TẾT THA
HƯƠNG
GSTS
NGUYỄN CHUNG TÚ
Còn
phải qua một mùa Đông nữa…
Đó
là câu nói ở cửa miệng du học sinh khi lá cây platane (dương
ngô đồng) bắt đầu rụng, gió đổi chiều từ đất liền
tới, thay vì từ biển vào. Kẻ tha hương nhớ nhà, nhớ
trường học, nhớ quê hương chan hòa ánh nắng:
“Vi
lô san sát hơi may,
Một
trời Thu để riêng ai một người”.
“Thu
tiêu chỉ vị nhất nhân trường”.
Hai
câu kiều phỏng theo đường câu Đường thi đó “Thu buồn
chỉ dài cho một người”.
Thu
buồn nhưng Thu đẹp: rừng Paimpont nhiều màu hơn cả cầu
vồng,
“Rừng
Thu tầng biếc chen hồng,
Nghe
chim như nhắc tấm lòng thân hôn”.
Lá
vàng, rồi đỏ, rồi nâu trước khi rụng, xen với lá cây
khác còn xanh. Thung lũng Chevreuse biến đi trong sương mù dày
đặc, các thân cây như treo trong không.
“Đêm
Thu, khắc lậu, canh tàn,
Gió
cây trút lá, trăng ngàn ngậm gương.
Lối
mòn, cỏ lạt màu sương,
Lòng
quê đi một bước đường một đau”.
Thu-Đông
nhớ nhà hơn là Xuân-Hạ, có lẽ vì…
“Cảnh
buồn người có vui bao giờ”(nhại một câu Kiều).
Công
viên Tabor, cỏ xén, cây trồng, hoàn toàn nhân tạo, rực rỡ
đẹp đến đâu cũng không mang lại được niềm vui cho kẻ
xa nhà.
Nhưng
chính những hôm tuyết phủ đầy trời lại là những hôm
làm việc có quả nhất vì quyết tâm làm việc cho quên lòng
nhớ quê hương, mà trời rét làm việc không mệt khi phòng
thí nghiệm được sưởi tới +16 degree, mặc dù ngoài đường
nhiệt kế chỉ dưới 0. Buổi sáng, 8 giờ 30 trời mới sáng
bạch, nên 9 giờ mới bắt đầu hoạt động được, 10 giờ
30 phải ngưng lại, vào căn tin uống một tách cà phê sữa
nóng (coffee break). 12 giờ nghỉ ăn trưa, rồi có thể làm
việc cho tới 20 giờ, cho tới khi bà đầm già làm bảo vệ
(!) đi khắp các hành lang, vừa đi vừa lắc chuông, báo hết
giờ rồi, trường sắp khóa cửa. Cố nhiên không thể thiếu
tách trà Á Đông trong khoảng từ 16 tới 17 giờ, uống với
biscuit của phương Tây, khi màng đem buông xuống vào lúc…
16 giờ 30!
Tháng
11 (các cụ gọi là “tháng một” còn tháng 1 các cụ gọi
là tháng Giêng) là tháng thời tiết xấu nhất, trời lúc nào
cũng đầy sương mù, cách xa 5 mét không trông thấy gì cả.
Có một năm, tôi lái xe ô tô từ Paris về Rennes (347 km) trong
dịp lễ Toussaint, chỉ có thể đi nhanh 25km một giờ vì không
nhìn thấy đường, cả một ngày ngồi trong ô tô! Noel trời
có thể lại đẹp, ca dao Pháp có câu:
“Noel
au balcon
Pâques
au tison”
Ý
nói Noel có năm trời nắng ấm, có thể ra balcon sưởi, còn
Pâque (tháng 4) có năm trời hãy còn rét, phải sưởi trong
nhà. Tháng Giêng mới là tháng rét nhất. Theo lịch thì
mùa Xuân bắt đầu 21 tháng 3 (Xuân phân, équinoxe du printemps,
ngày đêm dài bằng nhau) nhưng thực tế, tháng 5, mùa Xuân
mới bừng nở, các nhà văn gọi là Renouveau (tái sinh) cũng
như tháng 10 mùa Thu bắt đầu, họ gọi là fall (lá rụng).
