Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen Thực Hiện
TẢN MẠN MÙA XUÂN DI LẶC LỤC TẶC
Thích Nguyên Hùng

Một năm được bắt đầu bằng mùa Xuân. Khởi đầu một mùa Xuân tốt đẹp là dấu hiệu cho một năm mới hanh thông. Vì vậy mọi dự tính tương lai, mọi niềm mơ ước, mọi điều tốt đẹp… đều được đặt ra và cầu nguyện trong những ngày đầu năm mới, những ngày Tết. 

Người ta nói Tết có từ đời Ngũ Đế, Tam Vương. Hồi đó, nhà Hạ ưa chuộng màu đen, vậy là chọn tháng Giêng (tháng Dần) làm tháng đầu năm. Rồi sang nhà Thương, thích màu trắng, nên lấy tháng Sửu (tháng Chạp) làm tháng đầu năm. Nhưng đến nhà Chu người ta thích màu đỏ, nên đổi tháng đầu năm sang tháng Tý (tháng Mười một). 

Cái cách tính tháng ngày đầu năm để đặt ra lễ Tết như vậy không đơn giản chỉ là vì sở thích "ưa màu thời gian" của các bậc đế vương, mà người ta đã dựa vào thuyết quan niệm rằng, lúc mới tạo thiên lập địa, giờ Tý có trời, giờ Sửu có đất, giờ Dần sinh ra loài người, từ đó mà chọn tháng đầu năm, đặt ra ngày Tết khác nhau.

Ngày Tết vào tháng Mười một kéo dài đến đời Đông Chu, khi ấy Khổng Phu Tử ra đời, lại ấn định ngày Tết vào tháng Giêng. Nhưng khi Tần Thủy Hoàng thống nhất thiên hạ, lại đổi qua tháng Hợi (tháng Mười). Mãi đến đời nhà Hán trị vì, Hán Vũ đế lại đặt ngày Tết vào tháng Dần (tức tháng Giêng). Từ đó về sau, không còn ai đặt lại ngày Tết nữa.

Đối với Phật giáo, khái niệm về thời gian là vô thỉ vô chung, chẳng có sự khởi đầu và cũng chẳng có sự kết thúc, bởi sự kết thúc của cái này là khởi đầu của cái kia, chỉ là sự “xuất thử một bỉ” (ẩn đây hiện kia) mà thôi! Cho nên, Xuân đến hoa nở, Xuân đi hoa tàn, và việc đời cứ trôi mãi trong khi tóc trên đầu đã điểm bạc cũng chỉ là sự biểu hiện của quy luật tuần hoàn vô thỉ vô chung đó thôi. Tuy nhiên, khi ngày đầu một năm mới được ấp ủ bao nhiêu điều tốt đẹp, con người thầm ước mơ bao điều tươi sáng, lành mạnh, hy vọng một ngày mai, một tương lai tràn đầy hạnh phúc, thì sự khẳng định “chớ bảo Xuân tàn hoa rụng hết, đêm qua sân trước một cành mai” mới nhân bản và Phật giáo quá! Do đó, Phật giáo không thể thờ ơ và lạnh nhạt với những điều mơ ước của con người trong ngày đầu năm mới. Mà ước mơ và hy vọng đối với người Phật tử thì không có ước mơ nào đẹp hơn ước mơ thành Phật! Vả chăng, thành Phật đâu chỉ là ước mơ. Đức Thế Tôn đã từng nói chúng sanh là Phật sẽ thành. Vậy nên, ngày đầu năm, đối với người Phật tử, là ngày Đức Phật tương lai ra đời. Thật là một ngày xán lạn!

Vị Phật tương lai của chúng ta có tên là Di Lặc. Kinh Tạp A Hàm ghi: “Một thời gian lâu dài ở thời vị lai, lúc con người thọ tám vạn tuổi sẽ có Đức Phật hiệu là Di Lặc ra đời” (Tạp A Hàm, kinh số 66). 

Di Lặc , tiếng Phạn là Maitreya, Trung Hoa dịch là Từ Thị (họ Từ). Tên Ngài là A Dật Đa (Ajita), dịch là Vô Năng Thắng (không gì hơn). Có khi người ta cho A Dật Đa là họ, còn Di Lặc là tên của Ngài.

Ngài sanh tại miền Nam nước Thiên Trúc trong một gia đình Bà la môn. Tương truyền, Ngài là vị Phật tương lai, tiếp sau Đức Phật Thích Ca, hiện đang là vị Bồ tát bổ xứ. Khi Quang Phật nhập diệt, Ngài sanh vào nội viện cung trời Đâu Suất. Ở đó đến 4 ngàn năm (tức là khoảng 56 ức 7.000 vạn năm ở cõi người), thì hạ sanh xuống nhân gian, dưới cây Long hoa ở  vườn Hoa Lâm, và thành Chánh giác. Trong quá khứ, Ngài đã từng tu tập thành công từ tâm tam muội, do đó mà có tên là Từ Thị. Đến khi thành Phật cũng lấy tên này (Theo Từ điển Bách khoa toàn thư).

Chú Duy Ma kinh, quyển 1, ghi: “Di Lặc là họ của một vị Bồ tát, tên là A Dật Đa. Người Nam Thiên Trúc, thuộc dòng dõi Bà la môn”. Thiên Thai Tịnh Danh Sớ, ghi rằng: “Di Lặc nghĩa Từ Thị. Trong quá khứ, ngài từng làm vua tên là Đàm Ma Lưu Chi, dùng lòng từ bi để cai trị thiên hạ, nên dân chúng tôn xưng ngài là Từ Thị. Từ đó trở đi, ngài luôn mang tên Từ Thị, họ là A Dật Đa, tức là không gì hơn”.

Câu Xá Quang Ky, quyển 18, ghi: “Maitreya dịch nghĩa là Từ Thị. Đó là vị Bồ tát sinh ra từ lòng từ bi, cho nên gọi tên như vậy”. Theo cách giải thích này, thì cứ một tâm niệm từ bi, thương người phát sinh là một vị Bồ tát ra đời. Trong ngày đầu năm mới, chúng ta hạn chế mọi cử chỉ, hành động, lời nói và cả suy nghĩ nữa, sao cho đừng phiền lòng ai, cố gắng giữ tâm hồn thanh thản, vui vẻ, hoan hỷ… đó là một ngày chúng ta sống trong niệm của Bồ tát Di Lặc. Một ngày đầu năm như vậy, và kéo dài suốt năm như vậy, thì Đức Phật Di Lặc đản sanh hàng ngày. Thật tốt đẹp biết bao!
Tương truyền, Bồ tát Di Lặc đã từng thị hiện ở cõi đời này. Một lần, vào thế kỷ thứ X, Ngài thị hiện làm Bố Đại hòa thượng.

Bố Đại hòa thượng ở vùng Phụng Hóa Minh Châu, vào triều Lương, đời Ngũ Đại, Trung Quốc. Thân hình mập tròn vui vẻ, nói năng tự tại, ăn ngủ tùy tiện, trẻ con hay quấn quýt xung quanh, thường mang trên vai một bao bố, có nhiều phép màu và có những hành động lạ lùng mang tính chất "cuồng thiền". Ngài được quần chúng mến phục vì có tài tiên tri thời tiết mưa nắng. Một khi ngài ngủ ngoài đường, mọi người biết trời sẽ tốt, ngược lại lúc ngài đi giày dép và kiếm chỗ tạm trú thì trời sẽ mưa. Cho đến khi thị tịch, ngài ngâm kệ: “Di Lặc chơn Di Lặc, Phân thân thiên bách ức, Thời thời thị thời nhơn, Thời nhơn tự bất thức”, mọi người mới biết ngài là Bồ tát Di Lặc thị hiện. Từ đó, người ta họa hình ngài với dáng vẻ rất tự tại, hoan hỷ, có sáu đứa trẻ nít vây quanh. Hình ảnh này bây giờ ở đâu cũng thấy tôn thờ (Theo tạp chí Từ bi âm).

Sáu đứa trẻ nít, nhiều người lý giải, nó tượng trưng cho sáu tên giặc, gọi là lục tặc. Vậy bộ mặt thật của sáu tên giặc này là gì? Phật Quang Đại từ điển giải thích: Lục tặc là sáu tên cướp. Sáu trần sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nhờ sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý làm môi giới, cướp đoạt công năng tài pháp, cho nên ví nó như sáu tên giặc cướp. 

Kinh Niết Bàn, quyển 23, ghi: “Sáu tên cướp lớn tức là sáu trần bên ngoài. Bồ tát Ma ha tát xem sáu trần như sáu tên cướp lớn. Vì sao vậy? Bởi vì chúng có khả năng cướp đoạt hết thảy thiện pháp, giống như sáu tên đại tướng cướp có thể chiếm đoạt hết thảy tài sản của cải của người dân. Giặc ác sáu trần cũng như vậy, có thể cướp đoạt hết thảy thiện tài của chúng sanh như sáu tên giặc lớn. 

