Hỏi
:
Chặt
cây, cuốc cỏ, khai mương, đào đất, có tướng tội báo
không?
Sư
đáp :
Không
thể nhất định nói là có tội hay không tội. Việc có tội
hay không tội là do nơi người đó. Nếu tham nhiễm tất cả
pháp có không, có tâm lấy bỏ, không thấu suốt nghĩa ba câu,
thì nói người này nhất định có tội. Nếu thấu suốt nghĩa
ba câu, tâm như hư không, cũng chẳng có cái nghĩ tưởng hư
không, thì người này nhất định là không tội. Lại nữa,
nếu tội đã tạo rồi mà nói là không thấy có tội thật
là vô lý. Nếu không tạo tội mà nói là có tội thì cũng
là vô lý. Như trong luật nói : "Người hôn mê giết người
và trong chiêm bao giết người còn không bị tội giết", huống
là sự truyền thừa của Thiền tông, chẳng trụ một pháp
nào, tâm như hư không, cũng không có tướng hư không, thì
tội đặt để ở chỗ nào?
* *
Xưa
nếu có nay thì nay cũng có xưa, nghĩa là ngày xưa có Phật
thì ngày nay cũng có Phật. Hiện tại nếu được một niệm
chẳng bị tất cả pháp có không quản nhiếp, thì thẳng đến
tận vị lai cũng được như vậy. Xưa cũng như nay, Phật chỉ
là người, người chỉ là Phật, cũng là chánh định, chẳng
cần đem định nhập định, chẳng cần đem thiền tưởng
thiền, chẳng cần đem Phật tìm Phật, như nói : "Pháp chẳng
cầu pháp, pháp chẳng đắc pháp, pháp chẳng hành pháp, pháp
chẳng thấy pháp, thì tự nhiên đắc pháp, chẳng nhờ đắc
để đắc thêm". Cho nên Bồ tát cần phải chánh niệm như
vầy : Đối với pháp rỗng không độc tồn, cũng không biết
cái pháp độc tồn, thì chí tánh tự như như, chẳng phải
do nhân làm ra, cũng gọi là thể kết, cũng gọi là thể tập,
chẳng phải là trí biết, chẳng phải là thức biết, bạch
chỗ suy lường, tột cái thể ngưng tịch, sự suy nghĩ dứt
hẳn như nước biển cạn sạch, sóng không còn sanh khởi nữa.
Cũng
nói : Như nước biển lớn không có gió mà lượn sóng lăn
tăn, bỗng biết lượn sóng lăn tăn ấy là cái biết thô trong
tế, quên cái biết nơi biết vẫn còn là cái tế trong tế.
Nói cảnh giới Phật là từ cái biết đầu tiên này sanh ra
tất cả tam muội, cũng gọi là đảnh tam muội, cũng gọi
là vua tam muội, cũng gọi là nhĩ-diệm-trí (trí sở tri), dùng
những tam muội này tưới trên đảnh đầu của các vị pháp
vương tử, khiến cho ở nơi tất cả cõi nước (sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp) đều thành Đẳng Chánh Giác, khi ấy
trong ngoài thông đạt chẳng gì ngăn cách một sắc một trần,
một Phật một sắc, tất cả Phật tất cả sắc, tất cả
trần tất cả Phật, do đến tất cả sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp, mỗi mỗi cùng khắp tất cả cõi nước cũng đều
như thế. Đây là thô trong tế, là cảnh giới thiện, trong
cảnh giới này kiến văn giác tri là tất cả thượng lưu,
xuất sanh nhập tử độ tất cả "có, không" cũng là thượng
lưu, Niết bàn cũng là thượng lưu, Vô Thượng Đạo, Vô Đẳng
Đẳng Chú cũng là thượng lưu.... Phàm sở thuyết của thượng
lưu là cái thuyết đệ nhất, ở trong các thuyết rất là
thâm sâu, không người nào có thể đến được. Nói chư Phật
hộ niệm nghĩa là khéo nói cái dụng thâm sâu quảng đại
của tất cả nước trong và đục nên mới được chư Phật
hộ niệm.