Ngày mùng một tháng 5, người ta tặng nhau hoa muguet, để mừng
Xuân tới:
“Sen
tàn cúc lại nở hoa
Sầu
dài, ngày vắn, Đông đà sang Xuân”
Thật
vậy,
Ngày
Xuân con én đưa thoi,
Thiều
quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ
non xanh tận chân trời,
Cành
lê trắng điểm một vài bông hoa”.
Khí
hậu Trung Quốc và châu Âu tương tự nhau. Tháng ba, hoa hạt
dẻ trắng (amandier) nở đầu tiên. Rồi đến hoa táo (pommier)
màu hồng. Thật là đẹp, đẹp nhẹ nhàng, với các màu
sắc nhạt nhạt. Thế rồi, du học sinh chạnh lòng nghĩ tới
cảnh ngộ tha hương của mình và tới hai câu của Nguyễn
Du:
“Buồn
trông phong cảnh quê người,
Đầu
cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa”.
“Nhạn
thưa”, mùa Xuân đã tới gần “chín chục” và “quyên
nhặt”, mùa Hạ đang tới:
“Dưới
trăng, quyên đã gọi hè,
Đầu
tường lửa lựu lập lòe đâm bông”
Hoa
lựu đỏ một cách dữ dội chớ không hồng hồng nữa:
“Lần
lần ngày gió đêm trăng,
Thưa
hồng rậm lục đã chừng Xuân qua”
Màu
hồng của hoa mùa Xuân và màu lục của lá mùa Hạ là hai
màu mà tiếng nhà nghề gọi là hỗ bổ (complémentaires), nghĩa
là hợp lại cho màu trắng. Vì vậy hai màu tương phản và
gần nhau thì rất nổi.
Thế
rồi du học sinh lại ngao ngán:
-
Còn phải qua một mùa Đông nữa!
Vì
bốn mùa quay vòng:
“Sân
ngô cành biếc đã chen lá vàng.
Giậu
thu vừa nảy giò sương…”
“Rừng
phong Thu đã nhuốm màu quan san”
Mùa
lạnh, do sương mù, trên mặt đất có giá (Verglas) làm cho
đường trơn như có ai đổ nhớt trên đó. Xe cộ đi lại
rất nguy hiểm. Văn hào André Malraux đã mất một lúc hai
người con trai cùng đi trong một xe ô tô. Văn hào Albert Camus
(1931-1960), giải Nobel văn chương 1957, đã là nạn nhân của
Verglas vào tháng Giêng 1960. Xe ông bị trượt bánh, hút vào
gốc cây, cảnh sát công lộ mất một tiếng đồng hồ mới
lôi được xác ông ra khỏi xe co rúm lại chỉ còn hai phần
ba.
Du
học sinh vẫn đi làm, đi học trong ngày Tết Nguyên Đán.
Chỉ có đêm hôm trước “coi là giao thừa” (thực ra lúc
đó ở Saigon đã là 7 giờ sáng mồng một Tết rồi), mấy
anh em hợp mặt tiễn năm cũ. Ở Paris, tiệm ăn Việt và
Hoa nhiều lắm, thứ gì cũng có, kể cả cà cuống cay mà bên
nhà không có. Nhưng bên nhà vì tình cảm, vẫn gửi cấp
tốc mày bay nào là lạp xưởng, nào là giò, chả, giò thủ,
kể cả dưa hành, trứng phì tản mà hải quan ở Orly đã làm
khó dễ vì… mùi của chúng.
Bốn
mùa phải quay vòng năm lần tôi mới trở lại quê hương chan
hòa ánh sáng. Ngày nay hồi tưởng lại, mới nhận thức
được rằng quãng đời lập nghiệp gian truân ở phương Tây
đã được đền bù xứng đáng bằng những cống hiến trong
hơn ba thập niên ở quê nhà, nghiệm đúng chân lý: “Không
làm gì có bất chiến tự nhiên thành; không đổ mồ hôi,
nước mắt thì không bao giờ gặt hái được kết quả”.
Tất
cả vấn đề là-đúng như Pierre Curie đã nói- “Phải biến
cuộc đời thành một giấc mơ, và giấc mơ thành hiện thực”.