổ thỉnh tăng chúng đi cuốc đất, có một vị tăng
nghe tiếng trống liền vác cuốc lên vai rồi cười lớn đi
về.
Sư
nói :
"Hay
quá! Đây là cửa của Quan Âm nhập lý" khi về chùa Sư gọi
vị tăng ấy đến hỏi :
"Hồi
nãy ông thấy đạo lý gì mà làm vậy?".
Tăng
ấy đáp :
"Hồi
nãy tôi cảm thấy đói bụng, nên nghe tiếng trống liền trở
về ăn cơm".
Sư
liền cười.
*
*
*
Một
tăng kể chuyện rằng :
"Tăng
hỏi Thiền Sư Tây Đường : - "Có hỏi, có đáp, tạm gạt
qua một bên, lúc không hỏi không đáp thì như thế nào?".
Tây Đường nói : "Sợ xình thúi sao?"
Sư
nghe kể xong bèn nói :
"Lây
nay ta cứ nghi lão ông tăng ấy nói".
"Xin
Hòa Thượng nói cho".
Sư
nói :
"Nhất
hợp tướng là bất khả đắc".
*
*
*
Sư
dạy chúng rằng :
"Có
một người lâu ngày không ăn cơm chẳng nói đói, có một
người suốt ngày ăn cơm chẳng nói no". Tăng chúng không có
ai trả lời.
Công
án này giống như Ngài Lâm Tế nói :
"Có
một người suốt kiếp ở giữa đường mà chẳng lìa nhà,
có một người lìa nhà mà chẳng ở giữa đường. Vậy ai
là người đáng được trời người cúng dường?". Thiền
sư Đại Huệ nhắc lại lời của Lâm Tế rồi nói :
"Tặc
thân dĩ lộ" (Thân trộm cắp đã hiện ra).
*
*
*
Vân
Nham hỏi Sư rằng :
"Hòa
Thượng mỗi ngày bận rộn vì ai?".
Sư
nói :
"Có
một người muốn".
Vân
Nham nói :
"Tại
sao không bảo y tự làm?".
Sư
nói :
"Y
không có việc nhà".
*
*
*
Sư
sai tăng đến chỗ Thiền sư Chương Kính và dặn :
"Hễ
thấy Ngài thăng tòa thuyết pháp thì ông trải tọa cụ ra,
lễ bái xong đứng dậy cầm một chiếc dép lấy tay áo phủi
bụi bám rồi lật úp dép xuống".
Tăng
ấy đi đến chỗ Thiền sư Chương Kính và làm đúng theo lời
chỉ dạy của Sư.
Chương
Kính nói :
"Tội
lỗi của Lão tăng".
*
*
*
Tăng
hỏi Sư :
"Ôm
phác (ngọc quí ở trong đá) đi tìm thầy, xin thầy khám xét".
Sư
nói :
"Hôm
qua trên núi Nam Sơn có con hổ cắn con cọp".
Tăng
nói :
"Lời
chú giải chân thật rất đúng, tại sao chẳng rủ lòng phương
tiện?"
Sư
nói :
"Thằng
ăn trộm chuông rung (loại chuông hễ rung là phát tiếng) mà
tự bịt tai".
Tăng
nói :
"Gỗ
Cẩm Lai chẳng gặp thợ giỏi cũng đồng như củi rừng".
Sư
bèn đánh.
Tăng
kêu :
"Trời
ơi! Trời ơi!"
Sư
nói :
"Sao
dài dòng quá vậy".
Tăng
nói :
"Hiếm
gặp tri kỷ".
Rồi
quay đầu bỏ đi.
Sư
nói :
"Bá
Trượng hôm nay thua hết phân nửa". Đến chiều, thị giả
hỏi :
"Hòa
Thượng bị tăng này chê bỏ rồi thì thôi sao?"
Sư
bèn đánh.
Thị
giả la :
"Trời
ơi! Trời ơi!"
Sư
nói :
"Hiếm
gặp tri kỷ".
Thị
giả đảnh lễ.
Sư
nói :
"Tất
cả một lượt nhận lãnh xong".
*
*
*
Triệu
Châu đến tham vấn Sư, Sư hỏi :
Mới
lìa nơi nào đến đây?
Đáp
:
Nam
Tuyền.
Sư
nói :
Nam
Tuyền gần đây có lời dạy chi?
Đáp
:
Người
chưa chứng đắc cần phải nín lặng.
Sư
nói :
Một
câu nín lặng tạm gạt một bên, một câu mịt mù thì nói
như thế nào?
Triệu
Châu bước đến ba bước. Sư liền hét. Triệu Châu làm thế
lùi lại. Sư nói :
Nín
lặng tốt lắm chứ!
Triệu
Châu bèn đi ra.
*
*
*
Một
lần sư thuyết pháp xong, đại chúng đi ra thì sư gọi lại,
đại chúng quay đầu lại, Sư liền hỏi : "Là cái gì?". Người
đời xưng tụng câu đó là "Bá Trượng hạ đường cú". (Câu
thoại xuống tòa).
*
*
*
Sư
thăng tòa nói :
"Linh
quang độc chiếu (sáng tỏ), thoát hẳn căn trần, thể lộ
chân thường, chẳng kẹt văn tự, tâm tính vô nhiễm, vốn
tự viên thành, hễ lìa vọng duyên tức như chư Phật".
*
*
*
Tăng
hỏi :
Thế
nào là pháp yếu của đại thừa đốn ngộ?
Sư
nói :
Các
người trước ngưng các duyên, thôi nghĩ muôn việc, thiện
và bất thiện thế gian và xuất thế gian, tất cả các pháp
chớ ghi nhớ, chớ duyên niệm buông bỏ thân tâm khiến cho
tự tại, tâm như gỗ đá chẳng còn phân biệt, tâm vô sở
hành. Tâm địa nếu không thì huệ nhựt tự hiển, như đám
mây tan thì mặt trời hiện ra. Hễ ngưng nghỉ tất cả phan
duyên những hình thức tham sân, ái thủ, cầu tịnh đều sạch
đối với ngũ dục, bát phong chẳng bị lay động, chẳng bị
kiến văn giác tri trói buộc, chẳng bị các cảnh xấu đẹp
mê hoặc, tự nhiên đầy đủ thần thông diệu dụng, ấy
là người giải thoát. Đối với tất cả cảnh giới, tâm
chẳng tịnh chẳng loạn, chẳng nhiếp chẳng tán, thấu qua
tất cả thanh sắc, chẳng có trệ ngại gọi là đạo nhân.
Thiện
ác thị phi đều chẳng tác ý, cũng chẳng mến một pháp,
cũng chẳng bỏ một pháp, gọi là người đại thừa. Chẳng
bị tất cả thiện ác, không hữu, cấu tịnh, hữu vi vô vi,
thế gian xuất thế gian, phước đức trí huệ ràng buộc,
gọi là Phật huệ. Thị phi tốt xấu, đúng lý sai lý, các
tri kiến tình thức đều sạch hết, chẳng có trói buộc,
chẳng có giải thoát, nơi nơi tự tại, gọi là bồ tát mới
phát tâm liền lên địa vị Phật.