Kinh
nói : "Đi đứng nằm ngồi nếu được như thế, lúc ấy Ta
liền hiện thân thanh tịnh quang minh". Lại nói : "Như ngươi
thân bằng, ngữ bằng, Ta cũng bằng như thế, cho đến một
Phật sát (l) thanh, một Phật sát hương, một Phật sát vi,
một Phật sát xúc, một Phật sát sự, thảy đều như thế.
Từ đây lên đến thế giới Liên Hoa Tạng cao rộng thảy
đều như vậy".
Nếu
giữ lấy cái biết đầu tiên làm tri giải, gọi là đảnh
kết (phiền não cao tột), cũng gọi là đọa đảnh kết, là
căn bản của tất cả trần lai. Vô cớ tự sanh tri kiến gọi
là không dây mà tự trói. Tại sao vậy? Vì có sở tri nên
bị cái sở tri ấy ràng buộc trong tam giới. Lại nữa cái
biết đầu tiên nầy có thể làm tan tất cả cửa phiền não
trói buộc, Nhị thừa gọi là nhĩ-diệm-thức (thức sở tri),
cũng gọi là vi tế phiền não, hàng Nhị thừa biết được
lập tức dứt trừ. Đã dứt trừ xong, gọi là đem thần tánh
trở về cái hang không, cũng gọi là bị rượu tam muội làm
say, cũng gọi là bị ma giải thoát trói buộc. Thế giới thành
hoại, định lực Nhị thừa có thể duy trì, nhưng vẫn bị
lọt vào quốc độ khác mà chẳng hay biết, nên gọi là chỗ
hầm sâu giải thoát đáng sợ hãi. Còn hàng Bồ tát thì xa
lìa hết thảy.
GHI
CHÚ :
(l)
Một Phật sát : Một tam thiên đại thiên thế giới.
*
*
Sư
nói :
Phát
nguyện cầu vô thượng Niết Bàn còn là tà nguyện. Nơi thân
ngũ ấm của mình bị người mổ xẻ, không cảm thấy phiền
não, cũng không một niệm sanh tâm nhân ngã, nếu y trụ cái
không một niệm đó cho là phải, gọi là pháp trần cấu.
Người thập địa thoát chẳng được còn trôi vào sông sanh
tử, huống là những kẻ đuổi theo danh lợi, cống cao ngã
mạn, nói "ta được tất cả vô ngại", ấy chỉ là tự dối
thôi.
*
*
*
Sư
nói :
Tổ
Đạt Ma nói : "Tâm cho là có chỗ đúng ắt phải có chỗ sai".
Nếu
quý một vật thì bị một vật mê hoặc, nếu tin thì bị
tin mê hoặc, nếu không tin lại thành phỉ báng. Vậy chớ
nên quý chớ nên không quý, chớ nên tin chớ nên không tin.
*
*
*
Hỏi
:
Thế
nào là "hữu tình không Phật tánh" và "vô tình có Phật tánh"?
Sư
đáp :
Từ
người đến Phật là tình chấp thánh, từ người đến địa
ngục là tình chấp phàm. Như nay đối với hai cảnh phàm thánh
có tâm ái nhiễm thì gọi là "hữu tình không Phật tánh".
Còn như đối với hai cảnh phàm thánh và tất cả pháp có
không đều không có tâm lấy bỏ, cũng không có cả cái tri
giải về không lấy bỏ thì gọi là "vô tình có Phật tánh".
Do vì không bị tình chấp ràng buộc nên gọi là vô tình,
chứ không phải đồng với các loại vô tình như gỗ, đá,
hư không, hoa vàng, trúc biếc, mà cho là có Phật tánh. Nếu
nói vô tình có Phật tánh, tại sao trong kinh không thấy thọ
ký cho chúng thành Phật? Chỉ như hiện nay cái giác chiếu
soi không bị loài hữu tình ảnh hưởng mà biến đổi, nên
dụ như trúc biếc; tịch mà thường chiếu, sẵn sàng ứng
cơ, chẳng phải không biết thời tiết, thời tiết đến thì
hoa nở, nên dụ như hoa vàng.
