Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen Thực Hiện
XUÂN TƯƠI THẮM  
Thích Phụng Sơn

Mỗi năm, người dân Việt Nam dù theo tôn giáo nào cũng đều ăn mừng Tết Nguyên đán. Nguyên là bắt đầu, đán là buổi sớm mai. Tết Nguyên đán là lễ chào mừng một năm mới, một nguồn hy vọng mới với tất cả sự mới mẻ trong lòng chúng ta cũng như cảnh vật thiên nhiên bên ngoài. Việc cử hành các lễ lạc mừng xuân mang rất nhiều ý nghĩa trong lòng người dân Việt trong nhiều gian đoạn lịch sử thăng trầm của dân tộc. Lúc thanh bình là lúc cảm tạ Phật Trời đã giúp cho người dân sống đời an lạc, vua chúa cai trị anh minh, thời loạn lạc chiến tranh thì tỏ lòng mong ước sớm có hòa bình thịnh trị, lúc xa xứ thì tỏ lòng cầu chúc quê nhà sớm được an vui, người xa nhau chóng được đoàn tụ.

Dù bận bịu chuyện gì vào những ngày gần tết, người dân Việt Nam đều lo trang hoàng lại nhà cửa, đánh bóng lại các lư hương chân đèn bằng đồng, cùng chưng dọn lại bàn thờ cho đẹp đẽ. Hoa quả được bày biện trang hoàng, các câu đối cũ, nếu có thể được thay bằng câu đối mới. Mỗi nhà đều cố gắng sắm sửa bánh tét, bánh chưng, dưa, hành, mứt, hạt dưa, bông hoa, quả phẩm. Các người thuộc dòng thứ còn gởi Tết (phẩm vật để cúng) tới nhà trưởng, tức là người con trưởng có trách nhiệm đại diện các em và con cháu để cúng tổ tiên trong dịp tết.

Lễ Gia Tiên hay Cúng ông Bà:

Chiều ba mươi Tết, sau khi giải quyết các việc cần thiết cũng như trang hoàng, bày biện bàn thờ, các gia đình Việt Nam sửa soạn lễ cúng gia tiên. Nhang đèn trên bàn thờ được thắp sáng và tỏa mùi thơm thanh khiết, hoa quả, phẩm vật được bày biện đẹp mắt. ở Việt Nam trước đây nhang vòng được dùng vào ngày lễ cúng gia tiên vào chiều 30 Tết, lễ mời ông bà cha mẹ về ăn tết cùng con cháu, vì nhang vòng cháy suốt đêm mới hết. Trên bàn thờ ông bà luôn luôn có hương khói trong ba ngày tết. Người gia trưởng đại diện cho mọi nguời khấn tên vị quá vãng và mời họ về chứng giám cùng chung vui ba ngày xuân. Sau đó theo thứ bực mỗi người tuần tự đến bàn thờ lễ bốn lạy và vái ba vái. Cùng vào lúc ấy tiếng pháo nổ rộn ràng ngoài sân làm cho không khí thêm phần vui tươi, háo hức. để tỏ lòng thành kính, sáng mồng một Tết chúng ta cũng lễ gia tiên, cỗ chay hay mặn. Những người Phật tử thường cúng chay. Có những ông bà trước khi qua đời tu hành tinh tấn, dặn dò con cháu khi đến ngày kyï giỗ chỉ cúng chay nên họ thực hành điều đó. Vì thế ngày Tết nhiều gia đình nấu mâm cỗ chay và đặt mua các thứ bánh chay để cúng và cùng đãi đằng những Phật tử đến viếng thăm vào ngày mùng một Tết.

  Ý nghĩa việc cúng ông bà trong ngày Tết: 