“Sáu tên cướp lớn nếu đột nhập vào nhà người thì chúng sẽ lấy tất cả tài sản, không phân biệt tốt xấu, khiến cho người giàu phút chốc trở nên nghèo khó bần cùng. Giặc sáu trần cũng như thế, nếu đã xâm nhập vào các giác quan của con người rồi thì có thể cướp đoạt hết thảy pháp lành. Một khi thiện pháp đã mất hết rồi thì trở thành kẻ nhất xiển đề, thui thủi một mình trên con đường bần cùng khốn khổ. Vì thế, Bồ-tát nhìn nhận một cách đúng đắn sáu trần giống như sáu tên cướp lớn.

 “Ban đêm là môi trường hoạt động của bọn cướp, nên những tên cướp lớn thấy đêm đến thì sung sướng hí hửng. Giặc ác sáu trần cũng như thế. Vô minh là môi trường hoạt động của nó, nên ở chỗ tối tăm vô minh thì nó sung sướng hí hửng” (ĐTK/ĐCTT, tập 12, số 374, trang 0501a10, bản điện tử).

Kinh Lăng Nghiêm, quyển 4, ghi: “Hiện tiền sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý của ngươi làm mai mối cho giặc, tự cướp của báu trong nhà, vọng thành sự thắt kết phiền não. Do sự thắt kết này nên thế giới chúng sanh tự sanh ràng buộc từ vô thỉ, chẳng thể ra khỏi thế gian vậy” (ĐTK/ĐCTT, tập 19, số 945, trang 0122c03, bản điện tử).

Kinh Tạp A Hàm, quyển 43, kinh số 1172, cũng ghi: “Này bạn, bên trong còn có sáu tên giặc đang đuổi theo rình rập anh. Nếu bắt được, chúng nó sẽ giết. Anh nên đề phòng”. 
Bấy giờ, người này vì sợ bốn con rắn độc, năm kẻ oán thù cầm dao, với sáu tên giặc ở bên trong, nên kinh hãi bỏ chạy, lại trở vào trong xóm vắng. Thấy một căn nhà trống mục nát nguy hại kia, với những đồ vật xấu ác, giòn tan, dễ vỡ, không có gì chắc thật. Trong xóm vắng lại cũng có bọn giặc đang hoành hành.

Đức Phật giải thích, sáu tên giặc ác bên trong là dụ cho sáu ái hỷ. Bọn giặc nơi xóm vắng là dụ cho sáu nhập xứ bên ngoài. Mắt bị sắc vừa ý, không vừa ý làm hại; tai đối tiếng, mũi đối mùi, lưỡi đối vị, thân đối xúc, ý đối pháp dù vừa ý hay không vừa ý cũng đều bị hại.

Quán tâm luận thì giải thích sáu giặc như sau: “Sáu căn cũng gọi là sáu giặc. Sáu tên giặc này chính là lục thức. Ra vào các căn tham trước vạn cảnh, có thể thành ác nghiệp tổn hao thể Chân như, cho nên gọi là sáu giặc. Hết thảy chúng sanh do ba độc và sáu giặc này mà rối loạn thân tâm, trầm luân trong sanh tử, luân hồi trong sáu nẻo, chịu không biết bao nhiêu khổ não. Cũng như dòng sông vì có cội nguồn nên mới luân lưu bất tuyệt, có thể chảy xa vạn dặm, nếu có người cắt đứt mất cội nguồn này, thì các dòng đều cạn. Người muốn cầu giải thoát thì cũng phải đoạn trừ ba độc và sáu giặc này” (ĐTK/ĐCTT, tập 85, số 2833, bản điện tử).

Như vậy, các kinh đều nói lục tặc là sáu trần, duy Quán tâm luận nói là sáu thức, điều mà Tạp A Hàm gọi là sáu giặc ác bên trong, tức sáu ái hỷ. Sáu căn làm môi giới cho sáu giặc bên ngoài, nên nó là nội gián. Vậy thì, 18 giới đều là giặc hoặc cùng phe giới giặc cả.
Đức Phật nói, những ai “đối với sắc được nhận thức bởi mắt mà có ái niệm, đắm nhiễm; do ái niệm, đắm nhiễm, thường y trên thức và bị nó trói buộc, bị nó giữ chặt, nên không thể nhập Niết Bàn ngay trong đời hiện tại. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như vậy”. Đoạn kinh này làm chúng ta hiểu hơn về câu nói của Trúc Lâm Điều Ngự Trần Nhân Tông: “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”. Nghĩa là, “đối với sắc được nhận thức bởi mắt mà không ái niệm, đắm nhiễm; vì không có ái niệm, đắm nhiễm nên không y trên thức. Vì không bị xúc, không bị dính mắc, không bị chấp thủ, nên các Tỳ kheo này nhập Niết Bàn ngay trong đời hiện tại. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại cũng như thế”. 

Vì vậy, chúng ta phải luôn luôn hộ trì 6 căn, đừng để 6 cảnh đắm nhiễm. Cũng như con rùa sống trong bụi cỏ ven sông. Hôm nọ có một con dã can đói đi tìm thức ăn. Vừa thấy con rùa, nó vội nhảy tới vồ lấy. Con rùa thấy vậy, liền thu hết đầu đuôi và bốn chân vào trong mai. dã can canh đợi con rùa thò đầu, chân ra là chụp ăn liền. Nhưng chờ lâu quá, mà nhất định rùa không thò đầu và chân ra. dã can đói quá, tức tối bỏ đi.

“Này các Tỳ kheo, ngày nay các ông cũng lại biết như vậy. Ma Ba Tuần luôn luôn dò xét tìm cơ hội bên các ông. Mong đợi mắt các ông đắm sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý nhớ pháp mà xúi dục sanh tâm đắm nhiễm sáu trần. Cho nên Tỳ kheo, các ông phải luôn luôn giữ gìn luật nghi của mắt. Khi đã giữ gìn an trụ nơi luật nghi của mắt rồi, dù mắt có sanh khởi hoặc duyên cảnh đi nữa thì ác Ma Ba Tuần cũng không thể tìm được cơ hội. Tai mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như vậy. Dù sáu căn kia có sanh khởi hoặc duyên cảnh đi nữa, thì chúng cũng không thể tìm được tiện lợi. Giống như con rùa, dã can không thể tìm được cơ hội nào” (Kinh Tạp A Hàm).

Đó là lý do vì sao Bồ tát Di Lặc sống ung dung tự tại với sáu giặc vây quanh, và lúc nào trên khuôn mặt Ngài cũng rạng rỡ mùa Xuân. Đó, Xuân, Hạ, Thu, Đông… rồi lại Xuân, khi nào cũng thấy Ngài cười. Thật là hoan hỷ!
 
Thích Nguyên Hùng
(Giác Ngộ Xuân Đinh Hợi)
 

VÀI NÉT TÍN NGƯỠNG DI LẶC 
TRONG DÂN GIAN
Thích Phước Đạt

Ngày nay, người ta trở nên quen thuộc với hình ảnh ông già Noel xuất hiện trên mọi phố phường để phát quà và đem đến nhiều điều ước nguyện cho mọi người nhân lễ Giáng sinh và đón mừng Tết Dương lịch trong ảnh hưởng văn hóa của phương Tây. Thật ra, từ lâu lắm rồi, trong văn hóa cộng đồng của phương Đông, hầu hết các nước có người dân theo Phật giáo cũng đã có hình ảnh Bồ tát Bố Đại (hóa thân của Bồ tát Di Lặc), hàng ngày thường gánh một túi vải, đựng quà đi phân phát cho mọi người, nhất là trẻ em.

Ngài đi đến đâu trẻ em quây quần đến đó, người lớn thì hân hoan chào mừng vui vẻ, bởi vì bao ước nguyện cầu phúc, cầu lộc, cầu bình an trong tâm linh con người được Ngài gia hộ để hóa thành hiện thực. Do đó, cứ mỗi lần xuất hiện, người ta thấy Ngài chỉ đem đến phúc lộc dồi dào, sự an lành, hoan hỷ trước những biến động vô thường của cuộc sống thường nhật.  

Chính vì lẽ đó, hàng năm cứ dịp Xuân về Tết đến, dù người có theo đạo Phật hay không, ai cũng nô nức kéo nhau lên chùa, nhất là từ thời khắc giao thừa cho đến những ngày Tết để được nhìn thấy hình tượng Ngài cười hoan hỷ, được hái lộc đầu năm, mở đầu cho sự an khang thịnh vượng quanh năm suốt tháng. Ngài trở thành biểu tượng cho sự hoan hỷ, phúc lộc tràn trề, lòng thương yêu vô hạn trong tín ngưỡng tâm linh của những người theo đạo Phật ở các nước phương Đông. Đáng kể nhất là các nước như Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam, chùa nào cũng tạc tượng Ngài thật lớn với dáng người hoan hỷ, nụ cười tự tại, vai mang túi vải đựng quà, có khi còn có sáu đứa trẻ (lục tặc) đeo quanh. Tượng Ngài được tôn trí ngay tại tiền sảnh chánh điện để mọi người khi bước chân vào chùa đều đón nhận được cội nguồn phước thiện vốn sẵn có trong tâm linh mà thực thi, hành trì nhằm đem lại sự bình an nội tại. 