Lại
nói : "Nếu bước lên nấc thang Phật là vô tình có Phật
tánh, còn chưa bước lên nấc thang Phật là hữu tình không
Phật tánh". Lúc chưa ngộ gọi là mẹ, ngộ rồi gọi là con,
cũng không có tri giải về ngộ và chưa ngộ gọi là mẹ con
đều mất.
*
*
*
Sư
nói :
Tất
cả ngôn giáo chỉ là trị bệnh. Vì bệnh chẳng đồng nên
thuốc cũng chẳng đồng, do đó có lúc nói có Phật, có lúc
nói không Phật, mục đích chính là trị bệnh. Bệnh nếu
được lành, mỗi lời đều là lời thật, nếu trị bệnh
không lành, mỗi lời đều là hư vọng. Cho lời thật là lời
hư vọng là vì sanh khởi kiến chấp, cho lời hư vọng là
lời thật là vì muốn đoạn dứt tưởng điên đảo của
chúng sanh. Kỳ thật bệnh vốn là hư vọng thì phải dùng
thuốc hư vọng để đối trị mà thôi.
*
*
*
Sư
nói :
Nơi
thánh địa học tập nhân phàm, là Phật vào trong chúng sanh
để dẫn dắt dạy bảo đồng loại. Cũng như vào đạo ngạ
quỷ cùng họ chịu khổ, mới có dịp thuyết Bát Nhã Ba La
Mật cho họ khiến họ phát tâm, nếu cứ ở thánh địa mãi
thì làm sao có dịp đến thuyết pháp cho họ. Phật vào các
loài chúng sanh làm ghe thuyền cho họ, cùng họ chịu khổ,
lao nhọc biết bao! Phật vào chỗ khổ cũng đồng như chúng
sanh chịu khổ, Phật chỉ là đi ở tự do chẳng đồng với
chúng sanh thôi. Phật chẳng phải hư không, chịu khổ đâu
thể không khổ, nếu nói không khổ là không đúng.
Bình
thường chớ nên nói Phật có thần thông tự tại hay không
tự tại. Người biết hổ thẹn thì không dám nói Phật là
hữu vi hay là vô vi, không dám nói Phật là tự do hay không
tự do. Ngoài sự tán thán phương thuốc hay, không được hiển
lộ sự tương đối. Kinh nói : "Nếu người đem Phật, Bồ
đề đặt bên chỗ đúng thì người ấy bị tội lớn". Cũng
nói : "Nếu ở trước người không biết Phật pháp mà nói
với họ như thế thì không lỗi". Thí dụ sữa bò vô lậu
hay trị bệnh hữu lậu, bò ấy không ở trên cao nguyên, không
ở dưới ẩm thấp, thì sữa bò này nên làm thuốc. Cao nguyên
dụ cho Phật, ẩm thấp dụ cho chúng sanh. Cũng như nói : "Thật
trí của Pháp Thân Như Lai biện tài vô ngại, đi ở tự tại,
bất sanh bất diệt, gọi là sáng, còn sanh lão bệnh tử, đau
khổ mọi thứ, gọi là tối, như ăn canh nấm trúng độc mà
chết ấy là tối. Nếu tiêu diệt dấu tích, sáng tối đều
lìa vô thủ vô y thì chẳng sáng chẳng tối".
Nói
Phật sanh nơi cung vua, lấy vợ Da Du Đà La, cho đến trải
qua tám giai đoạn thành Phật, ấy là sự vọng tưởng chấp
thật của hàng Thanh Văn và ngoại đạo. Tự tánh bất nhị,
chẳng một chẳng hai, người mắt sáng cần phải đủ hai
con mắt để chiếu soi, chiếu phá diệt hai đầu (tương đối).
