NIỀM VUI
ĐẦU XUÂN
TT.
Thích Nhật Quang
Hôm
nay là ngày Tết Nguyên Đán, cũng là ngày kỷ niệm đức Phật
đương lai Đại Từ Tôn Di Lặc. Lâu nay theo truyền thống
của Thiền viện, từ những năm ở Chân Không - Vũng Tàu,
trong những ngày lễ này, Hòa thượng Tôn sư thường nhắc
nhở việc tu hành. Đồng thời Ngài nói công hạnh của chư
Phật, Bồ-tát để chúng ta hiểu, nhớ và noi theo tu hành được
kết quả như các Ngài.
Thể
theo truyền thống đó, trong ngày lễ trọng đại này tôi nêu
lên một vài điểm để huynh đệ chúng ta cùng ý thức nỗ
lực tu hành. Vừa rồi, tất cả huynh đệ đã cùng nhau vân
tập trên Chánh điện, làm lễ vía đức Phật Di Lặc. Người
ta thường đồn đãi nhắc nhở “tu mau kẻo trễ”, vì Hội
Long Hoa đã mở rồi. Nhưng thật ra chẳng ai biết hội Long
Hoa thế nào thì làm sao có thể đến dự được! Hội Long
Hoa là pháp hội của Phật Di Lặc. Theo lời huyền ký của
đức Thích Ca Mâu Ni, sau khi đức Di Lặc thành đạo dưới
cội Long Hoa, Ngài thuyết pháp ở đây độ vô lượng vô biên
đại chúng.
Các
vị khuyên chúng ta “Tu mau kẻo trễ” thì hay, nhưng quan niệm
về đức Phật tương lai như thế là không đúng với kinh
tạng đã nói. Đức Phật Di Lặc ra đời cũng trong thế giới
này, nhưng qua kiếp tăng và giảm mới. Bây giờ thế giới
chúng ta đang trong kiếp giảm, cứ mỗi kỷ (100 năm) giảm
một tuổi thọ. Cứ thế giảm dần cho tới chừng nào con
người chỉ còn sống 10 tuổi thôi thì chúng ta thọ nạn tiểu
tam tai. Qua hết nạn này, tuổi thọ chúng sanh bắt đầu tăng
trở lại. Mỗi kỷ tăng một tuổi, cứ thế tăng dần từ
10 tuổi cho đến 84.000 tuổi, rồi lại giảm cho tới 80.000
tuổi thì đức Phật Di Lặc mới đời.
Hiện
nay tuổi thọ trung bình của chúng ta khoảng 60, 70 tuổi. Như
vậy tính từ đây đến lúc còn 10 tuổi đã là rất lâu,
huống là tuổi thọ tăng lên từ 10 tuổi cho đến 84.000 tuổi,
rồi lại giảm xuống tới 80.000 tuổi thì thôi không biết
bao lâu mà nói. Thế nhưng vẫn có nhiều người tin và đồn
rằng năm 2000 vừa rồi tận thế, hội Long Hoa ra đời! Nhưng
quí vị có thấy tận thế chưa, hội Long Hoa ra đời ở đâu?
Phật tử học Phật phải chánh tín, không nên tin càng tin
bậy làm sai lệch giáo lý Phật dạy.
Vào
lúc tuổi thọ của con người chỉ còn 10 tuổi tức vào giai
đoạn cuối của kiếp giảm thì chúng sanh trong thế giới
này phải chịu nạn tiểu tam tai. Đó là nạn cơ cẩn, nạn
dịch khí, nạn đao binh. Theo Du Già Sư Địa, lúc nhân thọ
giảm còn 30 tuổi, có nạn cơ cẩn tức đói khát kéo dài
hơn 7 năm. Thời gian này rất lâu mới có một cơn mưa, ngũ
cốc không sanh loài người chết vô số, xương trắng đầy
đồng. Qua loạt chết chóc kinh khủng này, những kẻ còn sống
sót khởi lòng nhàm chán, ăn năn sám hối, tai nạn đó mới
dứt. Lúc nhân thọ giảm còn 20 tuổi, do loài người lui sụt
tâm nhàm chán ăn năn trước kia, lần lần làm ác nên có tai
nạn dịch khí tức bệnh truyền nhiễm nổi lên trải qua hơn
7 tháng. Thây chết ngổn ngang khắp đường sá đồng ruộng,
không ai chôn cất. Khi ấy mọi người lại ăn năn nghiệp
ác mình đã tạo nên phải chịu quả khổ như vậy, mới khởi
lòng sám hối, nạn dịch khí tiêu mất. Rồi tới khi nhân
thọ còn 10 tuổi, nhân loại dần dần quên những cảnh khổ
trước, trở lại tạo thập ác thêm nhiều. Bấy giờ có tai
nạn đao binh nổi lên. Trước tiên, các nước đem binh đánh
giết lẫn nhau, trong gia đình cha mẹ, anh em, vợ chồng luôn
tranh cãi xào xáo với nhau. Đến lúc kiếp mạt, thế lực
của nghiệp ác mạnh mẽ cùng cực, trong vòng 7 ngày, loài
người như mê cuồng, tay cầm đến cây, gậy, ngói, đá…
những thứ ấy đều hóa ra đao kiếm, không luận thân sơ,
hễ gặp mặt là tàn sát nhau. Qua 7 ngày này, nghiệp sát tiêu
tan, còn một số ít người ẩn nơi hang sâu núi thẳm, chuyên
tâm tu hành là sống sót. Bấy giờ chứng kiến cảnh tượng
thê thảm trên, con người ăn năn cực độ, chí thiết phát
tâm tu hành, nạn đao binh mới chấm dứt. Từ đó họ bắt
đầu giữ giới trở lại nên tuổi thọ tăng dần từ 10 tuổi
cho tới 84.000 tuổi, thời gian giống như kiếp giảm. Rồi
nhân thọ lại giảm xuống cho tới 80.000 tuổi thì đức Phật
Di Lặc ra đời.
Thời
mạt pháp chúng sanh phần nhiều giải đãi, không siêng tu nên
rồi phải thọ nạn như thế. Như chúng ta thấy thời nay kinh
sách rất nhiều, in đẹp, tủ kinh cũng đẹp nhưng chỉ chưng
bày để ngó thôi, rất ít người sờ mó tới nghiên cứu
tham khảo. Họ có rất nhiều lý do, như bận rộn, không có
thì giờ, kinh toàn chữ Hán, chưa dịch ra chữ Việt. Những
kinh dịch ra rồi thì lại không hay v.v… đó là nói về người
đọc kinh. Kế đến là người đọc kinh rồi, hiểu và áp
dụng được lại còn hiếm hơn. Mạt pháp là như thế chứ
không phải mạt pháp không có kinh. Có chứ, mà in còn đẹp
hơn hồi trước nữa nhưng đáng tiếc là ít người xem. Xem
được rồi, ít người hiểu hết nghĩa trong ấy. Hiểu được
rồi, ít người thực hành những lời Phật dạy trong kinh.
Đức
Phật Di Lặc thành đạo dưới cội Long Hoa. Pháp hội của
Ngài chư Bồ-tát, Thánh chúng, trời người đông vô kể. Huynh
đệ chúng ta cố gắng tu tập, nếu chưa thành tựu Phật quả
trong thời Phật Thích Ca, hy vọng có thể ghi danh vào Pháp
hội của đức Di Lặc. Nói đến đức Phật Di Lặc là nói
đến nụ cười đại hoan hỷ luôn nở trên môi Ngài. Chúng
ta sống được như vậy thì không cảnh duyên nào, không sự
kiện nào, không một pháp nào có thể làm gì ta được. Buông
xả tất cả cố chấp, sống vui tươi thảnh thơi với tâm
hoan hỷ là học theo gương hạnh của ngài Di Lặc.
Từ
chỗ Phật chất mình đã nhận được rồi, trong công phu hằng
ngày ít nhiều chúng ta cũng đã nếm được pháp vị. Với
công phu như vậy, đảm bảo trong pháp hội tương lai dưới
cội Long Hoa, tất cả huynh đệ chúng ta đều là những hội
chúng, có khi là hội chúng thượng thủ nữa. Muốn thế, điều
quan trọng bây giờ là ta phải tỉnh giác liên tục, mạnh
mẽ. Từ tỉnh giác mạnh mẽ đó, chúng ta có những niềm
vui để tiến đạo nhiều hơn. Niềm vui của đức Di Lặc
là niềm vui Vô Trước, niềm vui Đại hỷ xả, Đại từ bi.
Chúng ta học theo Ngài nếu chưa có được niềm vui ấy trọn
vẹn thì cũng phải được từng phần. Từng phần chứng,
từng phần khắc phục, từng phần hưởng được niềm vui
tùy theo mức độ công phu của mình.
Trước
nhất, niềm vui đó có thể được chúng ta thực hiện trong
tinh thần tỉnh tu. Nhờ tỉnh tu tâm chúng ta thanh tịnh, không
thích nơi ồn náo nhộn nhịp, vì thế không bị mất mình
ở những nơi ấy. Mỗi ngày trong từng phút giây chúng ta cố
gắng khắc phục những cái dở, những loạn tưởng, những
lăng xăng làm mất thời gian của mình. Thật ra làm sao tránh
được sự ồn náo? Chúng ta chạy đi đâu? Mình đã có mặt
ở đây từ bé thơ cho tới bây giờ, nó hình thành bao nhiêu
thứ, nào là tình cảm, sự nghiệp, công danh, thân tâm ràng
buộc. Bây giờ nhất thời vất chúng đi đâu? Cho nên ta phải
tiến hành từng chặng một.