Theo Cảnh Đức truyền đăng lục, quyển 27, kể từ khi Ngài thị hiện ở đời trong một hóa thân là vị Tăng họ Thị, tự xưng là Khế Thử, hiệu Trương Đình Tứ, sống ở Phụng Hóa, thuộc Minh Châu (tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc vào đời nhà Lương, thời Ngũ Đại thì Ngài được gọi là Bố Đại hòa thượng. Cũng dễ hiểu, vì hành trạng của Ngài, quanh năm suốt tháng chỉ đi khắp mọi nơi, trên khắp mọi nẻo đường thuyết pháp bằng thân giáo. Với dáng người béo phì, mày rậm bụng to, nói năng hành xử tự tại và ngủ nghỉ ở bất cứ nơi nào. Ai cúng gì Ngài đều cho vào túi vải rồi đi phân phát, ban lộc cho mọi người. Điểm đáng nói là ngoài việc đem lại nguồn vui cho trẻ em, người lớn được an bình thì Ngài thường “dự báo chính xác thời tiết và chỉ dạy thiết thực cho người việc tốt nên làm, việc xấu tránh xa để khỏi bị hậu họa”. 

Cũng theo Cảnh Đức truyền đăng lục, tháng 3 năm 917, đời nhà Lương, khi sắp tịch Ngài ngồi ngay thẳng trên bàn thạch dưới Đông lang ở chùa Nhạc Lâm mà nói bài kệ: 

Di Lặc thật Di Lặc 

Phân thân nghìn trăm ức 

Luôn luôn chỉ dạy người 

Người đời không tự biết.

Nói xong, Ngài an nhiên thị tịch. Về sau, có người ở châu khác gặp Ngài mang túi vải đi lại đó đây. Người đời cho là ứng thân của Bồ tát Di Lặc. 

Điều đáng nói là từ khi Ngài viên tịch, hình ảnh của Bồ tát Bố Đại không chỉ trở thành biểu tượng cho sự hoan hỷ, phúc lộc, yêu thương trong sinh hoạt văn hóa tâm linh cộng đồng của người phương Đông mà nó còn được nâng lên trở thành “Tín ngưỡng Di Lặc” đối với những nước theo Phật giáo. Tín ngưỡng này được phát triển nhanh chóng, lan tỏa khi người ta căn cứ vào kinh điển và lòng tin bất động của người dân theo đạo Phật để thiết lập. 

Theo truyện “Pháp Thạnh” trong Danh tăng truyện sao, 480 năm sau khi Phật diệt độ, có La hán A Lợi Nan Đà bay lên cõi trời Đâu Suất vẽ tượng Di Lặc, rồi đến phía Đông Bắc nước Ưu Trương (nước Đa Lịch trong Phật quốc ký) tạo một tượng Di Lặc lớn bằng gỗ ngưu đầu chiên đàn. Truyện “Linh Vân” trong Đại Đường Tây Vực cầu pháp cao tăng truyện, quyển hạ, chùa Na Lan Đà và nơi cây bồ đề Phật thành đạo, về phía Đông có tinh xá thờ tượng Bồ tát Di Lặc bằng bạc cao hơn 10m. 

Ở Trung Quốc, những kinh điển liên quan đến tín ngưỡng Di Lặc đã được các vị cao tăng phiên dịch bắt đầu từ thời Tây Tấn, trước sau có hơn 10 loại, có thể quy vào ba hệ thống: thượng sinh, hạ sinh, bản nguyện. Chẳng hạn, ngay từ năm 303 đời Tây Tấn, ngài Trúc Pháp Hộ dịch kinh Di Lặc Bồ tát sở vấn bản nguyện. Đời Diêu Tần năm 402, ngài Cưu Ma La Thập dịch kinh Di Lặc hạ sinh thành Phật. Đến đời Lưu Tống Nam triều, Thư Cừ Kinh Thanh dịch kinh Di Lặc thượng sinh. Đời Đông Tấn, dịch kinh Di Lặc lai thời. Vào năm 508 -535, đời Bắc Ngụy, ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch kinh Di Lặc Bồ tát sở vấn. Đời Đường, năm 701, ngài Nghĩa Tịnh dịch kinh Di Lặc hạ sinh thành Phật…Việc chú trọng phiên dịch các tài liệu kinh điển nói trên, chứng tỏ tín ngưỡng Di Lặc hình thành, phát triển rất phổ biến và y cứ vào cơ sở chính thống.  

Cũng từ việc phiên dịch, khai thác và phổ biến các tài liệu kinh điển này mà tự thân nó định hình hai trường phái tín ngưỡng. Phái tín ngưỡng thượng sinh thì cho rằng hiện nay Bồ tát Di Lặc đang thuyết pháp độ sinh tại cõi trời Đâu Suất. Phái này chỉ ảnh hưởng trong giới trí thức, nghiên cứu dịch thuật. Người đề xướng và có công lớn hoằng dương truyền bá đầu tiên là ngài Đạo An (315-385), sau đó là Đạo Kiểu, Tăng Nghiệp, Huệ Nghiêm, Đạo Uông, Đạo Pháp, Pháp Thịnh, Đàm Phó, Đàm Võ... Đến đời Đường, các ngài  Huyền Trang, Khuy Cơ cũng hoằng dương tín ngưỡng thượng sinh Đâu Suất và tín ngưỡng này trở thành truyền thống của tông Pháp Tướng. Còn phái tín ngưỡng hạ sinh thì chủ trương trong tương lai Bồ tát Di Lặc sẽ giáng thế, thành Phật dưới cội Long hoa và thuyết pháp ba hội để cứu độ chúng sinh. Thuyết này đã tạo ra đức tin lớn và sự kỳ vọng mạnh mẽ trong tâm thức quần chúng. Vì vậy, nó ảnh hưởng rất mạnh mẽ các tầng lớp từ vua quan cho đến nhân dân lao động trong đời sống sinh hoạt tín ngưỡng Phật giáo bấy giờ.  

Theo Xuất Tam tạng ký, tập 12, Pháp Uyển tạp duyên nguyên thủy tập mục lục tự, đời Lưu Tống, ngay cả vua Minh Đế (tại vị 465-471) đích thân soạn Long Hoa thệ nguyện văn, Châu Ngung soạn Kinh sư Chư ấp tạo Di Lặc tam hội ký, Cánh Lăng Văn Tuyên đời Tiêu Tề soạn Long Hoa hội ký, ngài Nam Nhạc Huệ Tư soạn Lập thệ nguyện văn. Tất cả đều tuyên dương thuyết Di Lặc hạ sinh. Đến đời Ngũ Đại có Bồ tát Bố Đại hóa thân Di Lặc thị hiện thì tín ngưỡng phái hạ sinh càng có ảnh hưởng lớn trong đời sống tín ngưỡng tâm linh quần chúng. 

Sự thể nhập tín ngưỡng hạ sinh Di Lặc vào trong đời sống văn hóa cộng đồng sinh hoạt Phật giáo Trung Hoa là việc xây dựng mô hình văn hóa vật thể (thế gian trú trì Tam bảo) bằng cách kiến tạo chùa chiền, dựng tượng Di Lặc thờ tự ở khắp mọi nơi để lại dấu ấn tâm linh lớn trong lòng dân chúng. Đời Nam Tề, khoảng năm 979-982, ngài Tăng Hộ có phát nguyện khắc tạo tượng Di Lặc cao 307m ở núi Thạch Thành, huyện Diệm, nhưng tâm nguyện chưa thành thì qua đời. Ngài Tăng Hựu tiếp tục hoàn thành và được người đời gọi là Tam thế thạch Phật, Đại Phật huyện Diệm. Đời Bắc Ngụy, vua Hiến Văn đế tạo động Di Lặc ở hang thứ 13 Vân Cương Đại Đồng và an trí pho tượng ngồi cao 16m. Sau khi dời đô về Lạc Dương, Hiến Văn đế còn tạo hang động Long Môn, trong đó có hơn 100 pho tượng Phật Di Lặc lớn nhỏ. Ngoài ra, trên các sườn núi Hoàng Thạch ở Lịch Thành, Sơn Đông và ở núi Thiên Phật cũng có nhiều pho tượng Di Lặc lớn được tạo dựng vào đời Bắc Triều. Đến đời Đường, dưới sự trị vì của Võ Tắc Thiên, văn hóa tín ngưỡng Di Lặc lên cao trào, phổ cập khắp trong quần chúng. 