Nếu chỉ có một con mắt thiên hướng một bên thì phải
bỏ mất bên kia. Người xưa nói : "Dù Công Đức Thiên, Hắc
Ám Nữ đi theo, người chủ có trí thì cả hai đều chẳng
nhận". Người học đạo nên tâm như hư không, sở học mới
được thành tựu.
Lục
Tổ nói : "Thiện ác đều chớ suy nghĩ".
Mã
Tổ nói : "Như người mê chẳng phân biệt phương được hướng".
Tăng
Triệu nói : "Bế tắc trí huệ thông minh, độc giác mênh mông".
Văn
Thù nói :
Vì
tâm đồng hư không
Kính
lễ vô sở quán
Kinh
điển rất thâm sâu
Chẳng
nghe chẳng thọ trì.
Chỉ
như nay đối với các pháp có không chẳng thấy chẳng nghe,
lục căn đóng bít, nếu học được như thế, trì kinh như
thế, mới có phần tu hành. Lời này đắng miệng nghịch tai,
nếu người nào thực hành được thì đến kiếp thứ nhì
hoặc kiếp thứ ba ắt được ở chỗ không có Phật mà tọa
đạo tràng, thị hiện thành Đẳng Chánh Giác, biến ác thành
thiện, biến thiện thành ác, dùng pháp ác giáo hóa thập địa
Bồ tát, dùng pháp thiện giáo hóa địa ngục ngạ quỷ, gặp
chỗ sáng thì khéo mở trói cho sáng, gặp chỗ tối thì khéo
mở trói cho tối. Cũng nói : "Từ sắc giới trở lên, bố
thí là bệnh, bỏn xẻn là thuốc, từ sắc giới trở xuống,
bỏn xẻn là bệnh, bố thí là thuốc". Cũng nói : "Từ người
đến Phật là đắc, từ người đến địa ngục là thất,
thị phi cũng vậy". Tam Tổ nói : "Đắc thất thị phi, nhất
thời buông bỏ". Nắm vàng thành đất, nắm đất thành vàng,
tự do biến hóa, tất cả đều làm được. Ngoài hằng sa
thế giới có kẻ cầu cứu, Phật liền hiện ra ba mươi hai
tướng tốt trước mặt người ấy, dùng tiếng nói của họ
thuyết pháp cho họ, tùy cơ cảm ứng, tùy loại biến hóa,
mà hiện hình khác nhau, lìa ngã và ngã sở. Làm những được
việc này vẫn chỉ là tiểu dụng, cũng còn nằm trong cửa
Phật sự. Nếu là đại dụng : đại thân ẩn nơi vô hình,
đại âm dấu nơi hy thanh (âm thanh ngoài tần số nghe), như
lữa ở trong gỗ cây, như tiếng ở trong chuông trống, khi
chưa đủ nhân duyên chẳng thể nói đó là có hay không. Đối
với quả báo cõi trời, bỏ nó như nhổ nước miếng, đối
với lục độ vạn hạnh của Bồ tát như nhờ tử thi làm
bè qua sông, cũng như chui lỗ cầu tiêu để ra khỏi tù. Phật
đắp ba mươi hai tướng tốt gọi là đắp cái y cáu bẩn.
*
*
*
Sư
nói :
Chẳng
thiện trói, chẳng ác trói, chẳng Phật trói, chẳng chúng
sanh trói, cho đến chẳng tất cả số lượng trói. Nên nói
: "Phật là người ở ngoài trói buộc".
Những
người tham đắm tri giải nghĩa cú như mẹ thương con, chỉ
biết cho con ăn nhiều tô lạc, tiêu hay không tiêu đều không
màng đến. Lời này dụ cho :
Hàng
thập địa thọ sự cúng dường của trời người là tôn
quý phiền não.