Đầu
tiên chúng ta xuất gia tu hành, là cắt những liên hệ gia đình,
nhưng chỉ mới cắt bên ngoài, còn trong tâm tưởng đâu phải
cắt một lần mà được. Chẳng hạn trong ba ngày tết, mấy
đứa cháu không lên thăm mình cũng thấy thiếu, thấy nhớ.
Những vướng mắc đó kết cấu, liên hệ chằng chịt hồi
đời nào tới giờ. Bây giờ tu Phật dạy phải buông bỏ
đi, nó là vọng tưởng, thương mình nên nỗ lực tu hành.
Tuy biết thế nhưng chúng ta đâu có thực hành được hoàn
toàn, chỉ đôi ba khúc là hết hơi rồi.
Cho
nên niềm vui của người phấn chấn tích cực tu hành là thắng
vượt được tất cả dấy niệm lăng xăng. Giờ này chúng
ta còn ngồi đây, có mặt nơi đạo tràng tức cũng thắng
được mình phần nào. Nếu không quí vị đã đi thăm bà con
xóm giềng, hoặc dạo chơi chỗ này chỗ kia, chớ đâu chịu
quy tụ về tổ đình lễ vía chư Phật, Bồ-tát, chúc mừng
tuổi thọ quý thầy. Vì thế niềm vui thứ nhất, tôi gọi
là niềm vui thuộc về con cháu của đức Phật tương lai Đại
hoan hỷ, niềm vui thắng vượt sự ồn ào. Chúng ta bình thản,
an nhiên, không có sự kiện, không có vấn đề gì chung quanh
làm rối loạn ta. Đó là niềm vui thứ nhất.
Niềm
vui thứ hai là niềm vui của tâm yên lắng. Phần này hơi khó,
vì chính bản thân chư tăng cũng chưa chắc được yên lắng
hoàn toàn. Có lúc nó yên lắng, cũng có lúc nó không yên lắng.
Tâm vọng tưởng nhiều tật chứng lắm, nếu không biết cách
trị, không dùng roi đập thì nó sẽ quậy lên khiến ta mất
ăn mất ngủ, chớ chẳng chơi. Nói tóm lại, niềm vui thứ
hai của người tu là khắc phục vọng tưởng. Chúng ta đừng
để những dấy niệm kéo lôi dẫn đi. Dấy niẹâm là gì?
Là những hình ảnh về người, về vật hay về mình có liên
quan đến mọi hiện tượng chung quanh. Đó là những bóng dáng
còn lưu trữ trong tâm ta. Ngồi lại đâu có yên! Chữ “Niệm”
là nhớ, tức nhớ cái này nhớ cái kia.
Ví
dụ ngồi lại ta nhớ “Ôi, hôm đám giỗ Hòa thượng Tổ
sư chúng ta có một hình ảnh thân thương làm sao!”. Nó không
phải mặt rằn hay gai góc khiến cho ta hoảng sợ, mà đôi
lúc lại rất dễ thương. Vì thế mình mới bị dẫn đi một
cách vô điều kiện. Nó dẫn đi đã đời đến chán vất
bỏ đi, ta mới tỉnh lại thì đã mất bao nhiêu thời gian
quý báu. Phải chi nó hiện tới làm cho ta khóc lóc, tức giận,
sợ hãi thì mình buông dễ dàng. Đằng này nó nhẹ nhàng,
thân thương, êm dịu, nên ta mới mềm lòng chạy theo. Tới
lúc nó chán rồi buông ra, mở được con mắt thì hỡi ôi
ta đã bị vọng tưởng nắm mũi lôi đi từ hồi nào.
Cho
nên người có công phu tu hành là người có tĩnh lực khắc
phục được những dấy niệm đó. Một niệm nào vừa dấy
khởi, biết nó là vọng tưởng, buông đi. Vừa có hình ảnh
nào dấy khởi, biết là hư giả, buông đi. Vừa có sự kiện
gì dấy lên, biết nó tào lao, buông đi. Nếu ai có được
trí lực như thế thì người đó yên vị làm chủ. Làm sao
trong công phu hằng ngày, chúng ta kiểm nhận được tất cả
những dấy niệm của mình là từng bước ta khắc trị được
nó. Trong kinh nói nó là cái hơi hướm, chủng tử, tập khí,
thói quen của chúng ta. Bởi vì chúng ta chưa làm chủ được
tập khí, chủng tử đó nên mới bị nó kéo đi một cách
dễ dàng. Chứ nếu huynh đệ làm chủ được những tập khí
thì ta sẽ hết sức bình thường trước mọi tình huống.
Đôi khi những thứ to tát mình làm chủ được, nhưng tới
những thứ bình thường nhỏ nhặt ta lại chết! Dân quê ta
thường hay nói “đi sông đi biển không nhằm gì, mà về
nhà trật chân té xuống vũng trâu nằm lại chết.” Lời
nói này thật kinh nghiệm vô cùng.
Bởi
có những khi chúng ta lao theo vọng tưởng, sống với vọng
tưởng, mình với vọng tưởng hòa đồng nhau, thấy thật
dễ chịu, không có gì đau khổ cả. Như ta đang ngồi đây
nhớ ngôi nhà của ông tổ hồi xưa, có tội gì đâu. Ngồi
đây nhớ mẹ mình, có tội gì đâu. Ngồi đây nhớ những
chuyện phúc thiện, có tội gì đâu. Do đó nên ta đâu muốn
trừ bỏ vọng tưởng làm chi. Đó là mình đã lặn sâu trong
nó rồi, tôi gọi là chết trong vũng chân trâu đó. Bởi nhớ
bất cứ thứ gì, bất cứ hình ảnh nào cũng đều mất mình.
Lao theo vọng tưởng là chấp nhận để cho vọng tưởng chôn
vùi mình rồi.
Bây
giờ tu là quay trở lại. Từ những niệm bình thường thân
thương đó, nó vừa khởi lên ta liền biết “Ồ, vọng tưởng”
thì sẽ không bị nó kéo lôi. Không bị kéo lôi là có định,
biết nó không thật là có tuệ. Định tuệ hiện tiền gọi
là Định tuệ đồng đẳng. Người định tuệ hiện tiền
là người sống được với Ông Chủ, là người đạt được
niềm vui không bị kéo lôi bởi những cái vọng tưởng điên
đảo. Vọng tưởng chẳng qua là những bóng dáng bên ngoài
tồn đọng trong tâm thức của chúng ta. Đã là bóng thì không
thể thật được. Theo tinh thần tu học của chúng ta, nếu
không hóa giải bằng cách nhận biết nó là vọng tưởng thì
ta cứ dính mắc mãi thôi. Khi đã dính mắc vọng tưởng rồi
thì tâm trí không còn sáng suốt nữa, do đó tạo nghiệp khổ.
Do vậy các bậc Tổ sư dạy, không cho chúng ta dính mắc vọng
tưởng, để tâm trí sáng suốt trùm khắp.
Nói
các pháp kéo lôi là một cách nói, chớ thật ra pháp nào mà
kéo lôi mình được. Ai ốm yếu nhất cũng không dưới ba
chục ký, thấp nhất cũng thước rưỡi thước tư, thì cành
hoa cánh én làm gì kéo lôi nổi. Vậy đó, mà vọng tưởng
đẩy trốc gốc hết. Có khi cả trăm ký, nó cũng vật ngã
tuốt, kéo sển đi nhẹ re. Mới lạ chứ! Tôi nói thế để
làm gì? Để chúng ta biết, tuy rằng nó là vọng tưởng nhưng
rất nguy hiểm. Nếu chúng ta không tu, không tỉnh, không làm
chủ được thì xem như mất mình. Chẳng những mất mình trong
đời này mà mất mình dài dài trong kiếp số vô lượng vô
biên.
Nếu
không có Phật Tổ ra đời, ai chỉ cho chúng ta biết đó là
vọng tưởng. Như vậy ta sẽ mê lầm mãi, vì đồ giả cho
là thật nên cứ ôm giữ, làm sao hết khổ? Quý vị thấy,
chúng ta vừa có mặt thì mừng Sinh nhật, đến lúc mất đi
thì Tử táng. Có ra thì vui mất đi thì buồn, buồn vui hoài
thôi, tình huống của con người ở thế gian là như vậy.
Với người tu, chúng ta phải vượt khỏi việc ấy. Tổ dạy,
phải làm chủ được sanh tử, nghĩa là không bị sanh nhận
chìm, cũng không bị tử làm mất mình.
Người
tu nên xem sanh tử như thế nào? Sanh như đắp chăn đông, tử
như cởi áo hạ. Sanh ra, như mùa đông lạnh lẽo mà được
đắp chăn ấm áp. Chết như cởi áo hạ, tức như mùa hạ
nóng bức cởi được chiếc áo nhơ nhớp vứt đi. Hình ảnh
này để chỉ cho người tự tại, làm chủ được sanh tử.
Sanh cũng không thật sanh, tử cũng không thật tử. Thiền sư
không hệ lụy bởi sanh tử. Hiểu thế rồi, khi có huynh đệ
bỏ thân này, chúng ta nên khóc hay không khóc? Người tu, hiểu
đạo thì tỉnh táo nói thế này: Mừng cho anh, chị, huynh,
đệ cởi được chiếc áo nhơ nhớp nóng bức, thật thích
thú biết bao. Đâu có gì phải khóc.