Việc khánh thành chùa, tự viện, tôn trí đại tượng Di Lặc trở thành những lễ hội văn hóa Phật giáo dưới sự bảo trợ của triều đình để cầu quốc thái dân an, sự thịnh vượng của  nước nhà, dân chúng được phúc lạc vô biên trong ý nghĩa mỗi người là một vị Phật sẽ thành. Vào những ngày này, các nghi lễ Phật giáo được diễn ra dưới sự chủ trì của các vị cao tăng Đại Đường, chư Tăng toàn quốc về dự lễ trai tăng cầu phước được tổ chức trang nghiêm hoành tráng, dưới sự kết hợp của Bộ Lễ, chư Tăng trong ban trú trì, giám viện. Sau đó là lễ chẩn tế âm linh cô hồn, người sống và người khuất đều ân triêm lợi lạc. Hình ảnh chư Tăng phát quà sau khi cúng thực chất là hình ảnh Bố Đại mang túi đãy ban phước lộc thọ đến mọi người. Cao cả hơn trong ý nghĩa chẩn tế là sự cứu giúp người nghèo khổ. Nhân dịp này, dưới sự bảo trợ của triều đình và khuyến giáo của chư Tăng, từ vua quan, công hầu bá tước đã phát tâm cúng dường với ngân khoản lớn để bố thí cho đồng bào nghèo khó. Đây cũng là dịp để dân chúng hát ca, hoan hỷ thỏa lòng, trên hết là tạo ra sự gắn kết giữa Giáo hội, triều đình và dân chúng. 

Tín ngưỡng Di Lặc thực sự thể nhập vào đời sống văn hóa con người Trung Hoa, có những lúc tưởng chừng như vượt ngưỡng ra khỏi ý thức của con người. Sử sách đã ghi vào năm 689, Võ Tắc Thiên sắc cho ngài Pháp Lãng ngụy tạo Đại vân kinh, cho rằng Võ hậu là Di Lặc hạ sinh. Sau đó, các thành phần chống đối nhà Đường lợi dụng tín ngưỡng Di Lặc mà cử binh làm loạn như Vương Hoài Cổ  vào năm 713-755, tự xưng Tân Phật (Phật Di Lặc) đã bị bắt; đời Nam Tống, Bạch Liên giáo trà trộn vào Di Lặc giáo, giả mượn danh Di Lặc hạ sinh để mưu phản. Sau đời Đường, tín ngưỡng này không còn thịnh hành như trước nữa dưới sự bảo hộ triều đình, hình ảnh biểu tượng cho ngài Di Lặc ban phúc lộc như vắng đi, nhưng nó lại thâm nhập vào lòng quần chúng qua tín ngưỡng dân gian truyền thống một cách sâu đậm. Nó không chỉ dừng lại ở Trung Quốc mà bắt đầu lan tỏa sang Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam và thịnh hành cho đến ngày nay. 

Các chùa chiền tự viện đều tôn trí ở giữa sân chùa, hay ở tiền sảnh chánh điện tượng Bồ tát Di Lặc thật lớn với hình tướng hoan hỷ, miệng nở nụ cười thể hiện lòng từ vô lượng, ban phúc lành cho chúng sinh trong ý nghĩa như tên gọi khác của Ngài là “Từ Thị”, bụng thật lớn trong tư thế ngồi chễm chệ, hoặc vai mang túi đãy thật lớn, có khi trong tư thế ngồi có sáu hài nhi lục tặc quấy phá mà Ngài vẫn cười. Vào dịp Xuân về, nhất là giờ khắc giao thừa cũng là ngày lễ vía của Ngài, chư Tăng và Phật tử làm lễ đầu năm xướng danh hiệu Ngài và đảnh lễ cầu phúc. Sau đó là lễ hái lộc được diễn ra rất trang nghiêm. Chư Tăng kết “cây lộc” để sau lưng Ngài với những phong bì đỏ mà trong đó chứa các câu kinh Pháp Cú, Thập Thiện, hay những lời Phật dạy ngắn gọn, hoặc những tờ  vàng, bạc (đơn vị tiền tệ có giá trị biểu trưng tài lộc) như khích lệ sự tu hành và khuyến giáo làm các việc công đức để cả năm được an khang, thịnh vượng. “Hái lộc” đầu năm trở thành “hái phước”, thực thi hạnh lành kể từ giờ phút thiêng liêng này. Vì niềm tin lớn đối với Ngài mà người đi lễ chùa đã tự mình xoa tay lên tượng rồi xoa vào đầu mình như cầu mong Ngài ấn chứng và ban phúc lành. Tập tục lên chùa “hái lộc đầu năm” này trở thành lễ hội văn hóa không thể thiếu đối với người dân các nước phương Đông hiện nay. 

Tại Nhật Bản, dân chúng xem hình ảnh ngài Di Lặc là Bố Đại được đồng hóa là một trong bảy vị phúc thần của dân tộc Nhật; ở Việt Nam có khi người dân còn xem Ngài là Thần Tài, nhà nào cũng thờ, hoặc tôn trí nơi phòng khách để chiêm ngưỡng, cầu mong phúc lộc, bình an cho cả gia đình. Trên hết, hình ảnh ngài Di Lặc hay Bố Đại được thể hiện vào trong nếp sống thường nhật của người dân. Tuy không có sự hóa trang thành ngài Bố Đại hay Di Lặc đi trên đường phố để ban phúc lành, khuyến giáo làm thiện, nhưng hình ảnh các Ngài được thể nhập và hóa hiện bằng việc Phật tử động viên nhau làm việc phước thiện và sống hoan hỷ, tùy thuận, tùy tâm mãn nguyện theo tinh thần mà hạnh nguyện ngài Bố Đại tiền thân ngài Di Lặc đã từng sống, từng làm: 

 “Đại đỗ năng dung, dung thế gian nan dung chi sự 

 Hàm nhan vi tiếu, tiếu thế gian nan tiếu chi nhân” 

(Cái bụng lớn có thể dung chứa những việc mà người đời không dung chứa được. Miệng nở nụ cười mỉm với những điều mà người đời khó có thể mỉm cười được). 

Cuộc sống thật nhiệm mầu. Con người với Phật tính vốn sẵn, luôn có những khả năng vô hạn để làm hóa hiện những ước nguyện tốt lành cho mình, cho tha nhân. Mọi người vẫn mong ước hàng ngày luôn gặp ngài Bố Đại hay Di Lặc phân thân nghìn ức thị hiện khắp mọi phố phường. Nhất là những ngày lễ hội đầu năm, ai cũng được Ngài phân phát quà lộc biểu trưngcho niềm tin và lẽ sống, được góp sức làm công đức để tu thân hướng thiện. Có vậy, mỗi khi Xuân về Tết đến, mọi người mới cảm nhận được nguồn hạnh phúc an lạc trong Chánh pháp. 
 
Thích Phước Đạt
(Giác Ngộ 366)


CÀNH MAI VÔ TƯỚNG
Hạo Nhiên

Tôi  thả từng bước chân nhẹ nhàng trên nền cát mịn giữa lối mòn huỳnh mai vào một buổi sáng cuối Đông. Nắng mới lên. Những tia nắng vàng xuyên qua kẽ lá, rơi xuống mặt đất rực lên óng ả. Những giọt sương mai còn đọng lại đầu cành cây, ngọn cỏ, đón nắng long lanh. 

Gió đông nhẹ thổi, mơn trớn làn da mát rượi. Hít một hơi thở thật sâu, không khí trong lành tràn ngập lồng ngực, mát lạnh. Vườn mai ươm đầy nụ, e ấp. Đài hoa xanh mượt mà. Những chiếc lá non mỏng manh xanh mơn mởn. Xuân đã về! Dừng lại bên một gốc mai đầy nụ, rón rén ngắt đi những chiếc lá già còn sót lại, hương trầm nhẹ đưa trong gió, lòng tôi chợt nao nao. 

"Ngủ dậy mở cửa sổ  
A, Xuân về rồi đây  
Kìa một đôi bướm trắng  
Nhằm hoa phơi phới bay”. (Trần Nhân Tông) 

Vui quá! Tết quá! 