Thiền
định sanh vào sắc giới, vô sắc giới, là phước lạc phiền
não.
Được
thần thông tự tại bay đi ẩn hiện khắp tịnh độ mười
phương chư Phật, là nghe pháp phiền não.
Học
từ bi hỷ xả là nhân duyên phiền não.
Học
lý không, bình đẳng, là trung đạo phiền não
Học
tam minh lục thông là tứ vô ngại phiền não.
Học
tâm đại thừa là phát tứ hoằng thệ nguyện phiền não.
Sơ
địa, nhị địa, tam địa, tứ địa là minh giải phiền não.
Ngũ
địa, lục địa, thất địa là chư tri kiến phiền não.
Bát
địa, cửu địa, thập địa là song chiếu nhị đế (chân
đế và tục đế) phiền não.
Cho
đến học Phật quả là bá vạn A tăng kỳ chư hạnh phiền
não.
Lược
giải :
Các
thứ phiền não kể trên có thể khiến người đọc nghi ngờ
nên chúng tôi luợc giải :
Bản
năng của tự tánh vốn đầy đủ, cùng khắp không gian và
thời gian, nếu được phát hiện (kiến tánh) thì tùy duyên
cảm ứng chẳng thiếu sót. Nay còn học thêm làm thêm cũng
như trên đầu mọc thêm đầu, chỉ tự thêm lao nhọc, cho
nên nói là phiền não.
Lược
giải hết.
Chỉ
biết tham đắm nghĩa cú tri giải chẳng biết đó là trói
buộc phiền não, nên nói : "Giòng sông kiến chấp hay cuốn
trôi hương tượng (loài voi lớn ở Hi Mã Lạp Sơn, dụ cho
hàng Bồ tát)".
*
*
*
Sư
nói :
Nếu
chấp vốn thanh tịnh, vốn giải thoát, tự là Phật, tự là
thiền đạo, có kiến giải này, tức thuộc về phái ngoại
đạo tự nhiên.
Nếu
chấp nhân duyên tu thành, chứng đắc, tức thuộc về phái
ngoại đạo nhân duyên. Chấp có tức thuộc về phái ngoại
đạo thường kiến.
Chấp
không tức thuộc về phái ngoại đạo đoạn kiến.
Chấp
cũng có cũng không tức thuộc về phái ngoại đạo biên kiến.
Chấp
chẳng có chẳng không tức thuộc về phái ngoại đạo không
kiến, cũng gọi là ngoại đạo ngu si.
Hiện
nay chớ cho là kiến (thấy) Phật, kiến Niết bàn, kiến tất
cả pháp có không..., cũng không phải là vô kiến, mới được
gọi là chánh kiến. Không có tất cả văn (nghe), cũng không
phải là vô văn, mới được gọi là chánh văn.
Văn
Thù là Tổ Sư của bảy Phật, cũng là Bồ tát bậc nhất
trong cõi Ta Bà, vô cớ nổi lên cái tưởng kiến Phật, cái
tưởng văn pháp, nên bị sức oai thần của Phật đày đi
núi Nhị Thiết Vi. Ngài chẳng phải là không hiểu, chỉ vì
đặc biệt muốn làm mô phạm cho người hậu học, kiến người
đời sau chớ nên móng khởi những kiến văn như thế. Hễ
không chấp tất cả các pháp hữu vô, hữu kiến vô kiến...