Nói
thì nói thế nhưng thấy cảnh gì hơi đau lòng một chút là
mình đã không dừng được nước mắt rồi. Có khi ta thấy
chuyện bá vơ ngoài đường, ta cũng xót xa nghẹn ngào. Cho
nên biết chúng sanh nhiều đời trôi giạt trong sanh tử, mê
mờ chồng chất nhiều lớp. Nói thì được nhưng làm chưa
được. Phật, Bồ-tát nói nước mắt chúng sanh nhiều hơn
nước bốn biển là vì thế. Ta khóc cho người thân, khóc
cho người chung quanh… nước mắt đổ ra bao nhiêu mà kể.
Cho nên bây giờ muốn bớt khổ, bớt khóc thì phải dừng
lặng tâm vọng tưởng ấy đi. Một khi nó đã được yên
lắng xuống rồi thì ta sẽ không còn mắc mứu vào đâu để
buồn để vui, để khóc để cười trong đảo điên nữa.
Đó là niềm vui thứ hai, làm chủ được những dấy niệm.
Niềm
vui thứ ba là dứt trừ phiền não. Nhân đọc gương hạnh
của các vị tổ Trung Hoa trong thời đại chúng ta như ngài
Hám Sơn, ngài Hư Vân, ngài Thái Hư… tôi thấy công phu của
các Ngài chiến thắng vượt được tất cả phiền não vọng
tưởng. Các Ngài hoàn toàn an ổn, không bị phiền não của
thân tâm quấy rầy, cũng không bị phiền não do thiếu thốn
cơm gạo thuốc men hoặc sự ủng hộ của những người chung
quanh. Nêu những gương này lên, để chúng ta thấy mình còn
quá dở. Chúng ta còn lo lắng, chuẩn bị, tích lũy nhiều thứ
nên phiền não cũng nhiều. Chư tổ trước tu hành làm chủ
được, bỏ được phiền não nên các Ngài hoàn toàn an vui
trong mọi hoàn cảnh.
Cho
nên bỏ được phiền não là niềm vui trọn vẹn nhất của
người tu chúng ta. Tôi nhắc lại một đoạn nhân duyên thế
này. Ngài Hám Sơn, một hôm đi ngang qua vùng đó, thấy có
đoạn đường bị hư, dân làng đi lại khó khăn nên Ngài
phát tâm đắp lại đoạn đường đó. Bấy giờ ngài Hư Vân
cũng tới đó, nghe quần chúng địa phương cho hay có một
vị tăng lâu nay ở đây làm việc như vậy. Thầy không hề
thuyết pháp giảng kinh, cũng không gần gũi giao du với ai hết.
Mỗi ngày chỉ đào đất đắp đường từ sáng tới trưa,
từ trưa tới chiều, rồi trở về ngôi chùa hư trong hốc
đá gần đó, nấu cơm ăn xong thì tọa thiền, nghỉ ngơi.
Ai tới Ngài cũng chẳng chào hỏi gì, cứ sáng đi làm chiều
tối về nghỉ.
Ngài
Hư Vân nghe thế liền tìm đến. Quả thật Hòa thượng này
chẳng chào hỏi gì Ngài. Thấy vậy Ngài im lặng đi làm với
thầy. Ông thầy cuốc đất bưng đổ lên đường, Ngài cũng
cuốc bưng đổ lên đường. Hết giờ làm việc thầy về
nghỉ, cũng không mời Ngài về. Thấy vậy, Ngài Hư Vân đi
theo về. Đến chùa, ông thầy đi lấy bún khô hoặc cơm nguội
hâm lại ăn, không hề mời ngài Hư Vân ăn, cũng không bảo
làm gì hết. Ông thầy làm gì Ngài làm theo như vậy. Người
lấy gạo, kẻ nhóm lửa, xong hai vị ngồi đó, không ai nói
với ai điều gì. Nấu rồi, mạnh ai lấy chén múc ăn, chẳng
ai mời ai. Sống như vậy một tuần lễ. Cho đến một đêm
trăng đẹp quá, Ngài Hám Sơn ra ngoài gộp đá ngồi thiền.
Sau khi xả thiền, nhìn thấy ánh trăng Ngài thốt lên:
- Thích
thú quá!
Quay
lại Ngài thấy Hư Vân cũng bảo:
- Thích
thú quá!
Bấy
giờ ông thầy mới chịu mở miệng hỏi:
- Ngài
ở đâu tới?
Sau
một tuần lễ chung sống tới bây giờ hai Ngài mới bắt đầu
đàm đạo và dĩ nhiên là cả hai rất tâm đắc với nhau.
Khi đoạn đường đó sửa gần xong, ngài Hư Vân từ giã nói:
- Tôi
bận việc phải đi trước. Thôi, Ngài ở đây tiếp tục.
Câu
chuyện cho chúng ta thấy Thiền sư không bận rộn, không bị
những lo lắng về đời sống, về lễ nghi trói buộc. Hình
ảnh hai vị Tăng cho chúng ta một bài học là hãy sống bình
thường. Chính cái bình thường ấy đã vượt qua mọi hệ
lụy trong đời sống. Các Ngài cuốc đất, nhóm lửa, nấu
cơm, ngồi thiền… tất cả đều bình thường. Không như
chúng ta, còn bị hệ lụy quá nhiều. Nhìn thấy hũ gạo còn
mười lít là mình đã sợ tháng sau không có gạo ăn, bắt
đầu chạy cho có hai chục lít để sẵn đó. Trong kho còn
mấy chai nước tương, nhưng sợ tết đệ tử về không có
nước tương ăn nên phải mua sắm thêm v.v… Bởi vậy nên
rồi chúng ta phiền não cả ngày, cả tháng, cả năm, phiền
não đầy hông chứ không phải ít. Cho nên pháp tu ở đây
là ta phải tự tại đối với sự sống này.
Quý
vị thấy, trong cuộc sống chúng ta không khi nào yên ổn. Kể
từ khi có được hơi thở, ta không biết trước cái nghiệp
sẽ đưa đẩy mình như thế nào. Mở con mắt ra, nhận lãnh
thân này hoặc nam hoặc nữ, cứ thế mà ôm cái xác ấy, vun
quén, son phấn, săn sóc, bảo trì đủ thứ. Có khi nào mình
muốn cho thân bệnh, thân xấu đâu? Lỡ biết xấu xí, mình
khổ biết bao nhiêu. Có hai Phật tử hồi xưa là sinh viên,
học giỏi lắm. Làm Phật sự chung rồi thương nhau nên kết
thành vợ chồng. Mơ ước của họ là sanh được những đứa
con ngoan, hiểu đạo pháp, vì cha mẹ đều kính tín đạo pháp.
Nhưng khổ nổi đứa con đầu lòng rất ngoan mà lại có tật.
Nó bị dị tật từ trong bụng mẹ. Hai vợ chồng buồn và
thương con quá biết làm sao đây, chắc là phải đặt cho nó
cái tên Thương Hoài Ngàn Năm thôi!
Trở
lại vấn đề phiền não, tôi nói về sanh nhẫn. Như thân
của chúng ta đây, đâu có ai muốn nó đau bệnh, già yếu.
Nhưng quý vị thấy, từ khi sanh ra cho tới giai đoạn thôi
bú, rồi đổi răng sữa thành răng nanh, lúc nào mình cũng
khóc hết. Lớn lên một chút chạy ra nắng là nhức đầu,
thế là sà vào lòng bố mẹ khóc. Hồi nhỏ nhức đầu khóc
lóc như vậy không có sao, chứ bây giờ già cái đầu thế
này rồi, khóc với ai đây? Chẳng lẽ nhõng nhẽo với đệ
tử, đành chịu khổ một mình thôi. Mang thân này là đủ
thứ khổ. Ăn không được, ngủ không được khổ, cảm gió,
đau răng, đau mắt, đau chân, ho hen, mỏi mệt… đủ thứ
khổ. Thế nhưng chúng ta đều nhẫn được hết, không nhẫn
cũng không được. Mình phải bảo vệ nó, nương nhờ nó để
tu chứ. Dù biết nó là đồ bỏ, nhưng khi chưa xong việc,
chưa giải thoát sanh tử chúng ta không nên bỏ. Phải nuôi
dưỡng nó bằng cách điều hòa tứ đại, để có phương
tiện mà tu. Đây gọi là sanh nhẫn. Làm chủ được, không
bị động, không bị cuộc kéo trong bởi thân này có nghĩa
là ta không bị phiền não đối với thân. Đây là môït hạnh
tu của hàng đại Bồ-tát, của những vị Phật tương lai.
Phải trị được, hóa giải được, bình thường được đối
với sanh nhẫn.
Ngoài
sanh nhẫn ra còn có pháp nhẫn. Pháp nhẫn là gì? Là hoàn cảnh.
Nhẫn trong mọi hoàn cảnh thuận cũng như nghịch. Đối với
nghịch cảnh ta nhẫn nghe hợp lý, còn thuận cảnh có gì phải
nhẫn? Ví dụ chúng ta đọc sử của Thái tử Sĩ Đạt Ta,
từ khi sanh ra cho tới lớn lên Ngài thụ hưởng bao nhiêu là
tiện nghi tột đỉnh. Nhưng Ngài đã không chết chìm trong
đó, vì vậy Thái tử mới tìm đường xuất gia học đạo.
Đây gọi là nhẫn trong thuận cảnh. Do biết sự nguy hại
phía sau của những cảnh thuận ấy nên chúng ta phải nhẫn,
nghĩa là vượt qua nó, chiến thắng nó. Như thế mình mới
không khổ vì nó. Thành ra nói đến pháp nhẫn tức là nói
đến những sự kiện chung quanh.
Ví
dụ như người có phước ở trong căn nhà mát mẻ, còn mình
không đủ phước, mùa nắng mùa mưa gì cũng ở trong căn nhà
ọp ẹp bị, gió tạt mưa dột v.v… nhưng vẫn phải chịu.