Ngồi xuống bên một gốc mai, tôi ngắm nhìn từng chùm nụ hoa căng tròn mũm mĩm sẵn sàng chờ khoảnh khắc giao thời bừng nở rộ. Nắng vàng trải khắp vườn mai. Hương xuân nhè nhẹ. Một cảm giác thân quen, gần gũi như quá khứ ngàn năm chợt tìm về gặp lại trong giây phút hiện tại không khứ lai. Tôi khẽ ngâm nga mấy vần thơ: 

"Xuân khứ bách hoa lạc 
Xuân đáo bách hoa khai…” 

   Mấy câu thơ nghe đều đều nhịp điệu, nhịp chảy của thời gian. Đó cũng là thực tại. Dòng thực tại luôn trôi chảy trong từng sát na. Xuân đến hoa nở, xuân đi hoa tàn, một hiện thực duyên sinh vô ngã. Tất cả vạn vật trong vũ trụ đều nằm trong dòng hiện thực sinh động ấy. Cái thực tại mà chúng ta, những phàm phu chưa giác ngộ, ai cũng hơn một lần xốn xang bận tơ lòng: 

"Thuở nhỏ chưa từng rõ sắc không  
Xuân về hoa nở rộn trong lòng…”
(Trần Nhân Tông) 

Đây có phải chăng là dấu hiệu mất thăng bằng? Mất thăng bằng giữa chủ thể và đối tượng, giữa cái ‘ta’ với ngoại cảnh? Quả vậy, vì chưa rõ sắc không, tức là chưa nhìn thấy chân tướng của sự vật hiện tượng, nên chi hoa xuân chưa nở mà hoa lòng đã rộ, vì thật thấy có mùa Xuân đến và sẽ có mùa Xuân đi, vì sợ rằng tuổi trẻ cũng như mùa Xuân ấy, sẽ tàn. Nên bận tơ lòng. Cho đến khi: 

"Diện mục chúa Xuân nay đã tỏ 
Ngồi ngắm xuân rơi  từng cánh hồng”
(Trần Nhân Tông) 

Thì ra xuân đến xuân đi, hoa tàn hoa nở ấy chính là “muôn vật chuyển hóa, thường trong vô thường”. Sự khám phá ấy đã tạo ra một cấu trúc mới giữa nội tâm và ngoại cảnh, một cấu trúc thăng bằng giữa chủ thể và đối tượng. Cho nên cái tâm lý "xốn xang bận tơ lòng" được thay bằng thái độ điềm nhiên ‘ngồi ngắm xuân rơi". Rồi trong thế giới điềm nhiên tĩnh lặng ấy, thiền sư phát hiện ra: 

"Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận  
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”.

Nếu như bốn câu mở đầu Xuân khứ bách hoa lạc/ Xuân đáo bách hoa khai/ Sự trục nhãn tiền quá/ Lão tùng đầu thượng lai diễn tả chân lý tương đối, có người đã nhận định là bài giáo lý về vô thường, thì đến hai câu này diễn tả chân lý tuyệt đối, bất sinh bất diệt. Giả thiết rằng bài thơ chỉ dừng lại ở bốn câu mở đầu, ở cái bi, cái cảm, cái đau, cái tiếng kêu nức nở bật lên từ cuộc sống: “trước mắt việc đi mãi, trên đầu già đến rồi”, thì đó chỉ là bài thơ hay như bao bài thơ khác đã từng hay, vì nó tả thực. Tả thực một cách rất thơ về cuộc sống. Nhưng thiền sư, cũng sống trong cõi mênh mông vô thường đó, cũng cùng đau, cùng khổ, cùng thăng trầm với kiếp người, với vận mệnh đất nước, họ đã tiếp xúc được với thực tại, và đã khám phá ra đằng sau những cánh hoa tàn rụi khi xuân đi ấy vẫn hiện hữu một cành mai bất diệt: 

 "Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết  
Đêm qua sân trước một cành mai”

Cành mai hiện hữu vào đêm qua ấy, giữa muôn hoa rơi rụng, giữa mùa Xuân đã đi qua, hẳn là một cành mai vô tướng, tức đồng nghĩa với Như Lai (Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai). Phải, chỉ có sự hiện hữu phi tướng, vô ngã ấy mới tồn tại mãi ngoài định luật thịnh suy. Quả nhiên, thiền sư đã nhìn thấy cái không thể thấy. 

 Hiện thực của cuộc đời đã được thiền sư cảm nhận một cách rất sâu sắc và tinh tế. Cái bi, cái hài được lột tả một cách tài tình: biết bao ước mơ, bao hy vọng, bao dự tính, lo toan còn ngổn ngang bề bộn, ấy thế mà, trên đầu già đã đến rồi. Đó không phải là nỗi bất hạnh của một kiếp người sao? Quá bi đát, phũ phàng! Thất vọng, chán nản là tâm lý hiển nhiên của con người khi đối diện với sự thật của cuộc đời, khi trực diện với ranh giới mong manh giữa cái sống và cái chết, nhất là với những ai chưa làm được gì cho xã hội. Ai sẽ là người cứu lấy những linh hồn đang bơ vơ, hụt hẫng, hoang mang, sợ hãi ấy? May thay, tự trong sâu thẳm tâm thức, lòng từ bi rạt rào bừng dậy cuốn phăng đi vị kỷ hẹp hòi, bằng tất cả lòng vô úy, thiền sư đã gióng lên hồi chuông thức tỉnh: "đêm qua sân trước một cành mai"!

Quả nhiên, hồi chuông ấy đã chuyển hóa từ phạm trù cái bi đến phạm trù cái đẹp. Hãy nhắm mắt lại để nhìn mới thấy được, bởi đó là cành mai vô tướng. Cành mai ấy chỉ được nhìn thấy bằng một năng lực nội tại thâm sâu, hùng hậu của chủ thể tâm linh. Bấy giờ, cái bi không những được chuyển hóa thành cái đẹp mà còn được chuyển hóa thành phạm trù trác tuyệt. Cách nhìn ấy là cả một hệ thống cảm nhận, miêu tả, thể nghiệm và giải thoát cho cuộc đời.

Hạo Nhiên
(Giác Ngộ 366)


TRÔNG TẾT
Minh Phúc

Tự nhiên lại mang tâm trạng của một người trông Tết, ở cái tháng đã gần đến ngày sắp Tết. Đó là tôi nói thiệt thà lòng mình, khi bất chợt hứng ngay cơn gió ngày chạp táp lờn trên mặt. Gió làm tôi trông Tết quá. 

Trông Tết. Thiệt. Nhưng không phải là trông như ngày bé đợi Tết để có bánh mứt hay quần áo mới, cũng không phải trông bao lì xì... Nỗi chờ mong này là nỗi chờ mong của người xa quê lâu, chờ Tết về để thỏa cơn hội tụ.

Khi nói chuyện trông Tết cho cái tâm trạng đang sẵn cồn lên với nỗi nhớ chờ sẵn bên này, tôi cứ luân phiên những giấc mơ. Bữa, thấy mình ở giữa liếp rẫy ở nhà mình. Cứ liên tục và bồn chồn hỏi má mấy trái bí kia đã tới kỳ hái chưa, luống cải đã vừa ngồng không vậy? Hỏi và hít liên tiếp cái mùi đồng. Thấy Tết đi le te theo ngọn đám cỏ bồng bồng vừa trổ mấy cành bông vàng sơm sớm. Tết ngỗng mặt í ới trong tiếng gọi xóm giềng mùa dọn đồng, mùa tát mương, mùa lặt cây, chăm cảnh...

Có khi nhớ Tết chỉ bình dị như nhớ một món ăn. Trời ạ, cái “món Tết” này chỉ ăn có mỗi một lần trong năm (dù có thể đã ăn bao nhiêu lần trong đời) nhưng không làm người ta ngớt hoài vọng.

Hoài vọng để về nhà. Về nhà để nghe mùa thương tháng nhớ đang len len trong da trong thịt. Để nghe ngấm ngấm trong lòng cuộc giũ áo phong sương những vướng bận suốt một năm miệt mài. 

Tết. Bạn có thể nếm ngọt bùi. Bạn cũng có thể nếm đắng cay. Rồi bạn có thể nếm luôn cái vị nhàn nhạt ngoài ý muốn. Nhưng dù nếm ở ẩm vị nào, vẫn thấy rằng không thể tách rời cuộc đời của bạn, kể từ lúc bạn có mặt nơi phù thế này.

Bạn sẽ thấy ngọt bùi trong mắt người hạnh phúc, ánh mắt rạng tươi mùa Tết. Bạn sẽ nghe nhắc Tết bằng thái độ trìu mến, gụi gần như xưa cũ sẽ về cùng xưa cũ. Bạn sẽ nếm món Tết: giòn tan như củ dưa kiệu muối; cay nồng như hũ rượu gạo má nấu dành riêng cho Tết; xanh miết như luống cải ngồng của ba; ngon lành mỡ màng như nồi thịt kho Tàu đợi bạn ở nhà chị Hai vậy...

Rồi thì đi, đứng, nằm, ngồi hay phải làm bất cứ việc gì, trong tận chiều sâu của lòng, bạn nhớ. Món Tết của bạn còn có tiếng gõ bột bánh in muộn nhà ai trong xóm, tiếng thình thịch quết vội mấy cái bánh phồng, và lép bép tiếng lửa bén cây củi má vừa bỏ thêm vào bếp lò cho nồi bánh tét đun suốt qua đêm...

Nhưng món Tết hạnh phúc này rồi cũng có thể chỉ còn là quá vãng, khi bạn bỗng nhiên từ nơi xa không thể quay về đón với gia đình một tối giao thừa. Món Tết trở nên sậm sựt, ứ nghẹn nơi cổ bạn. Lúc này lòng bạn đang trống rỗng bởi Tết bạn phải thấm một cô đơn.