mỗi mỗi thấu suốt ngoài ba câu, ấy gọi là Như Ý Bảo,
cũng gọi là Bửu Liên Hoa hứng chân. Nếu sanh khởi Phật
kiến pháp kiến và tất cả các kiến hữu vô, gọi là con
mắt bị nhặm vì có năng kiến sở kiến, nên gọi là kiến
ràng buộc, cũng gọi là kiến che khuất, cũng gọi là kiến
nghiệp. Như nay niệm niệm đối với tất cả kiến văn giác
tri và tất cả trần cấu được tẩy sạch hết thì một
trần một sát trọn là một Phật. Hễ khởi một niệm "trọn
là một Phật", niệm niệm tương tục trong tam thế ngũ ấm
không có số lượng, ấy gọi là Phật đầy khắp hư không,
cũng gọi là phân thân Phật (Sư từng nói : "Hễ có cử tâm
động niệm đều gọi là phá giới". Tại sao niệm này lại
được gọi phân thân Phật? Vì thiên ma Ba Tuần muốn tìm
chỗ một niệm khởi của Bồ tát để khuấy phá, nhưng chỗ
khởi niệm nầy có thể tìm được chăng? Nếu chẳng thể
tìm thì tại sao Văn Thù kiến Phật, văn pháp bị đày đi
núi Nhị Thiết Vi).
*
*
*
Sư
nói :
Không
có ma phàm phu đến là đại thần chú, không có ma Nhị thừa
đến là đại minh chú, không có ma Bồ tát đến là vô thượng
chú, không có ma Phật đến là vô đẳng đẳng chú.
Một
biến chúng sanh là siểm-khúc tu-la (l), hai biến Nhị thừa
là siểm-khúc tu-la, ba biến Bồ tát là siểm-khúc tu-la. Đó
là tam biến tịnh độ (2). Tất cả pháp có không, phàm thánh,...
dụ như quặng vàng, tự mình đúng lý dụ như vàng. Vàng với
quặng tách rời nhau thì vàng thật lộ ra. Nếu có người
muốn tiền thì liền biến vàng thành tiền cho người ấy
dùng. Cũng như bột mì thật, nếu có người đến xin bánh
liền làm thành bánh cho người đó. Cũng như viên quan hầu
cận có trí, khéo hiểu được ý nhà vua, vua lúc muốn đi,
kêu "Tiên đà bà", liền đem ngựa đến; lúc vua muốn ăn,
kêu "Tiên đà bà", liền đem búa đến. Những việc trên dụ
cho người học huyền chỉ, khéo được thông đạt thì ứng
cơ chẳng sai lầm, nên cũng gọi là lục tuyệt sư tử (tự
tánh). Ngài Chí Công nói : "Tùy người tạo tác, trăm sự biến
hóa". Hàng Bồ tát Thập địa chẳng đói chẳng no, vào nước
không chìm, vào lửa không cháy, nhưng nếu muốn cháy cũng
chẳng thể cháy, vì các vị ấy còn bị số lượng hạn chế.
Phật thì chẳng phải như thế, vào lửa chẳng cháy, còn như
muốn cháy liền cháy, vào nước chẳng chìm, muốn chìm liền
chìm. Ngài xử dụng tứ đại được tự do, tất cả sắc
là sắc Phật, tất cả thanh là thanh Phật, cặn bã nhơ uế
của tâm siểm khúc sạch hết, thấu suốt nghĩa ba câu mới
được nói lời nầy : Bồ tát thanh tịnh, đệ tử sáng suốt,
có nói ra điều gì cũng chẳng chấp có không, tất cả chiếu
dụng chẳng lạc vào thanh hay trược.
Người
có bệnh mà không uống thuốc là người ngu. Người không
bệnh mà uống thuốc là hàng Thanh Văn. Người chấp quyết
định vào một pháp gọi là định tánh Thanh Văn. Người luôn
luôn đa văn gọi là tăng thượng mạn Thanh Văn. Người ham
biết các pháp ngoài tâm gọi là hữu học Thanh Văn. Người
trầm không trệ tịch và tự biết mình gọi là vô học Thanh
Văn.