Hoặc có những đứa trẻ vừa sinh ra đã mồ côi, không ai
nuôi dưỡng, bị thải bên vệ đường. Ai thấy thương thì
đem về nuôi. Lỡ trong sanh ra trong một hoàn cảnh như thế
thì sao? Phật dạy phải nhẫn. Đây gọi là nhẫn trong nghịch
cảnh. Vì vậy người tu đối với sanh nhẫn, pháp nhẫn, cả
hai đều phải trọn vẹn, mới được Nhẫn lực ba-la-mật.
Người được Nhẫn lực ba-la-mật mới có thể đi đến thành
tựu đạo quả viên mãn.
Như
câu chuyện Quan Âm Thị Kính. Cô Kỉnh Tâm không phải là người
nam, vì muốn tu nên phải làm công việc của người nam. Khó
khăn vô kể! Vì muốn thực hiện lý tưởng trọn vẹn nên
cô cắn răng nhẫn chịu nỗi hàm oan thấu trời do Thị Mầu
dựng lên. Người ta đập, người ta chửi, cuối cùng người
ta đem con thảy cho cô nuôi với lời vu khống, không còn nổi
oan nào hơn:- Con ông đó, tôi trả ông. Nếu là chúng ta, mình
đã nổi khùng lên nói quách: “Tôi không phải đàn ông, làm
gì có con với đàn bà?” Đâu như Ngài chịu đựng như thế!
Nhưng vì Phật đạo, Bồ-tát nhẫn được tất cả.
Muốn
thành Phật tác Tổ, muốn giác ngộ giải thoát, chúng ta phải
hóa giải, phải sống vượt qua tất cả mọi hoàn cảnh, phiền
não mới không làm gì được ta, mới có thể thành tựu Phật
đạo. Cho nên mỗi khi lễ lạy hình tượng các vị Đại Thánh,
các vị Bồ-tát là một biểu trưng, trong lòng chúng ta phải
tự khắc tự hứa. Tự khắc tự hứa cái gì? Tự khắc tự
hứa làm sao mình tu được, sống được như các Ngài. Chúng
ta phải có nhẫn lực như Bồ-tát Quán Thế Âm. Chúng ta phải
có cái từ lực, hoan hỷ đối với tất cả như Bồ-tát Di
Lặc. Vị Bồ-tát được đức Bổn sư Thích Ca dặn dò tương
lai sẽ làm giáo chủ giáo hóa chúng sanh ở cõi Ta-bà này,
kế tiếp đức Bổn sư.
Nhớ
lại gương hạnh của đức Bổn sư như tầm đạo, học đạo,
hành đạo để được giác ngộ giải thoát, không phải là
chuyện đơn giản. Khó, khổ, nguy nan vô cùng. Trải qua nhiều
đời nhiều kiếp, trong kinh nói là ba vô số kiếp, đâu phải
chuyện sớm tối bình thường được. Cho nên mỗi khi lễ
lạy Ngài, chúng ta nhớ lại gương hạnh ấy, nguyện noi theo
để tu tập. Muốn trị được phiền não, khắc phục phiền
não thì chúng ta phải thành tựu sanh nhẫn và pháp nhẫn. Chứ
nếu đụng một cái liền la làng, thì thôi “sanh” cũng không
mà “pháp” cũng chẳng có. Thành ra đòi hỏi chúng ta phải
đủ tĩnh lực, phải có sự chịu đựng, từ đó đi đến
Nhẫn Ba-la-mật. Đó là pháp tu qua hình ảnh của Phật, Bồ-tát.
Nhất định chúng ta phải tu tập được. Bởi vì nếu không
tu tập, không áp dụng được thì phiền não đầy trời, không
buông được. Mà phiền não nhiều quá làm sao chịu nổi. Tim
phổi của mình có giới hạn, nếu nhiều quá nó sẽ làm vỡ
lồng ngực mà chết thôi!
Hòa
thượng thường dạy mỗi khi vọng tưởng phiền não dấy
lên, chúng ta quở nạt nó: - “Chính mày đã dẫn tao đi trong
luân hồi mê muội nhiều đời nhiều kiếp rồi. Tạo nghiệp
nhân khổ cũng từ mày. Bây giờ tao không tin, không theo mày
nữa. Hãy cút đi!” Nếu gầy dựng được thế chủ động
như vậy, chắc chắn mình sẽ không bị nó xỏ mũi lôi đi.
Ngược lại, ta cứ buông xuôi, nó hù một phát là mình chạy
theo tuốt! Một Thiền sư Trung Hoa, tên chi tôi quên mất rồi.
Đại khái Ngài thường kêu tên mình rồi tự nhắc “Tỉnh!
Tỉnh! Chớ để bị lừa”. Chẳng hạn như tôi tự kêu:
- Nhật
Quang!
Rồi
tự đáp:
- Dạ!
- Tỉnh
nghe! Đừng để bị lầm!
- Dạ.
Bây
giờ quý vị cũng thế, tự nhắc mình. Nhưng nhắc vừa phải
thôi nghe, nhắc quá thành nói sàm à. Khi nào làm chủ được,
trị được những phiền não rồi thì ta sẽ có một niềm
vui trọn vẹn. Niềm vui này đầy đủ, lớn lao, trùm khắp.
Tôi
xin kết lại ý này bằng một bài thơ, rất tiếc tôi đã
quên tên tác giả:
Giữa
trời làm nhàn khách,
Trong
người, làm Tăng quê.
Cười
ta, ai đó? Mặc!
Hồn
nhiên tự nhẹ bay.
Nói
rằng giữa cuộc đời này, giữa mọi người đây ta làm một
khách nhàn nhã, tức không bận rộn gì hết. Giống như mình
đi thành phố, lỡ đường phải ghé quán trọ nghỉ qua đêm.
Ta ở một đêm thôi thì không lý do gì mình tải đồ đạc
trong quán trọ đi theo. Tới thế nào thi đi thế ấy. Tinh thần
đó chúng ta phải ghi nhận. Giữa cuộc đời này, trong cõi
tuần hoàn này, chúng ta là một người khách nhàn nhã, không
bị lệ thuộc, không bị rắc rối, không mang gánh, chất chứa
cái gì trong bị cả.
Trong
người, làm Tăng quê tức giữa mọi người đây, ta là kẻ
tu hành quê mùa. Quý vị dám nhận vậy không? Ai nói mình quê
cũng được, ai nói mình dốt cũng được. Miễn mỗi ngày
ta không bị phiền não câu thúc, không bị những dấy niệm
kéo lôi, tỉnh táo hoàn toàn. Người như vậy là định tuệ
hiện tiền. Quí vị nhớ niềm vui mình có được là ngay chính
nơi công phu hằng, mỗi ngày ta chỉ là người Tăng quê thôi.
Như vậy thì an ổn thích thú biết bao! Cười ta, ai đó? Mặc!
Mặc cho nhân thế cười chê, ta không quan tâm. Hồn nhiên tự
nhẹ bay, tức mình hồn nhiên sống, hồn nhiên tu, nhẹ nhàng
thanh thoát như mây bay. Những hình ảnh này hay làm sao, chúng
ta phải thực hiện cho kỳ được.
An
lạc chỉ có khi nào chúng ta nỗ lực công phu, chiến thắng
được những hụt hẫng, bất an bất ổn chung quanh mình. Giống
như một tướng giỏi, ổn định được giặc giã chung quanh
biên thùy thì quốc thổ mới yên. Bao nhiêu nỗi bất an, nếu
chúng ta không có công phu, không có lực để khắc phục chúng,
chiến thắng chúng thì tâm ta sẽ không yên. Đã không yên
thì làm sao có an lạc. Sự an lạc của người tu phải phát
xuất từ trong lòng, khi đã ổn định được tất cả những
bất ổn. Chứ không phải an lạc từ sự hỗ trợ bên ngoài.
Chúng ta tu, trong từng phút giây làm chủ mình. Không cần phải
tìm tòi, đào xới ở đâu, cũng không có những thủ thuật
gì để ta nắm bắt sự bình an đó. Chỉ tỉnh giác, buông
xả đừng chạy theo vọng tưởng, tự nhiên những nỗi bất
an sẽ tan biến, sự bình an hiện tiền.
Nếu
chúng ta không khắc phục những bất an bất ổn thì không
bao giờ có bình an. Dù bên ngoài có những tiện nghi đến
đâu, ta cũng chỉ thấy an ổn tạm thời, thấy như yên, nhưng
rồi sẽ bất an trở lại. Người hiểu rõ như thế, khi nhận
nhiều phương tiện vật chất chừng nào thì biết nợ nần
nhiều chừng ấy. Những giao tế loại này nếu không sớm
cắt đứt thì ngồi không yên đâu. Khi nào ta khẳng định
được công phu tu hành của mình, mới thấy rõ điều đó.
Ở đây tôi nói những điều kiện không thể thiếu của người
tu.
Điều
kiện thứ nhất là những hàng rào che chắn cho chúng ta. Trước
nhất là có hàng rào giới luật. Đối trước các vị Giới
sư, chúng ta đã phát nguyện lãnh thọ và hành trì giới pháp.
Trong đạo Phật giới luật là gốc. Nhờ giới luật ta khép
mình trong đạo tràng, luôn luôn được sự bảo bọc của
thầy bạn. Trên nữa có Long Thiên Hộ Pháp, các vị thần
Hộ Giáo, Hộ Giới… Kế đến là sự hộ trì Tam bảo khiến
thân tâm chúng ta thanh tịnh. Từ giữ giới mà tâm được
an định. tâm có định trí tuệ mới phát sinh. Có trí tuệ
mới diệt trừ được vô minh phiền não. Do vậy đạo tràng
trang nghiêm thanh tịnh, bản thân ta cũng thế.