 Chúng ta đang ở thời đại khoa học tân tiến, mọi người đều biết thế giới ngày nay rộng lớn mênh mông. Quả đất to lớn của chúng ta chỉ là một thành phần nhỏ bé của thái dương hệ, gồm mặt trời và các hành tinh khác. Giải Ngân Hà, thế giới chúng ta có đến hàng tỷ tỷ mặt trời. Như thế thái dương hệ cũng chỉ là một thành phần rất nhỏ của Giải Ngân Hà, ví như một hạt bụi cô đơn trong lâu đài to lớn. Giải Ngân Hà cũng chỉ là một thế giới nhỏ bé so với hàng tỷ tỷ thế giới khác trong vũ trụ rộng lớn mênh mông. Kinh điển Phật Giáo gọi bầu vũ trụ mênh mông rộng lớn đó là tam thiên đại thiên thế giới mà trái đất chúng ta là một thành phần cũng được ví như hạt bụi nhỏ cô đơn trong một căn phòng vĩ đại. Khi cúng kyï ông bà ta khấn nguyện tên người quá vãng, hay lúc chúng ta làm lễ gia tiên, mời ông bà về cùng hưởng xuân với con cháu thì họ từ đâu trong cõi vũ trụ mênh mông ấy trở về với chúng ta. Khi ta thành tâm đốt nén nhang cùng để lòng thanh tịnh mà khấn nguyện các vị quá vãng, một sự nhiệm mầu hưng khởi trong tâm ta. Lúc đó lòng thành bao trùm tất cả, không có một ý tưởng tạp nhạp nào xen vào. Tất cả bên trong cũng như bên ngoài trong sạch và vắng lặng. Tâm, ta trở nên rộng lớn mênh mông như vũ trụ, đèn nhang, bông hoa quả phẩm ngời sáng lung linh; sự an lạc và tĩnh lặng tràn đầy khắp chốn. Với tâm rộng lớn, ngời sáng, rỗng lặng và an vui đó con cháu nghĩ tưởng đến ông bà cha mẹ thì ông bà cha mẹ hiện ra tràn đầy an vui tươi sáng trong tâm con cháu và cùng vui hưởng ba ngày xuân. Mỗi người trong gia đình từ giờ phút ý thức nhiều hơn đến việc đem lòng thương mến mà đối xử, nói năng với nhau, trẻ con người lớn đều hớn hở vui tươi, chuẩn bị cho buổi cúng giao thừa với sự hiện diện của ông bà cha mẹ tràn đầy nơi tâm chúng ta. Lòng yêu thương hiếu kính  của con cháu đã xóa tan sự cách biệt về không gian lẫn thời gian, giữa kẻ sống và kẻ qua đời. Ba thời quá khứ hiên tại và vị lai cùng hai cõi sống và chết đã hợp thành một chốn trong sáng, an vui, rộng lớn bây giờ và nơi đây.

Lễ đón giao thừa:

 Giao là giao lại cái cũ và thừa là tiếp nhận cái mới. Người á đông trước đây tin rằng hàng năm có một vị thần Hành Khiển coi việc nhân gian, hết năm thì có vị Hành Khiển mới thay vị Hành Khiển củ. Lễ Giao Thừa là cúng tế tiễn đưa ông cũ và chào mừng vị mới. Sau nầy Lễ Giao Thừa mang nặng ý nghĩa tống cựu nghinh tân, tiễn đưa cái cũ và đón chào tất cả sự mới mẻ tốt đẹp của năm sắp đến. Lễ này cũng được gọi là Lễ Trừ Tịch. Trừ tịch là giờ phút cuối cùng của năm cũ sắp bắt qua năm mới. Vào chiều ngày 30 tháng Mười hai âm lịch, chùa cử hành lễ tiến cúng chư hương linh, hiệp kyï các vị Tổ Sư khai sơn cũng như các vị Tăng Sĩ viên tịch. Sau đó là cúng linh vị các vị Phật tử quá vãng ký linh tại chùa. Lễ giao thừa được cử hành long trọng tại các tư gia, đình, miếu. Bàn thờ giao thừa được bày ở ngoài sân, trên bàn thờ trầm hương bốc khói, hai cây nến thắp sáng hai bên, bông hoa quả phẩm được chưng bày gọn ghẽ. Gia trưởng đại diện mọi nguờ dâng hương khấn nguyện. Lễ giao thừa xong người Phật tử lên chùa lễ Phật, nghe giảng và hái lộc đầu xuân. Ngoài ra, nhiều Phật tử đón giao thừa tại chùa rồi sau đó mới cúng ở nhà vì lễ giao thừa ở chùa trang nghiêm và có nhiều đạo vị.

Ngày vía đức Phật di lặc

Ngày vía tức là ngày đản sanh của các vị Phật hay Bồ Tát.  Bên Công Giáo hay Tin Lành có rất nhiều ngày giáng sinh, còn bên Phật giáo thì có rất nhiều ngày đản sanh, tức là ngày vía của nhiều đức Phật khác nhau.  Như ngày vía của đức Phật Thích Ca đản sanh vào ngày rằm tháng tư âm lịch, vía đức Phật A Di đà vào ngày 17 tháng 11, vía đức Phật Di Lặc vào ngày mồng một Tết, vía đức Quan thế âm vào ngày 19 tháng 6.  Chúng ta  thường nghe nói đến ngày lễ đức Phật đản sanh vào ngày rằm tháng tư và có thể ít nghe nói đến một ngày lễ quan trọng trong chốn thiền môn là ngày lễ đức Phật Di Lặc.  Có thể vì có sự trùng hợp với ngày Tết  cho nên có nhiều người nghĩ rằng ngày xuân đi chùa lễ Phật, thăm các vị Tăng Ni, gặp gỡ các vị đồng đạo, cùng tụng kinh niệm Phật và cùng hái lộc đầu năm ở chùa.  Chúng ta hãy tìm hiểu xem ngoài việc đi chùa như thế, ngày xuân còn có ý nghĩa gì đối với người xuất gia và tại gia.

Khi gần đến giờ giao thừa, các Phật tử ngồi theo thứ lớp ở chánh điện, nam bên tả, nữ bên hữu.  Ba hồi chuông báo chúng nhắc nhở các vị Tăng Ni chuẩn bị y hậu chỉnh tề.  Ba hồi bảng tiếp theo báo hiệu hành lễ sắp bắt đầu.  Ba hồi chuông trống bát nhã ngân lên theo tiếng chân của các vị Tăng vân tập chánh điện rồi an vị.