Tham
sân si là độc, mười hai phần giáo là thuốc, độc chưa
tiêu hết, thuốc không được bỏ, không bệnh mà uống thuốc,
thuốc trở thành bệnh. Bệnh hết mà thuốc không bỏ nên
mới nói : "Bất sanh bất diệt là nghĩa vô thường". Kinh Niết
Bàn nói : "Tu sĩ có ba điều ác dục : Một là muốn được
tứ chúng vây quanh, hai là muốn mọi người làm môn đồ mình,
ba là muốn mọi người biết ta là thánh nhân (có trí huệ
cao)". Kinh Ca Diếp nói : "Có bốn điều ác dục :
Một
là muốn cầu thấy Phật vị lai, hai là muốn cầu làm Chuyển
Luân Vương, ba là muốn cầu vào dòng Sát Đế Lợi, bốn là
muốn được vào hàng Bà la môn nhẫn đến chán sanh tử cầu
Niết Bàn". Những điều ác dục như vậy trước hết phải
dứt trừ. Hiện tại hễ có dấy niệm đắm nhiễm đều gọi
là ác dục, đều thuộc về sáu cõi trời dục giới, bị
ma Ba Tuần cai quản.
GHI
CHÚ :
(l)
Siểm-khúc tu-la :
A-tu-la
có ba nghĩa :
l.-
Vô đoan : xấu xí (đoan = đoan trang).
2.-
Vô tửu : quả báo không có rượu.
3.-
Phi thiên : giống thiên (trời) mà hạnh không bằng thiên. Giống
thiên, tánh hay sân, mạn, nghi, tâm chấp trước rất mạnh,
dầu được giáo hóa tâm cũng không động (tự không biết
quấy), dầu nghe lời hay cũng không được chứng ngộ, lại
rất đố kị Phật thuyết pháp. Phật nói tứ niệm xứ thì
nó nói ngũ niệm xứ, Phật nói ba mươi bảy phẩm trợ đạo
thì nó nói ba mươi tám phẩm, đó là bị cái tâm co khúc che
lấp.
Như
vậy siểm-khúc tu-la là xấu xí (mặt) cong queo (tâm).
(2)
Tam biến tịnh độ :
Phẩm
Bảo - tháp trong kinh Pháp Hoa, có việc như vầy :
"Mười
phương phân thân Phật của Đức Thích Ca Mâu Ni, mỗi mỗi
thân phân Phật này đều dắt theo một Bồ tát đi cúng dường
tháp Đa Bảo, khi đến núi Linh Khứu, Phật Thích Ca dùng thần
lực biến uế độ thành tịnh độ :
Ban
đầu biến một thế giới ta bà thành tịnh độ.
Kế
đó biến hai triệu ức cõi nước thành tịnh độ.
Sau
biến hai triệu ức na do tha cõi nước thành tịnh độ.
Theo
đó gọi là tam biến tịnh độ.
*
*
*
Sư
nói :
Tin
thật có tất cả pháp gọi là lòng tin chẳng đủ, cũng gọi
là tin chẳng viên tròn, cũng gọi là tin thiên lệch một bên,
nên gọi là Nhất Xiển Đề. Như nay muốn được thẳng đến
giác ngộ cần phải nhân pháp đều quên, nhân pháp đều tuyệt,
nhân pháp đều không, thấu suốt nghĩa ba câu, gọi là người
chẳng đọa chư số, ấy mới được gọi là kẻ tin pháp.
*
*
*
Sư
nói :
Phật
là người ở ngoài ràng buộc, chẳng có mảy may ái thủ,
cũng chẳng có không ái thủ, cũng không có tri giải vế ái
thủ hay không ái thủ, gọi là đầy đủ lục độ vạn hạnh.
Nếu cần đồ trang nghiêm thì mỗi mỗi đều sẵn có, nếu
không cần thì cũng không mất. Luôn luôn tự do điều khiển
nhân quả phước trí.
*
*
*
Hỏi
:
Chư
Tổ từ xưa đều có mật ngữ trao truyền cho nhau là như thế
nào?