Chúng
ta phát chí tu hành dũng mãnh, dần dần tất cả những ồn
ào chung quanh sẽ yên thôi. Điều này quý vị có tin không?
Tôi thì rất tin. Có những người định gặp ta “làm dữ”
lên. Nhưng khi thấy gương mặt mình an nhiên, tự nhiên họ
xụi lơ. Muốn làm dữ cũng không biết làm sao làm dữ. Muốn
chửi cũng không chửi được. Rồi mọi việc bình ổn thôi.
Đó là gì? Là lực tu hành. Chúng ta có tu, nhất định có
sự ủng hộ che chắn của những người đồng cảm. Do đó
mình được bảo vệ để phát huy nội lực tu hành. Yên thì
chúng ta tu tiến.
Có
người trong hoàn cảnh nghịch lại tu được, trong điều kiện
thuận lợi lại lười biếng, không tu được. Nhưng nói chung
chung, chúng ta gặp điều kiện thuận, tương đối dễ tiến
tu hơn. Chứ nếu bước ra bị chửi, về am thất thì không
có gạo nấu, muốn mua cái gì không còn một đồng, bà con
giòng họ không ai ngó ngàng tới… như vậy cũng thiếu duyên
để sách tiến đó. Nếu gặp hoàn cảnh như thế, ta cứ ngồi
đó nghĩ “Tại sao kỳ vậy? Hồi trước mình gây nhân gì
mà bây giờ lại như thế?” Từ đó không vui, làm sao tu tiến
được. Cho nên nếu được điều kiện tương đối thuận
lợi, tức thuận lợi vừa phải, chúng ta tu dễ hơn.
Trong
điều kiện như thế, ta cố gắng tu dù tệ mấy, vài năm
mình cũng khá hơn trước. Nhờ có công phu, con mắt trí tuệ
sáng lên, không còn cố chấp dai dẳng như xưa. Mau tỉnh mau
buông xả, chứ không đến nổi mê mờ, gặp cái gì cũng chạy
theo hết. Có công phu một thời gian, dĩ nhiên tâm linh phát
triển tốt hơn. Luôn luôn trong giai đoạn đầu, chúng ta cần
được sự hỗ trợ tương đối của thiện hữu tri thức
cho việc tu thuận lợi một chút. Tuy nhiên, qua giai đoạn thứ
hai chúng ta không thể ngồi yên như vậy. Đến giai đoạn
thứ hai phải tiến mạnh hơn, quyết liệt hơn, phải khẳng
định việc làm của mình. Vì thế với người tu, luôn có
các vị chịu trách nhiệm hướng dẫn nhắc nhở chúng ta phát
tâm mãnh liệt.
Trong
kinh Pháp Hoa nói rằng: Đức Phật Thích Ca giáo hóa vô lượng
đệ tử. Trong đó hàng Thánh chúng chứng quả A La Hán không
tin mình có Tri Kiến Phật nên phải thối tịch. Thối tịch
tức là đang nghe pháp mà đứng dậy kéo đi. Đức Phật thấy
thế nói: - “Trong pháp hội này đã không còn những hạt
lép, chỉ thuần hạt chắc”. Vì thế bản kinh có phẩm Hóa
Thành là Phật phương tiện để động viên, giáo hóa những
hạng căn cơ thấp. Hóa Thành là gì? Là một cái thành do Phật
hóa ra, cho lữ khách dừng chân nghỉ mệt một lát, sau đó
phải tiếp tục lên đường mới tới Bảo sở. Bảo Sở chính
là mục đích khách bộ hành phải đến. Cũng thế, vì để
hóa độ cho những người căn cơ thấp kém, Phật phương tiện
dùng pháp Tiểu thừa dạy họ. Nhưng nếu dừng lại ở đó
thì không đúng, phải tiến tới chỗ rốt ráo giải thoát.
Muốn thế phải tiến lên Đại thừa, Nhất Phật thừa. Đó
là lý do Phật không hài lòng những vị chỉ dừng lại ở
quả vị Thanh văn, không chịu tiến tới công hạnh của hàng
Đại thừa Bồ-tát.
Các
vị có trách nhiệm hướng dẫn chúng ta tu hành, các ngài luôn
có những phương tiện như thế. Nhờ vậy các Ngài mới hướng
dẫn ta đến nơi đến chốn được. Các bậc tôn sư đã có
những phương tiện thiện xảo như thế, người học đạo
cũng phải phát tâm mãnh liệt mới tương hợp. Nếu không,
chúng ta cứ ngồi ì một chỗ cho khỏe thì biết tới bao giờ
mới thành Phật? Trong công phu tu hành, chúng ta phải mãnh tỉnh,
phát chí tiến đạo không bao giờ thối chuyển hay dậm chân
tại chỗ. Ví dụ như khi ngồi thiền nghe yên yên, hai con mắt
muốn nhắm lại, đầu hơi cúi xuống, lưng cong lại. bấy
giờ nếu ta không phấn phát mãnh tỉnh lên thì chắc chắn
sẽ gục thôi. Gục được cái thứ nhất rồi là bắt trớn
gục luôn, tới chừng nào sải dài trên giường nó mới chịu
êm nghe. Nhà thiền gọi căn bệnh hôn trầm này là đi trong
hang quỷ, tối om không thấy đường đâu mà lội ra.
Ngay
đó nếu chúng ta phát chí mở con mắt ra, thở mạnh lên. Có
khi vừa hít thở ta vừa tưởng hơi ấm bên ngoài đưa sâu
vào trong người, giúp mọi cơ quan tươi tỉnh lại. Sau đó
ta thở ra sạch, tưởng như tống hết căn bệnh buồn ngủ,
lười biếng, trì trệ, tăm tối từ bao đời kiếp ra hết.
Phát chí mạnh dạn như vậy, hưng phấn lên thì sẽ vượt
qua được ma hôn trầm. Nội chứng bệnh buồn ngủ này, trị
cũng khó lắm, chớ không phải dễ đâu. Nếu chúng ta không
có cách trị nó sẽ dẫn mình ngủ luôn hết ngày này qua tháng
kia, chớ chẳng chơi. Quí vị nghiệm lại từ hồi mình ngủ
trên tay mẹ cho tới bây giờ là bao nhiêu giấc không? Nhiều
lắm, không biết bao nhiêu mà để. Ngủ nhiều như thế nhưng
vẫn chưa thấy đủ, chưa thỏa thích nên đã lên bồ đòa
rồi lại muốn ngủ nữa! Cho nên để trị căn bệnh sâu nặng
này, người xưa khi hạ thủ công phu đã tự khắc tự hứa
nhất định không để cho ma ngủ dẫn vào hang quỷ nữa. các
Ngài dùng dùi đâm hay nhang châm hoặc ngồi trên bờ vực thẳm,
trên chẳng ba cây… với mục đích cảnh tỉnh cao độ, không
cho ma ngủ lén phén tới gần. Phải dứt khoát mãnh liệt như
thế mới lấy lại thế làm chủ của mình, dần dần trị
được ma hôn trầm.
Điều
kiện thứ hai là sự hỗ trợ của huynh đệ, của đạo tràng.
Hỗ trợ như thế nào? Ví dụ một dãy am thất thế này, ai
nấy đều mở cửa, mở đèn lên tụng kinh, lễ Phật, ngồi
thiền; còn mình đóng cửa im, trùm mền ngủ. Quý vị nghĩ
coi được không? Thấy vậy huynh đệ phải đến gỏ cửa,
nhắc nhở động viên mình cố gắng siêng năng tinh tấn lên.
Nhớ đến những tấm lòng, những ơn nghĩa này nên mình ráng
tu. Đó là nhân duyên che chắn ban đầu, sự hỗ trợ của
huynh đệ đối với chúng ta trong lúc mình còn yếu. Nhớ tới
công ơn này, chúng ta phải biết trân trọng, quí kính huynh
đệ, đạo tràng đã tạo điều kiện để mình tu tiến.
Điều
kiện thứ ba là Thầy mình. Trong đạo tràng chúng ta đã có
Thầy, có phương pháp tu hành cụ thể. Huynh đệ khỏi phải
nhìn tới ngó lui nữa. Đường lối tu hành như vậy, thầy
tổ dạy dạy như vậy, huynh đệ hỗ trợ như vậy, chúng
ta chỉ còn nỗ lực tu thôi. Nếu mỗi vị trong đạo tràng
có chút suy nghĩ như vậy thì sẽ thấy mình có đầy đủ
thiện duyên cả rồi. Có những trường hợp các vị có rất
nhiều thầy, đi qua nhiều đạo tràng, tu tập nhiều phương
pháp, nhưng tới lúc nào đó, ngồi lại họ giật mình thấy
ra rằng “Hình như tới bây giờ mình vẫn chưa có Thầy!”
Bởi vì họ không có một phương pháp chủ, một đường lối
dứt khoát để tu. Và vì thế họ không biết nương ở đâu,
tu thế nào, công phu chẳng biết ra sao. Đi chùa nhiều năm,
rốt cuộc nhìn lại chẳng biết mình đi đâu? Thật đáng
thương!