Món Tết cô đơn dành cho người cô đơn, dường như nhân quả cũng không rảnh tay soạn thêm giúp bạn bất cứ một gia vị nào. Bạn chợt thèm quá vị ngọt của món mứt dừa mà chính cô em gái bé bỏng khéo tay của bạn năm nào cũng siêng năng phơi phơi xào xào. Bánh mứt chợ búa xa lạ đem về cũng không sánh được. Bạn ăn nó vì cái tình của cô em dành cho nó dễ thương quá. Bạn thèm quá cái bao lì xì ít ỏi lấy lộc của má, thèm luôn cái mùi thuốc vấn ba hút tỏa khói mịt mù đêm đón giao thừa... Ờ, thì thèm... rồi chợt nhận ra mình không thể dứt ra được khỏi Tết một cách dễ dàng như là bạn vẫn tưởng.

Món Tết năm nay đoan chắc sẽ có quá nhiều sậm sựt, khi cơn bão đầu đông quét qua mấy vùng, quét luôn trong lòng người niềm hoài mong Tết nhứt. Món Tết sậm sựt với biệt ly, tan vỡ và mất mát. Tết có vá lành nổi chăng hàng ngàn ngôi nhà ngửa mặt ngó sao trời, làm lành lại nổi mấy chiếc thuyền đánh cá bung hết ván. Có dựng dậy nổi mấy vườn sầu riêng gãy ngọn, hay gom về đủ mấy lồng tôm cá đang chẳng biết trôi dạt về đâu...

Năm mới sẽ đi lướt qua trong cái vị nhọc nhằn. Món Tết bỗng chợt ê hề khi bánh chưng, dưa cải, thịt kho Tàu trở nên xa xỉ. Còn cái tâm con người ta thì đang hoang hoải mùa xa, hoang hoải trong giấc mơ năm mới không có điểm dừng nào.

Nhưng, không thể lan man hoài với những nỗi buồn. Dù sao Tết cũng ở trước ngõ. Tết xôn xao trên cây mai trong sân nhà của bạn. Và đâu đó, bạn đã nghe mùi trầm hương cho thiêng liêng đón tiếp giao thừa.

Thôi thì món Tết năm nay, cùng uống luôn cả vị cay chén đắng. Ngọt ngào sẽ tới khi bạn quyết tâm dọn sạch lòng hết những sân mê.

Minh Phúc 
(Nguyệt san Giác Ngộ tết Đinh Hợi)


ĐÂU LÀ MÙA XUÂN
Hạnh Chiếu

Trà ấm. Sương lạnh. Chỉ thêm một nén hương thơm nữa là rất đủ để thân tâm tĩnh tại vào những buổi khuya cuối Đông như vầy. Xứ Long Thành, tháng Hai tháng Ba ngồi thiền nóng lắm. Chỉ những tháng sắp sang xuân, trời mát, ngồi thiền nghe dễ chịu hơn. Tôi vẫn ngồi đây, nhưng không phải là cái ngồi năm xưa của Đấng Điều Ngự. 

 … Người vẫn ngồi đây, 
Hơi thở bặt từng tiếng vọng, 
Tâm tư khô từng nghiệp bóng, 
Bàn tay ghì từng đợt sóng, 
Nhãn quang quét từng thoáng mộng, 
Từng vô minh rơi rụng dưới sân đầy. 
(Thơ Trúc Thiên) 

Hùng tráng quá. Trí dũng quá. Đức Phật của chúng ta đó. Ngài mới thật sự là người biết thương mình, thương đời. Nhiều năm trôi qua kể từ khi Thế Tôn nhập diệt, chúng ta vẫn tu theo Ngài, vẫn ngồi tĩnh tọa hàng đêm trong thiền đường hay khép mình yên vắng nơi một góc thiền phòng, nhưng chưa bao giờ thực sự thiền như Ngài. Từng tiếng vọng, từng nghiệp bóng, từng đợt sóng, từng thoáng mộng… cứ như những đợt triều dâng thay nhau xối giội xuống tâm tư, nghiệp thức chúng mình, gây không biết bao nhiêu thảm họa đáng buồn. 

Khi nhìn những đợt thiên tai bão lụt đi qua, càn quét hết tất cả, để lại một trường đổ nát hoang tàn cho dân mình, ta đau lòng. Thế nhưng có những trận cuồng phong dữ dội, phiền não còn hơn cả giông tố ngoài biển khơi, thổi tạt vào đất tâm, cuốn phăng chủng tử thiện lành, làm ngả nghiêng sụp đổ cả tòa Như Lai đang ngự ở trong ta…, mình vẫn tỉnh bơ. Phật bảo cái khổ vô thường bên ngoài chỉ khổ trong một đời, cái khổ vọng động vô minh, gây tạo nghiệp nhân đi trong luân hồi sanh tử không biết khổ đến bao giờ. Thật đáng kinh sợ!  

Sao ta không thể tha thứ, chia sẻ cho nhau những buồn vui cõi tạm, sao ta không thể buông bỏ cái giả ngã nơi thân tâm trường mộng đảo điên, để nhận lấy cái vĩnh cửu an hòa. Buông xuống đi. Bỏ hết đi. Cuộc đời có bao lâu, sống cho thật thanh thản nhẹ nhàng. Tôi vẫn thường tự nhủ với mình như thế. Là chúng sanh đồng phận, đồng nghiệp, chúng ta mới gặp nhau một chút nơi đây, vậy mà mình chẳng niệm tình nghĩ tưởng, giúp đỡ lẫn nhau, xóa hết muộn phiền. Thật tiếc quá! Cứ thương cho nhiều và ghét cho lắm, để rồi đùng một cái vô thường ghé đến, ai mà không nhắm mắt xuôi tay. Lúc đó có tiếc sao mình chẳng kịp nói lời phải đạo hay một câu sám hối ăn năn, thì cũng đã muộn. Thức thần theo nghiệp, biết về đâu? 

Thiền sư Đại Giác trong bài Tỉnh Hành Văn đã ân cần nhắc nhở: “Ôi! Thời gian không hẹn, mạng người khó bảo tồn. Nguồn tâm nếu đục, đường trước lại mờ, cơn bệnh chợt đến, vô phương chống đỡ. Khi ấy lo lắng ăn năn thì đã chậm mất. Hận mình sớm chẳng lo tu, đến sông không thuyền. Chưa lúc nào bằng lúc này. Mỗi người chúng ta hãy tự nỗ lực!”. Đọc đoạn văn này, tôi thật sự xúc động đau xót. Thương cho mình quá đi. 

Mùa Xuân có đến hay không, chẳng quan trọng. Chỉ lòng mình có xuân hay không mới là chuyện đáng nói. Tâm an vui thì dù đất trời đang vào Thu hay sắp sang Đông, ta vẫn xuân như thường. Tâm bất an thì dù mùa Xuân đang đến ta vẫn cảm thấy không vui. Cho nên vun bồi đất tâm thật tươi tốt, sung mãn là việc cần yếu nhất của người con Phật. Như Lai suốt một đời giáo hóa chúng sanh không thấy mệt mỏi là nhờ ánh sáng giác ngộ soi chiếu từ tự tâm, phát ra vô lượng diệu dụng sâu mầu. Vì vậy nghi dung Đức Thế Tôn lúc nào cũng tỏa rạng ánh xuân, đượm thắm ý xuân, tràn ngập tâm xuân. Một trời xuân thăm thẳm mà chẳng chút can hệ đến bốn mùa đổi thay. Thế gian cúi đầu quy ngưỡng. Phạm thiên khép nép quay về. Thật là Đấng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, không thể không quy y. 

Đây là mùa Xuân lần thứ mấy, kể từ khi Thế Tôn thị hiện ra nơi đời? Chuyện đó không khó, có lịch tính rồi. Tôi muốn tự vấn chính mình, kể từ ngày vào đạo cho tới bây giờ, mình đã hưởng được bao nhiêu mùa Xuân? Hưởng thật trọn vẹn? Câu hỏi này nhất định sẽ làm tôi đau lòng. Nhưng tôi vẫn cứ hỏi, mãi mãi hỏi, hỏi cho đến bao giờ mùa Xuân thật sự lên tiếng… ở trong lòng. 
 
Hạnh Chiếu
(Giác Ngộ 366)


HẠNH PHÚC CHIA ĐỀU
GSTS. Nguyễn Chung Tú 

Hồi nhỏ, bố mẹ may cho mỗi anh chị em chúng tôi một bộ đồ mới để mặc Tết. Không may, năm đó, đã 23 tháng Chạp rồi mà thợ may chỉ xong được bộ quần áo cho ông anh tôi thôi, còn tôi... chưa có. Ông anh tôi lúc đó mới độ mười mấy tuổi mà đã có nhã ý... không vui mừng, không mặc thử bộ đồ mới, đề nghị cứ tạm cất nó đi, khi nào mọi người trong nhà đều có quần áo mới, mới thử đồng loạt. Tôi không bao giờ quên cái kỷ niệm cảm động đó của thời thơ ấu.