Sư
đáp :
Không
có mật ngữ. Như Lai không có tạng bí mật. Vì cái giác chiếu
soi này, lời nói rõ ràng mà tìm hình tướng chẳng thể được,
nên nói là mật ngữ. Từ Tu Đà Hoàn trở lên cho đến Thập
địa hễ có ngữ cú đều thuộc về pháp trần cấu, hễ
có ngữ cú đều thuộc về bên phiền não, hễ có ngữ cú
đều thuộc về giáo bất liễu nghĩa, hễ có ngữ cú đều
chẳng cho. Giáo liễu nghĩa vẫn là sai lại còn đòi mật ngữ
gì nữa!
*
*
*
Sư
nói :
Kẻ
chân cúng dường chẳng trụ tam nghiệp : tiền tế (quá khứ)
không phiền não để đoạn, trung tế (hiện tại) không tự
tánh để giữ, hậu tế (vị lai) không Phật để thành, đó
là tam tế đoạn, là ba nghiệp thanh tịnh, là tam luân thể
không, là tam đàn (l) không.
Tại
sao nói tỳ kheo hầu hạ nơi Phật? Nghĩa là người lục căn
vô lậu, cũng gọi là "trang nghiêm KHÔNG, vô chư lậu", "Rừng
cây trang nghiêm KHÔNG, vô chư nhiễm", "Hoa quả trang nghiêm
KHÔNG, vô Phật nhãn".
GHI
CHÚ : (l) Tam đàn : Người bố thí, người nhận bố thí và
tài vật bố thí.
*
*
*
Hỏi
:
Lời
nói như cái mô đất để chịu tên bắn. Lời nói sanh ra không
thể nào chẳng bị hại như cái mô đất kia (mô đất dụ
như thân, chịu tên bắn dụ như bệnh, thân đã sanh rồi thì
tất nhiên sẽ có bệnh). Tai hại đã đồng đúng sai làm sao
biện biệt?
Sư
đáp :
Như
hai người bắn tên nhau, hai đầu mũi tên đụng nhau giữa
đường, nếu như sai chệch một chút ắt có kẻ bị thương.
Trong hang tìm tiếng, nhiều kiếp cũng không có hình, tiếng
ở bên miệng. Đúng sai là ở nơi người đến hỏi. Nếu
cái hỏi sai thì cái đáp theo đúng lời hỏi cũng phải sai,
vậy cả hai phải bị trúng tên.
*
*
*
Hỏi
:
"Đại
Thông Trí Thắng Phật (Bích Chi Phật), mười kiếp ngồi đạo
tràng, Phật pháp chẳng hiện tiền, chẳng thể thành Phật
đạo" là thế nào?
Sư
đáp :
Kiếp
nghĩa là mắc kẹt, cũng có nghĩa là trụ. Trụ nơi một điều
thiện, mắc kẹt nơi thập thiện. Ấn Độ nói Phật, Trung
Hoa dịch là Giác, cái giác chiếu soi của chính mình nếu bị
kẹt nơi thiện gọi là người thiện căn không Phật tánh,
nên nói Phật pháp chẳng hiện tiền, chẳng thể thành Phật
đạo.
Gặp
ác trụ nơi ác, gọi là cái giác của chúng sanh, gặp thiện
trụ nơi thiện, gọi là cái giác của thừa Thanh Văn. Chẳng
trụ hai bên thiện ác mà cho sự chẳng trụ là đúng, gọi
là giác của thừa Duyên Giác. Đã chẳng y trụ hai bên thiện
ác và cũng chẳng khởi tri giải về chẳng y trụ, đó là
cái giác của thừa Bồ tát. Đã chẳng khởi tri giải về
chẳng y trụ cũng không có cái biết về khởi hay chẳng khởi
mới được gọi là đại giác của Phật.
Như
nói Phật chẳng trụ nơi Phật, gọi là chân phước điền,
nếu ở trong nghìn muôn người mà có được một người như
thế thì gọi là của báu vô giá. Người ấy ở khắp mọi
nơi làm đạo sư. Chỗ không có Phật nói là Phật, chỗ không
có pháp nói là pháp, chỗ không có tăng nói là tăng, đấy
gọi là chuyển đại pháp luân.