Ở
đây chúng ta đã hội đủ những điều kiện đó. Quý vị
tu hành có phương pháp, có Thầy, được trực tiếp hướng
dẫn chỉ giáo tu tập rõ ràng. Cho nên về mặt tu tập, quả
thật chúng ta có hạnh phúc. Chỉ cần mỗi người phát chí
mãnh liệt, phát huy cho được cái chân thật của mình thì
chúng ta đạt được sự an lạc vĩnh viễn. Việc này tự
chúng ta phải kiện toàn lấy, thầy bạn không thể thế được.
Có kiện toàn, có phát huy chúng ta mới tiến được, nếu
không cứ xìu xìu, dễ duôi qua ngày. Hết sáng thới trưa,
hết trưa tới chiều, hết chiều tới tối, tất cả đều
trôi suông, trôi nhanh thật vô ích. Hình ảnh thấy rõ nhất
trong những ngày cuối năm, mới hôm nào chúng ta nhặt lá mai,
sửa soạn cây cảnh… bây giờ là đã mồng Một Tết rồi,
tức qua mất một năm! Thời gian tôi qua nhanh tới “Không
ngờ!”
Thời
gian qua nhanh như vậy, tuổi tác chồng chất, sức khỏe suy
thoái, bao nhiêu thứ hợp thành đây cũng thoái hóa chuyển
đổi theo thời gian. Ai trong chúng ta cũng chịu dòng xoáy ấy,
nhưng mình có để ý đâu? Cứ ngủ nghê, ăn uống, đi lại
qua ngày, bao nhiêu duyên sự đó thôi. Tệ hơn nữa là còn
những chuyện tạp nham không thuận cho việc tu hành của mình.
Vậy nên huynh đệ phải kiểm lại giai đoạn đầu trong công
phu của chúng ta có hội đủ điều kiện che chắn thầy bạn
chưa? Nếu có đủ là chúng ta được duyên tốt trên con đường
tu hành, do đó phải trên trọng các thiện duyên này.
Niềm
vui thứ tư tế nhị hơn một chút, là phải nhận rõ Ta là
gì? Các vị tu thoại đầu, ngay trước cửa họ để ba chữ
"Ngã thị thùy?" tức "Ta là gì?" hay "Ta là ai?". Hễ bước
qua cửa là thấy "Ngã thị thùy?" Có khi nào ta đặt câu hỏi
đó đối với mình không? Hay cứ chấp nhận mình là thân
này, muốn ăn thì ăn, muốn ngủ thì ngủ, muốn chơi thì chơi,
muốn gì chiều nấy. Chúng ta cứ đi theo chiều chấp nhận,
theo sự hướng dẫn của nó. Đây là vấn đề rất bình thường
nhưng hết sức tế nhiệm, đòi hỏi chúng ta phải có cái
nhìn thấu đáo. Người tu đối với những gì không cần
thiết là phảng cho nó đứt, không thương tình, không dung
dị. Như vậy mới tiến được.
Ý
thức về con người mình, hoàn cảnh mình, tất cả những
sự kiện chung quanh có gì bảo đảm không? Sự tu hành có
tăng tiến không? Mỗi ngày mình công phu như thế nào? Những
điều này chúng ta phải biết. Nhiều lần tôi nói chuyện
với Phật tử, có những người học pháp từ thời Sư ông
của tôi, qua tới đời thầy tôi, rồi tới đời tôi, họ
cứ đi nghe pháp hoài. Thế nhưng cũng vậy thôi, không tiến
chút nào cả, cũng phiền não, cũng bất an nhiều nỗi. Hết
cháu ngoại tới cháu nội, hết nhà cửa đến tiền bạc…
phiền não rần rần, không lúc nào yên. Tức là xét trong công
phu, không có sự chiếu soi chính mình cho nên kết quả tu tập
rất yếu. Với người nắm vững, quán chiếu rõ ràng, dứt
khoát không bị tình trạng như thế. Phật tử tu là làm sao
giữ thế chủ động tăng tiến công phu, chớ không phải tu
là đi chùa, tụng kinh, ăn chay nhiều năm. Tu hành như vậy
chừng nào mới tiến được?
Tu
hành phải dứt khoát việc gia đình mới yên được. Thành
ra ở đây đòi hỏi chúng ta phải có tĩnh lực. Quyết định
tu rồi thì không nói tới nói lui gì cả. Có một thiền sư
Trung Hoa thời Tống, Ngài đi công việc Phật sự gặp người
bạn thân. Ông này đang làm ăn phát đạt, định tổ chức
buổi tiệc liên hoan mời những bạn hữu cũ đến dự buổi
tiệc thành công của mình. Bất thần ông gặp Hòa thượng
- bạn thân hồi xưa nên mời Ngài đến dự. Hòa thượng vui
vẻ gật đầu. Về tới chùa, Ngài viết mấy chữ gửi cho
bạn: "Tôi đã yên nơi cảnh chùa. Xin không xuống núi." Phải
dứt khoát như vậy mới được.
Hòa
thượng dạy về cách thức tu hành giống như hộc tủ đựng
thuốc Bắc. Hộc nào chứa vị thuốc đó, cần lôi ra thì
lấy đúng vị thuốc mình muốn. Xong rồi họ đóng lại, không
có thứ khác lộn vô trong đó. Việc tu củ chúng ta cũng vậy,
đâu ra đó rõ ràng. Việc gì giải quyết rồi thôi, không
kiện tụng, lý giải thêm gì nữa. làm thế thì mất thì giờ,
tu không được. Đó là điểm chúng ta phải biết phát huy
lực dụng hay trí dụng của mình, giữ vững công phu tu hành.
Phật
tử nên nhớ chúng ta tu Phật không phải để cầu phước
báo nhân thiên, mà mucï đích để được giác ngộ giải thoát.
Nếu đời trước ta gieo trồng phước báo, đời này sanh ra
thọ hưởng thì tốt. Nhưng nhớ hưởng phước nhiều mà không
thức tỉnh sẽ khó tu. Khi hết phước sẽ bị thoái đọa.
Phước báo của chúng ta là phước báo của loài người, thuộc
nhân luân so với cõi trời kém xa, nhưng đặc biệt ta có duyên
với Phật pháp, có điều kiện phát trí tuẹâ Bát-nhã, có
khả năng thành Phật. Đây là diễm phúc lớn của mình. Do
vậy chúng ta biết dùng phước báo trong giới hạn của
mình, đồng thời phát huy được chủng Phật sẵn có. Đi
tuy hơi chậm, bước từng bước nhưng quan trọng là bước
vững vàng, đảm bảo đến chỗ an toàn, giác ngộ giải thoát.
Cho
nên chúng ta cũng cần phước báo, nhưng trong giới hạn thôi.
Đủ cơm ăn, áo mặc, khi bệnh hoạn có thuốc men là được
rồi. Đừng đòi thêm nữa. Nếu gia đình ủng hộ thêm, chúng
ta phải biết dừng, cái gì cần thì nhận, không cần thì
thôi. Người tu trong giai đoạn đang công phu phải có lập
trường như thế. Nếu chúng ta cứ theo nhu cầu vật chất
bên ngoài, thì không biết tới chừng nào mới đủ. Lòng tham
của con người ngộ lắm, hồi sáng đi chợ tính mang theo năm
chục đồng, tính ra chợ mua bao nhiêu đó rồi về. Nhưng lỡ
đem tới mấy trăm đồng. Ra chợ thấy cái gì cũng muốn mua,
mua tới hết tiền cũng chưa muốn về nữa. Đó là tai hại
của phương tiện vật chất, chúng ta khó thiểu dục tri túc
được.
Cho
nên Hòa thượng ở đây không cho Tăng Ni giữ tiền riêng.
Bây giờ ra chợ ngó rớt con mắt cũng không có đồng nào
để mua. Mà Hòa thượng cũng đâu cho ra chợ đứng ngó chi
ngoài đó. Nhờ vậy đỡ rất nhiều việc. Phương tiện không
thể không có, nhưng vừa vặn trong điều kiện tu hành của
mình là tốt nhất. Nếu có dư cũng vừa phải thôi, vì dư
nhiều quá sẽ trở ngại cho việc tu hành của chúng ta. Huynh
đệ kiểm điểm lại điểm này, để gầy dựng cho mình một
nếp sinh hoạt tương đối ổn định, bảo đảm công phu tốt
đẹp.
Tu
là tu tâm. Những tâm nhơ nhiễm xấu ác bệnh hoạn, đừng
để nó dấy khởi lên. Đó là một cách tu. Giả như nó lỡ
dấy khởi rồi, chúng ta đừng cho nó dấy khởi tiếp tục
nữa. Nên phát tâm thiện diệu tu tập đúng như lời Phật
dạy. Ứng dụng sự tỉnh sáng hằng ngày gắn bó nỗ lực
công phu. Sự siêng năng liên tục là việc làm chính yếu của
chúng ta. Đây là điều kiện tốt nhất để có được niềm
vui trong tu tập. Hiện tại phúc duyên đã có, nếu ta không
tỉnh táo học Phật pháp, áp dụng Phật pháp, đó là đánh
mất cơ hội, đánh mất phúc duyên lớn lao của mình rồi.
Cho nên chúng ta cần nắm lấy những thiện duyên, phát huy
công phu ngày càng tăng trưởng hơn lên. Đó là người biết
tu, khéo tu.
Khi
tâm đã được tịnh hóa, đó là con mắt thiền đã mở, tánh
giác đã được nhận. Nghĩa là khi chúng ta đã sống được
chính mình, không bị những lăng xăng bên ngoài kéo lôi, tức
là sống với tánh giác. Hòa thượng luôn luôn nhắc nhở chúng
ta phải làm sao sống được với tánh giác của mình. Sống
được với nó mới an toàn. Không có cái an toàn nào khác
hơn. Đức Phật có dạy mê tánh giác là chúng sanh tạo nghiệp,
trôi dạt trong luân hồi sanh tử không có ngày ra. Quay lại
nhận tánh giác là biết trở về với ông Phật của mình,
không còn ngược xuôi trôi lăn nữa.