Tôi không thể nào sung sướng được, nếu mọi người ở chung quanh tôi không sung sướng”.Jean Paul Sartre (1905-1980)

Năm đó, tôi học cấp II ở trường Cao đẳng tiểu học Hà Nội. Trong lớp, có một bạn được bà mẹ vừa cho một đồng bạc để mua một cái mũ dạ Fléchet nhập từ Pháp, để diện vào dịp Tết. Không may, khi vào lớp, các học sinh phải để mũ ở cái giá ngoài hiên. Hết giờ học, lúc ra về, anh bạn... không thấy mũ đâu cả! Anh ta bật khóc, thầy Nguyễn Huy Thúy, cử nhân Sử Địa ở Montpellier (Pháp) về, đi qua thấy vậy mới hỏi lý do, rồi thầy nói: “Nín đi con, thầy sẽ cho con một đồng để con mua cái mũ khác trước Tết. Nhưng điều quan trọng hơn là con nên nhớ rằng trong đời con, con có thể mua được 400 cái mũ như thế”. Anh bạn tôi trả lời: “Cám ơn thầy, nhưng con không dám nhận. Mẹ con sẽ con một cho đồng nữa để mua cái mũ khác”. 70 năm đã qua mà tôi vẫn không quên giai thoại đẹp như một giấc mơ của thời Nghiêu Thuấn.

Chương trình giảng văn hồi đó cũng phụ họa vào công việc đức dục các thiếu niên chúng tôi. Điển hình là bài “Sống chết mặc bây” của nhà nho Phạm Duy Tốn - thân phụ giáo sư thạc sĩ Phạm Duy Khiêm (cựu sinh viên Đại học Sư phạm Paris) và Nhạc sĩ Phạm Duy - phê phán gay gắt ông tri huyện vẫn ngồi đánh bạc “bình chân như vại”, trong khi đê vỡ, lũ lụt, dân chúng chết đuối, mất tích, người còn sống thì lâm vào cảnh “màn trời, chiếu đất”. “Riêng mình sướng, không biết rằng dân khổ”.

Hồi tôi làm nghiên cứu sinh ở Pháp, tôi còn được chứng kiến mấy cảnh tượng “làm ấm lòng người” như sau:

+ Người đi đường thấy, một chiếc xe đạp dựng ở tường bị gió mạnh thổi đổ nghiêng xuống hè thì chạy lại dựng chiếc xe lên như cũ; ở nước khác, có khi người đi đường bị nghi là định ăn cắp xe và bị bắt oan!

+ Luật hình sự ghi rõ là “phải giúp đỡ người bị tai nạn”. Khi lái xe trên xa lộ mà có người ở vệ đường vẫy tay thì phải đậu lại; có khi người đó chỉ nhờ ta tới một garage kêu chuyên viên tới kéo xe hư của ông ta (hồi đó chưa có điện thoại di động như ngày nay); ta phải cố gắng giúp ông ta, nhất là khi ông ta cùng đi với vợ con; có khi người đó xin “quá giang” về một thành phố nào đó; ta cũng phải cố gắng giúp ông ta, ít ra là tới một thị trấn có taxi để ông ta có thể tiếp tục cuộc hành trình.

+ Một chiều Chủ nhật, tôi lái xe cùng với mấy người bạn đến thành phố Chartres, cách Paris khoảng 100km về phía Tây Nam, nổi tiếng có nhiều thắng cảnh. Bỗng một người đầm đứng trên hè kêu lên: “Pneu! Pneu!” (lốp xe, lốp xe).

Tôi vội dừng xe lại, xuống coi bốn bánh thì hóa ra một bánh trước bị xẹp! Trong khi một anh bạn nhanh nhảu mở cốp xe lấy bánh dự phòng để thay bánh cũ thì tôi tới cám ơn bà đầm. Bà ta cho biết: “Ở nước tôi, không cứu giúp người lâm nạn là một tội hình sự”.

+ Một hôm, tôi vào một tiệm thuốc Tây để mua kem đánh răng. Hồi đó đang có phong trào “kem đánh răng pha chất chlorophylle”. Tôi nói với chủ tiệm là một dược sĩ:

- Bán cho tôi một ống kem đánh răng có chlorophylle.

Ông chủ cười:

- Ông muốn mua “kem đánh răng có chlorophylle” hay “kem đánh răng thường”, loại nào tôi cũng có, cố nhiên loại thứ nhất đắt hơn loại thứ hai. Riêng tôi vẫn dùng loại thứ hai mà thấy nó chẳng kém gì loại thứ nhất, và tôi khuyên ông cứ dùng nó cho đỡ tốn tiền.

Ít khi tôi thấy một người bán hàng lại đứng về phe người tiêu dùng, hay tại ông ta là một trí thức đại học?

Sau khi giáo sư Georges Pompidou thôi làm Thủ tướng cho tổng thống De Gaulle vào cuối năm 1968, báo chí đăng tên ông trong một vụ tiêu cực ở Paris (sau xét ra chỉ là một sự hiểu lầm), Tổng thống De Gaulle mời ông tới Điện Elysée, trước hết là để chia sẻ nỗi lo âu của ông, sau nữa là để sẵn sàng minh oan cho cộng tác viên cũ của tổng thống.

Về nước, một hôm, tôi tới một tiệm phở nổi tiếng theo lời rủ của một ông bạn già. Nhà hàng vừa cho người phục vụ bưng hai tô phở khói nghi ngút tới, chúng tôi chưa kịp nhúng đũa thì một đứa bé, tay cầm một cái bát, tới trước mặt tôi, như đợi chờ.

Tôi hỏi:

- Có chuyện gì thế, con?

- Bác ăn hết phở, cho con xin nước, con đổ vào bát này... để húp.

- Tội nghiệp con quá, mà cũng tội nghiệp cả bác nữa; trong khi bác ăn mà con đứng chờ thế, bác nuốt sao trôi? Đây bác cho con năm ngàn, con ra bảo nhà hàng bán cho con một bát phở chỉ có bánh và nước, đừng lấy thịt khó tiêu.

Thường thường khi trong một nước có thiên tai, Chính phủ quyết định bãi bỏ các cuộc vui chơi, liên hoan trong một thời gian, trước hết để chia sẻ những nỗi đau khổ của đồng bào, sau nữa để dốc tâm cứu giúp các gia đình hoạn nạn.

Tiếp lời Jean Paul Sartre, tôi xin kết luận: “Chỉ có hạnh phúc chia đều mới thật sự là hạnh phúc”.
 
GSTS. Nguyễn Chung Tú
(Giác Ngộ Tết Đinh Hợi)


MÙA XUÂN MIÊN VIỄN 
HT. Thích Thanh Từ

Tất cả người trên thế gian đều thừa nhận một năm có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Mùa Xuân khí hậu ấm áp, cây cối đâm chồi nẩy lộc, mọi người đều vui mừng, nên nói mừng xuân, vui xuân hay chơi xuân. Nói tới mùa Xuân là nói tới sự vui tươi, hạnh phúc. 

Nhưng mùa Xuân theo thời gian dài lắm chỉ tròn ba tháng rồi cũng hết Xuân, tới Hạ, Thu, Đông. Cho nên cái vui con người chỉ hưởng một lúc nào rồi mất, nhường chỗ cho mùa Hạ nóng bức, mùa Thu buồn tẻ, mùa Đông ảm đạm thê lương.

Người tu chúng ta không thể chấp nhận vui xuân giới hạn theo thời tiết, cần phải có cái vui mãi mãi không mất, mãi mãi còn nơi chúng ta. Chúng ta phải tu như thế nào để hưởng được một mùa Xuân miên viễn?

Mùa Xuân miên viễn phát nguồn từ đâu? Chính Đức Phật Thích Ca là vị Giáo chủ đã chỉ cho chúng ta một mùa xuân miên viễn. Gần đây hơn, chính Tổ Bồ Đề Đạt Ma là người đem lại mùa Xuân miên viễn trong Đạo cho tất cả chúng ta. Tổ đã gieo rắc mùa Xuân ấy vào tâm hồn người tu thiền chúng ta như thế nào? Sau đây tôi dẫn câu chuyện Thiền, qua đó chúng ta sẽ nhận thấy mùa Xuân miên viễn thể hiện trong tâm hồn những người đã sáng được lẽ Đạo và sống với Đạo như thế nào?

Một vị Tăng hỏi ngài Động Sơn Lương Giới:

- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang?

Ngài Động Sơn đáp:

- Đợi dòng nước Động Sơn chảy ngược, ta sẽ vì ông nói.

Nước ở Động Sơn là nước trong khe động trên núi chảy xuống, có lúc nào chảy ngược trở lên đâu? Nếu nước ở sông ở biển khả dĩ còn có chảy lên chảy xuống, còn nước suối trên động núi không bao giờ chảy ngược. Tại sao ngài Động Sơn bảo đợi dòng nước Động Sơn chảy ngược sẽ vì ông nói? Câu đó đã nói gì về ý Tổ sư từ Ấn Độ sang? Tổ sư đây là Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Những vị học và tu thiền thường thắc mắc không biết Tổ Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Hoa có ý gì đem truyền dạy cho chúng ta? Ý đó như thế nào? Ngài Động Sơn trả lời như vậy có dễ hiểu không? Biết ý Tổ sư từ Ấn Độ sang chưa?