Nói
tịnh hóa là nói quá trình chuyển nghiệp, dừng nghiệp và
cuối cùng làm chủ được mình. Từ đó ta sống tỉnh giác,
không chạy theo bên ngoài nữa. Chỗ này rất quan trọng. Bởi
vì nếu chúng ta còn ngược xuôi, chưa làm chủ được thì
sẽ bị rơi rớt trong các đường khổ, mất đi cơ hội nhận
lại tánh giác rất nhiều. Thời gian bị rơi rớt đó dài
lâu vô kể: Năm trăm đời, năm trăm kiếp. Mà không biết
đời kiếp của những chúng sanh ấy ra làm sao? Bao nhiêu trăm
năm? Một năm mười hai tháng chịu khổ đọa đày của con
người đây đã là mệt mỏi lắm rồi, huống gì là những
năm trăm năm! Kiểm nghiệm lại điều này, có lẽ huynh đệ
cũng thấy sợ chứ, phải không?
Qua
kinh nghiệm chỉ giáo của các Thiền sư, làm sao chúng ta nhận
và sống được với tánh giác thì vòng lăng xăng ngược xuôi
điên đảo sẽ có cơ dừng lại, ta làm chủ được. Như vậy
thì mình an toàn. Song muốn được thế, đâu phải là chuyện
dễ. Tuy nhiên, không có nghĩa là chúng ta không làm được.
Ai tin nơi chính mình, nơi khả năng thành Phật của mình thì
làm được. Xưa có một Sa di đến hỏi đạo ngài Dược Sơn.
Ngài Dược Sơn hỏi:
- Ta
nghe ở Trường An rất náo loạn. Ngươi có biết chăng?
Sa
di thưa:
- Nước
con an ổn.
- Ngươi
do xem kinh mà được hay do thưa hỏi mà được?
- Chẳng
do xem kinh được cũng chẳng do thưa hỏi được.
- Có
lắm người chẳng xem kinh, chẳng thưa hỏi, tại sao chẳng
được?
- Chẳng
nói họ không được. Chỉ vì họ chẳng chịu thừa nhận
mà thôi.
Nghe
thế, ngài Dược Sơn gật đầu thừa nhận. Thừa nhận cái
gì? Thừa nhận Nước con an ổn của ông Sa di kia. Bởi người
thừa nhận được tánh giác của mình thì sống an ổn, không
còn lăng xăng theo cảnh duyên bên ngoài nữa. Cái đó ai cũng
sẵn có, nhưng vì mình không dám thừa nhận thôi. Vì thế
người nào dám nhận thì người đó hoàn toàn an ổn.
Người
xưa đã khẳng định cho chúng ta thấy mỗi người đều có
đầy đủ sự an lạc, thanh bình thịnh trị nơi tánh giác
của mình, quyết định được việc của mình. Nhưng bởi
chúng ta chưa nhận ra, chưa làm chủ được nên mình cứ bị
ngoại cảnh kéo lôi. Do bị kéo lôi thành ra lăng xăng điên
đảo. Vị Sa di đi học đạo này nói: "Không phải không có,
chỉ vì không dám nhận thôi!” Có khi nói "Mình có tánh giác"
mà chúng ta không biết tánh giác là gì?
Ngày
nay, từ những chỗ chỉ vẽ của người xưa, chúng ta mới
nhận lại tánh giác ấy. Nhận lại từ đâu? Từ các giác
quan, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Nếu chúng ta không còn
lăng xăng nữa thì tánh giác hiển hiện rõ nơi sáu căn. Còn
lăng xăng thì nó lặn mất. Chỉ vậy thôi. Câu trả lời trên
của vị Sa di đã khẳng định quả quyết với Thiền sư là:
Đất nước con bình an, không bị loạn lạc là vì con không
còn lăng xăng nữa. Chẳng những con mà mọi người trên đời
này, ai cũng có sẵn cái bình an không loạn lạc đó. Chỉ
vì họ không dám nhận nên có mà cũng như không. Bởi không
dám nhận nên tới bây giờ vẫn còn chìm nổi trong các đường
khổ.
Bởi
không dám thừa nhận tánh giác ngay nơi mình nên chạy cầu
Phật bên ngoài. Càng chạy ra ngoài là càng sa lầy trong mê
lầm. Mê là gì? Là quên. Quên thế nào? Quên mình có tánh
giác. Bây giờ nhớ lại nhận lại thì hết quên. Hết quên
là hết mê. Cho nên ai dám nhận lại, ai không quên nữa, đó
là người giác. Trong kinh Lăng Nghiêm Phật nói: Người hợp
giác bỏ cái lăng xăng điên đảo bên ngoài, tức là bỏ trần
cảnh bên ngoài. Người đó được an lạc. Phật nói: Chúng
ta không nhận tánh giác nơi mình lại chạy cầu Phật bên
ngoài, đâu biết càng chạy càng bị sa lầy trong mê lầm.
Phật bên ngoài chỉ là đối tượng để cảnh giác chúng
ta thức tỉnh. Trái lại chúng ta không thức tỉnh mà đi xin
xỏ Phật bên ngoài, thế là đã mê lại càng mê.
Cho
nên người biết tu cần phải thức tỉnh nhận lại tánh giác
của mình. Nên nhớ Pháp thân Phật ngay nơi thân năm uẩn này
mà nhận, chớ không ở đâu khác. Nhận được Pháp thân Phật
ngay nơi mình, đó là người đạt đạo. Trong nhà thiền nói
Phật, nói Pháp thân, nói Tánh giác, nói Tâm là chỉ thẳng
cái gốc của mình. Quay về nhận lại cái gốc ấy thì an
lạc. Chỉ thế thôi. Một Thiền sư đã nói như thế này:
Trên đầu núi năm uẩn là ngôi nhà Phật pháp thân, ngày đêm
hằng phóng quang ra sáu cửa. Nếu người khéo ngay nơi đây
nhận lấy, tức là pháp thân khắp cả mười phương. Nguyên
văn bài kệ thế này:
Ngũ
uẩn sơn đầu cổ Phật đường,
Tỳ
lô trú dạ phóng hào quang.
Nhược
năng ư thử phi đồng dị,
Tức
thị Hoa Nghiêm biến thập phương.
Nói
thế cũng là một cách nói, chứ trong thân không biết nó nằm
ở đâu mà chỉ? Nhưng phải biết ngay nơi thân năm uẩn này,
bị vô thường chi phối, không phút giây nào an ổn, lại có
pháp thân Phật không hình không tướng, không bị vô thường
chi phối. Cho nên mục đích tu tập của chúng ta là phải nhận
cho được pháp thân Phật ấy. Nhận được thì Pháp thân
Phật thường phóng hào quang chiếu khắp mười phương. Còn
mê thì phải chịu thân năm uẩn hành hạ suốt đời suốt
kiếp.
Quí
vị nghiệm lại từ khi cha mẹ sinh ra cho tới lớn lên đi
học… Suốt quãng thời gian đó có bao nhiêu đổi thay? Nếu
không có sự đổi thay chi phối thì ta cứ bé thơ hoài, không
lớn được. Nhờ vô thường nên mình lớn lên. Rồi sao nữa?
Rồi già nua bệnh tật và chết. Quá trình như vậy, ai cũng
bị sự chi phối đó trói chặt, không thoát ra được. Chỉ
người nào ở ngay sự chi phối mà nhận được cái không
bị chi phối mới có thể thoát khỏi vô thường. Bây giờ
mình giác, tỉnh quay lại.
Thiền
tông nhìn Phật bằng Pháp thân chân thật. Cho nên thấy Phật
đã có từ vô lượng kiếp, tuổi thọ của Phật bằng tuổi
hư không. Ai biết được tuổi hư không bao nhiêu, hình dáng
ra sao không? Chúng ta mang thân này, dù quý trọng nó bao nhiêu,
bảo hộ bằng mọi phương tiện nhưng đến lúc rã, nó không
chịu hợp lại thì cũng đành bỏ thôi. Các học giả, các
nhà trí thức, các bậc có những bằng phát minh tuyẹât vời,
có thể cải hóa không chết được không? Không. Ai rồi cũng
chết. Cho đến đức Giáo chủ của chúng ta là Phật Thích
Ca đến năm tám mươi, Ngài cũng nói đau lưng, cũng thị tịch
như thường. Phàm những gì hữu hình thì hữu hoại. Thân
của chúng ta đây là hình thức hữu hình của nghiệp báo,
có sanh ắt có diệt. Điều đó rõ ràng như vậy. Chúng sanh
vì nghiệp báo si mê điên đảo nên luân chuyển trong sanh tử,
thọ nhận các thân hữu hình. Bao giờ hết nghiệp, hết phiền
não mới hết thân hữu hình hữu hoại. Cho nên chỉ có những
bậc giác ngộ mới vĩnh viễn xa lìa các nẻo. Sau đó các
Ngài quay trở lại cứu độ, hướng dẫn chúng sanh cùng thoát
khổ sanh tử.
Như
Bồ-tát Quan Thế Âm, Ngài chỉ rưới một chút nước cam lồ
là tắt ngụm hết. Đó là gì? Là tâm thể, là công đức,
là sự an lạc của người đã thực sự sống an ổn. Do Ngài
sống an ổn, đã dứt trừ tất cả chủng tử phiền não nân
mới có năng lực, diệu dụng như vậy. Chứ nếu trong tâm
còn bất ổn thì đâu toát ra ra bên ngoài lực dụng như thế.
Ví dụ như bây giờ chúng ta tiếp khách, trong lòng vui vẻ
không bực bội gì hết thì trà nước nhẹ nhàng, hoan hỷ.
Ngược lại bất đắc dĩ phải tiếp khách, trong lòng ta bực
bội thì có thể ly nước được để xuống bàn một cái
"kịch", muốn bể cái ly luôn! Khi chúng ta nổi sân, cơn sân
ấy thường truyền qua những vật dụng chung quanh. Nhất là
nam giới, giận lên một cái là ly tách tanh bành hết. Bởi
vì cơn tức tối bên trong không hóa giải được, nên nó trút
ra ngoài bằng những cơn giận ấy.
Chúng
ta không hóa giải được phiền não là do không nhận được
trong lâu đài năm uẩn có pháp thân sáng suốt đang phóng hào
quang. Giống như ngôi chùa cổ chưa có Tăng trụ trì nên đêm
đêm ma quái hiện về quậy phá. Khi có vị Trụ trì đến
canh giữ bảo hộ thì ngôi chùa bình an, trang nghiêm, thanh tịnh,
đúng với ý nghĩa của một ngôi già lam. Nếu chúng ta nhận
rõ như vậy, chuyển hóa nội tâm liên tục, nhất định dần
dần sẽ bình ổn. Vì thế Hòa thượng thường dạy: Người
biết tu, tu một ngày bằng người không biết tu, tu một năm.
Giống như giọt nước cành dương của Bồ-tát Quan Thế Âm
rưới lên thì bao nhiêu lò lửa tắt ngủm hết. Trở về với
ông Phật của mình, không chạy theo ngoại trần gọi là người
Hợp giác bội trần.
Việc
tu hành thật ra nhiêu khê lắm, không phải nói là xong đâu.
Ngày xưa trong thời đức Phật, có vị Tỳ-kheo ham tu khổ
hạnh. Thầy tu tập liên tục như thế nhưng tâm dục lậu
không cởi mở được. Trải qua bao nhiêu gắng gổ công phu,
chịu nhọc nhằn khó khổ liên tục, không hề lơi lỏng mà
dục lậu cấu nhiễm vẫn không giải thoát được. Một hôm
thầy tự nghĩ: Mình hiểu biết như thế này, được gặp
đức Thế Tôn, học pháp và tu tập theo sự chỉ dạy của
Ngài mà không giải quyết được dục lậu. Thật vô ích.
Thôi! Thà mình cởi chiếc áo này trả lại cho Phật, ra đời
gầy dựng sản nghiệp, có địa vị, có phương tiện… chừng
đó tập trung công của làm việc công đức. Như vậy có phải
hay hơn không? Chớ tu cầu may kiểu này không xong, bị rớt
trong chỗ tăm tối thì khổ còn hơn nữa. Thế là thầy thoái
tâm bồ-đề.
Đức
Thế Tôn đang đi kinh hành ở hương thất, biết được tâm
niệm của thầy, Ngài thị hiện đến. Thầy Tỳ-kheo kia đảnh
lễ xong, Thế Tôn nói:
-
Này Tỳ-kheo! Ông tu hành siêng năng, nhưng không giải quyết
được vấn đề dục lậu nên thoái tâm. Từ đó ông cho rằng
làm một cư sĩ tại gia có nhiều tiền của, có địa vị,
sau này ủng hộ Phật pháp sẽ tốt hơn. Do đó ông muốn trả
áo lại cho Như Lai phải không?
Thầy
Tỳ-kheo thưa:
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn! Con đã có những suy nghĩ như vậy.
Đức
Thế Tôn hỏi:
- Nay
ta hỏi ông, ông tùy đáp lời ta.
Thầy
Tỳ-kheo vâng lời, chờ đợi đức Phật hỏi.
- Này
Tỳ-kheo! Xưa lúc ở ngoài đời, ông thạo nhất nghề gì?
- Bạch
đức Thế Tôn! Con thạo về âm nhạc. Con hay chơi đàn.
Phật
hỏi:
- Nếu
lên dây đàn căng quá, âm thanh có hay không?
- Bạch
Thế Tôn! Nếu dây đàn căng quá thì dây sẽ đứt, không đàn
được nữa.
Phật
hỏi tiếp:
- Nếu
dây đàn chùng quá thì sao?
- Bạch
Thế Tôn! Nếu dây đàn chùng quá thì đàn sẽ không kêu.
Bấy
giờ Phật hỏi:
- Nếu
dây đàn không quá căng cũng không quá chùng thì tiếng đàn
sẽ như thế nào?
- Bạch
Thế Tôn! Nếu dây đàn vừa chừng, hợp lý thì ta có thể
dạo một bản nhạc rất hay.
Phật
bảo:
- Cũng
thế, người tu quá tinh tấn năng nổ sẽ giống như lên dây
đàn quá căng, nó sẽ đứt chớ không thể dạo được một
bản nhạc như ý mình muốn. Còn người giải đãi, lười
biếng, suốt đời tu hành chẳng tới đâu, cũng sẽ không
đưa đến kết quả gì. Ngươi có thể thực hành công phu
tránh khỏi hai bệnh này. Đó là cách tốt nhất để thành
tựu việc tu học.
Thầy
Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong liền thay đổi cách tu, chẳng bao
lâu thầy chứng quả A-la-hán.
Qua
câu chuyện trên, chúng ta rút ra được một bài học kinh nghiệm,
siêng năng quá mức, khổ hạnh quá mức sẽ đưa đến bệnh
quá năng nổ thành trạo cử, lăng xăng. Ngược lại buông
lung phóng túng quá mức cũng sẽ đưa tới kết quả tương
tự. Cả hai trường hợp này đều là bệnh, mà đa số chúng
ta thường mắc phải. Làm sao chúng ta quân bình, điều hòa
là tốt nhất. Tôi dẫn câu chuyện này để kết lại việc
tu hành của chúng ta. Nhận ra tánh giác không phải việc dễ
dàng, nhưng cũng không phải quá khó khăn. Miễn sao chúng ta
tránh, đừng mắc bên này đừng dính bên kia. Chủ yếu trong
công phu phải hài hòa, an ổn, giải quyết được tất cả
những dục lậu của mình. Cho nên tinh tấn trong nhà Phật
là tinh tấn trong tinh thần trung đạo, không nên thái quá hay
bất cập. Đừng có tu chết sống trong một hai ngày, rồi
sau đó nghỉ cả tuần hay cả tháng. Tu như vậy là tự làm
cho mình thoái thất đấy. Huynh đệ chúng ta nên ghi nhớ kỹ
cho điểm này.
Cho
nên việc tu hành, con đường Bồ-tát đạo của chúng ta không
biết dài lâu bao nhiêu? Chừng nào thành Phật ai biết được?
tốt nhất ta đừng nghĩ ngợi gì cả, cứ công phu đều đặn
mỗi ngày. Miễn sao từng phút giây ta đừng bị kéo lôi bởi
ngoại cảnh hay vọng tưởng, sống được với sự an lạc
của mình. Chừng nào thành Phật cũng được cả, không khởi
tâm mong cầu. Vì còn khởi tâm là còn động niệm, như vậy
sẽ không bao giờ thành tựu Phật quả.
Chúng
ta phải điều hòa công phu, đừng quá khắt khe, thẳng bẳng.
Tuy nhiên cũng không nên xìu xìu, dễ duôi, lười nhác. Chúng
ta cố gắng làm sao tư duy lời Phật dạy, tạo cho mình một
nếp tu hành khắc tỉnh trong từng hành động, việc làm, nắm
được thế chủ được. Từ cái tỉnh, cái làm chủ đó,
chúng ta sẽ nhận tánh giác của mình. Nhận được tánh giác
rồi thì có cơ sống lại với bản lai diện mục muôn thuở,
không còn phiền não, không còn trôi lăn trong sanh tử đau khổ
nữa.
Chúng
ta là Phật tử, tức con trai con gái của Phật, nên phải nghe
lời Phật dạy, học theo những kinh nghiệm của chư Tổ trước,
tự thành tựu cho mình con đường Phật đạo bằng chính sự
nỗ lực của bản thân. Đây là niềm phấn khởi, là điểm
tựa, là kinh nghiệm quí báu của mỗi chúng ta. Làm sao huynh
đệ chúng ta được như vị Sa di đến học đạo với tổ
Dược Sơn, Đất nước con an ổn. Dù cho bên ngoài có phong
ba bão tố gì gì, đất nước con vẫn luôn bình an. Sự bình
an đó chính là mùa xuân miên viễn trong mỗi chúng ta.
Chiêm
nghiệm như vậy, tâm niệm như vậy, tất cả chúng ta đều
là những người đồng chí đồng hạnh, cùng nhau nâng đỡ
sách tấn huynh đệ tiến tu. Với một tâm nguyện duy nhất,
là “Tu tập phát huy hành đạo cho đến khi nào bằng Phật
mới vừa lòng con”.
Nhân
ngày đầu xuân, chư huynh đệ tề tựu về đây lễ đức
Phật tương lai của chúng ta, chúng tôi có vài niềm vui đầu
xuân xin được gởi đến toàn thể quí huynh đệ, gởi đến
đạo tràng, với ước vọng tất cả chúng ta nghe, nhận và
cùng tập trung ý chí phấn đấu tu tập. Phát nguyện dũng
mãnh thực hiện trọn vẹn được niềm vui đại hoan hỷ như
đức Phật Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn.
Người
Gửi: Chơn Định 29-01-04