Sau này Thiền sư Nghĩa Thanh ở Đầu Tử có làm bài kệ tụng về điều đó:

Cổ nguyên vô thủy nguyệt hà sanh,
Mãn ngạn Tây lưu nhất phái phân.
Thông Lãnh bãi tuần Hùng Nhĩ mộng,
Tuyết đình hưu thoại Thiếu Lâm xuân.

Dịch:

Nguồn xưa không nước nguyệt đâu sanh,
Một mạch dòng Tây chảy ngập tràn.
Thông Lãnh hỏi rồi Hùng Nhĩ mộng,
Tuyết sân thôi nói Thiếu Lâm xuân.

Qua bài kệ này, ngài Nghĩa Thanh đã nói gì về câu đáp của ngài Động Sơn?

Cổ nguyên vô thủy nguyệt hà sanh,

Dòng suối xưa nếu khô cạn thì làm sao bóng mặt trăng rọi ở dưới. Dòng suối có nước trong, chúng ta mới thấy được bóng mặt trăng ở dưới đáy suối, nếu dòng suối đã khô thì không thấy bóng mặt trăng.

Mãn ngạn Tây lưu nhất phái phân.

Mãn là đầy, ngạn là bờ. Dòng suối xưa kia vẫn tràn cả bờ từ phương Tây trôi mãi chia ra một mạch. Ở đây dường như có sự mâu thuẫn. Câu trên nói dòng suối khô cạn không có bóng mặt trăng. Câu dưới lại nói dòng suối từ phương Tây chảy lại tràn đầy cả bờ rồi chia ra chảy mãi. Như vậy ý nói gì? Câu đầu nói dòng suối không nước tức là không bóng trăng để chỉ câu đáp của ngài Động Sơn. Đợi dòng suối chảy ngược, tôi sẽ vì ông nói.

Câu hai: Dòng suối đó không có bóng mặt trăng tức là khô cạn. Tuy nói cạn mà không cạn vì nó vẫn chảy tràn cả bờ và trôi mãi cho tới ngày nay.

Đến hai câu sau rất là đẹp:

Thông Lãnh bãi tuần Hùng Nhĩ mộng,
Tuyết đình hưu thoại Thiếu Lâm xuân.

Ở núi Thông Lãnh không còn thưa hỏi nữa, trên núi Hùng Nhĩ chỉ là giấc mộng thôi. Là ý nghĩa gì? Tổ Bồ Đề Đạt Ma khi tịch tại Thiếu Lâm, nhục thân ngài được nhập tháp trên núi Hùng Nhĩ. “Thông Lãnh bãi tuần” tức là ở Thông Lãnh không còn thưa hỏi nữa, Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã hết duyên giáo hóa ở Trung Hoa. Nhục thân ngài nhập tháp trên núi 

Hùng Nhĩ chẳng qua là một giấc mộng.
Tuyết đình hưu thoại Thiếu Lâm xuân.

Tuyết đình là nơi sân tuyết, khi Tổ Huệ Khả đến hỏi đạo với Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Tổ Đạt Ma ngồi xoay mặt vào vách lặng yên, Tổ Huệ Khả đứng ngoài sân, mùa Đông tháng Chạp ở miền Bắc Trung Hoa tuyết xuống ngập đầu gối mà ngài Huệ Khả vẫn đứng trơ nhìn thẳng vào Tổ, mặt không đổi sắc. Tổ thương tình xoay lại hỏi:

- Cầu việc gì mà chịu khổ hạnh vậy?

- Con xin ngài dạy cho pháp môn cam lồ.

Từ đó về sau Tổ mới nhận ngài là đồ đệ. Khi thầy trò còn thưa hỏi qua lại là lúc Tổ còn duyên giáo hóa. Khi Tổ Huệ Khả không còn thưa hỏi nữa tức là ngài đã đạt đạo, thấy được chân tướng mà Tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền dạy, lúc ấy ở Thiếu Lâm hoàn toàn là một mùa Xuân. Nên nói, trước sân đầy tuyết không còn thưa hỏi nữa, núi Thiếu Lâm hoàn toàn là một mùa Xuân; mùa Xuân miên viễn, mùa Xuân không còn bị thời gian chi phối, Xuân mãi mãi, không bao giờ có vẻ ảm đạm của Thu, lạnh lẽo của Đông nữa. Muốn được mùa Xuân miên viễn phát xuất từ Thiếu Lâm, phải qua một cơn tuyết ngập tới gối, chớ không giản dị như những vị hiện giờ mong ước. Vừa được ấm no sung túc vui cười, vừa mong ước được mùa Xuân Thiếu Lâm, chắc chắn là không được.

Nếu ngài Huệ Khả không đứng lạnh ngoài tuyết trước sân Thiếu Lâm thì Tổ Đạt Ma đâu có trao đèn cho Tổ Huệ Khả. Khi đủ khả năng, đủ sức nhận rồi mới trao. Nhưng trao mà không trao. Trao đèn cho người lúc họ đi đêm, nếu sáng ngày thì họ đâu có cần nữa. Vì vậy nơi chúng ta nếu không phát sáng được cái vô sư trí thì dù thầy dù bạn có muốn cho chúng ta sáng, sáng cũng không nổi. Cái học ngôn ngữ lý thuyết nơi thầy nơi bạn không cứu được cái mê của chúng ta. Muốn cứu được cái mê của chúng ta, chính vô sư trí phải phát. Khi nào phát được vô sư trí, lúc đó mới được trao đèn. Trao đèn là trao như vậy, nên gọi là giáo lý tối thượng. Còn nếu vô sư trí chưa phát mà trao cũng vô ích thôi. 

Trên đường đạo, chúng ta phải chịu đựng những gian nan khổ sở mới hưởng được một nguồn vui không bao giờ cùng tận. Người tu phải đối diện với sự lạnh lẽo cô đơn, từ bỏ mọi sự ấm áp của thế tình, lúc đó chỉ có nguồn Chánh pháp sưởi ấm lòng chúng ta thôi. Nếu chúng ta tu mà muốn được tình đời sưởi ấm mãi, chắc rằng chúng ta phải chịu lạnh muôn kiếp. Chúng ta phải cam lạnh với tình đời, phải buông xả, chỉ còn trơ trọi một con người, khi ấy chúng ta mới được sưởi ấm bằng một nguồn vui miên viễn của mùa Xuân Thiếu Lâm.

Dòng suối từ Tây chảy sang và chảy mãi đến Việt Nam chúng ta, dòng suối đó đến nay vẫn còn. Chúng ta có hưởng được hay không là do sức chịu đựng và sức nỗ lực của chúng ta, cũng như sau một cơn tuyết lạnh rồi chúng ta mới thấy được một mùa Xuân ở Thiếu Lâm. Đó là ý nghĩa bài kệ của ngài Nghĩa Thanh.

Lời chúc xuân đầu năm của tôi với Tăng Ni và Phật tử, tôi xin nhắc lại lời của người xưa:

Bất đạp kim thời lộ,
Thường du kiếp ngoại xuân.

Tức là: Không giẫm trên con đường hiện thời, thường dạo một mùa Xuân kiếp ngoại. Kiếp ngoại xuân là gì ? Kiếp là chỉ cho thời gian, như nói một đời, một kiếp. Hoặc trong kinh nói tiểu kiếp, trung kiếp, đại kiếp chỉ cho thời gian dài thăm thẳm. Kiếp ngoại xuân là xuân vượt ngoài thời gian, năm, tháng. Nói tới xuân là nói tới thời gian. Nhưng nếu chúng ta không giẫm trên con đường hiện thời là chúng ta hưởng được mùa Xuân ngoài thời gian, còn gọi là mùa Xuân miên viễn. Vì sao không đạp trên con đường hiện thời? Con đường hiện thời chỉ cho con đường mà chúng sanh đang tranh đua chen lấn nhau đi, đó là con đường danh, lợi, tài, sắc v.v… Nếu chúng ta không đạp trên những con đường đó thì chúng ta sẽ hưởng được một mùa Xuân kiếp ngoại, mùa Xuân miên viễn không còn bị lệ thuộc thời gian. Hai câu này chúng tôi tạm dịch theo thể văn lục bát:

Chẳng đi theo bước đương thời,
Mùa Xuân kiếp ngoại thảnh thơi dạo hoài.

Hôm nay ngày đầu năm, chúng tôi mong rằng tất cả Tăng Ni cùng Phật tử sẽ hưởng một mùa Xuân miên viễn. Làm sao một đời này chung ta luôn luôn được an vui, không còn cảm thấy khổ đau vì ngoại cảnh, vì cái đuổi xua của quỷ vô thường, mà chúng ta hằng vui trong một mùa Xuân kiếp ngoại hay nói cách khác là một mùa Xuân miên viễn.
 
HT. Thích Thanh Từ
(Giác Ngộ 366)
 
 
 

Tuyển Tập Xuân
Thư Viện Hoa Sen