Giờ giao thừa vừa điểm thì một tràng pháo nỗ giòn giã vang lên, vị Hòa Thượng, Tăng chúng và toàn thễ Phật Tử cử hành lễ giao thừa:

- Dâng hương cúng Phật, đảnh lễ Phật và các chư Phật  và Bồ Tát
-  Làm lễ cầu an cho tất cả các Phật Tử hội viên và gia quyến.  Cầu cho quốc thái dân an
-  Tụng kinh Phổ Môn Bát nhã và kết thúc bằng tam quy

Sau đó vị giảng sư của chùa giảng về sự tích và ý nghĩa ngày vía đức Phật Di Lặc liên quan đến lòng cầu mong giác ngộ của Phật Tử.  Tiếp đến là chư vị Tăng Ni đảnh lễ chúc mừng Hòa Thượng và vị này chúc lại chư Tăng.  Phật tử chúc mừng và cám ơn chư tăng đã dìu dắt họ tu học và sống cuộc đời thanh đạm, tinh tấn tu hành để làm gương cho mọi người.  Hòa thượng đại diện chư tăng mừng tuổi quý Phật Tử, chúc họ được mọi sự an lành và tiến trên con đường học đạo.

Chúc mừng năm mới:

Sáng mồng một Tết, chùa cử hành lễ thù ân để tỏ lòng kính trọng và nhớ ơn chư Phật, chư Bồ Tát đã thị hiện trong cõi đời này để khai thị Phật Pháp, cùng các bậc Tổ Sư, Tôn Túc đã dẫn dắt Phật Tử trên con đường tu học an vui.  ở các Thiền viện, các vị Phật được xướng tên là sáu vị đức Phật đến đức Phật Thích Ca sau đó là hai tám vị Tổ sư Tây Trúc rồi đến các vị Tổ Trung Hoa kế tiếp.  Thiền nhấn mạnh đến tâm ấn truyền thừa như là một sợi dây dài không đứt đoạn từ xưa đến nay.  Việc niệm danh hiệu các ngài là xác nhận việc tâm ấn truyền thừa và tỏ lòng kính ngưỡng các vị tiền bối đó.

Nội dung ngày lễ:

Chúng ta tự hỏi hình thức lễ lạc như vậy chỉ là tập quán, một cuộc tụ họp vui vẻ hay còn có ý nghĩa nào khác?  Tại sao người Phật Tử xem lệ vía đức Phật Di Lặc vào ngày mồng một Tết là quan trọng trong đời sống tu tập của họ? Muốn hiểu điều này chúng ta phải đi sâu hơn vào sự mầu nhiệm của tâm uyên nguyên nơi mỗi chúng ta.

Phật giáo thường đề cập đến ba thân Phật: Pháp Thân, Báo Thân và Hoá Thân Phật.  Pháp Thân là Thân tròn đầy và khắp giáp vũ trụ.  Phật và chúng sanh không có gì khác nhau.  Phật tánh luôn luôn hiện hữu nơi chúng ta, chiếu sáng tràn đầy nhưng chúng ta bị các ham muốn, lo lắng buồn phiền che mờ nên không nhận biết được các Phật tánh ấy.  Báo Thân là hình tướng tốt đẹp trang nghiêm của những vị Phật đã thành chánh giác.  Nơi chúng sanh là thân và tâm tràn đầy niềm an lạc, hạnh phúc bao la khi thực hành sự tu tập.  Hóa thân là thân của các ngài thị hiện làm người để giúp đỡ kẻ khổ đau cùng hướng dẫn loài người trên con đường an vui hạnh phúc.  Ba thân này luôn hiện hữu mà không ngăn ngại nhau.  Chúng ta thường nghe nói chúng sanh vì ham mê tánh giác nên sống trầm luân trong khổ đau, còn đức Phật là người thấy rõ các hiện tượng vật chất và tâm lý đều nương tựa vào nhau mà có mà hiện hữu, có tính cách vô thường và vô ngã nên sống trong thế giới đảo điên nhưng luôn an nhiên tự tại.

Sự thực tập đạo Phật siêng năng giúp ta kinh nghiệm được niềm an vui kỳ diệu vốn rộng lớn bao la và mãi mãi có mặt, trong sáng tinh sạch.  đó là tính cách chân thật, chân thường, chân ngã, chân lạc, chân tịnh của con người chân thật, của chân tâm hay Phật tánh của mỗi chúng ta.  Do đó khi đi chùa vào dịp đầu năm, có người Phật tử cầu lộc, cầu phúc nhưng có nhiều người bày tỏ ước mong tu hành tinh tấn và hướng về sự giải thoát an vui vô cùng.  Phật giáo chú trọng đến sự trong sạch của tâm tức là buông thả tất cả các vọng niệm (ý tưởng phân biệt, so đo hiềm khích khen chê, hay dở...) Khi tâm buông thả mọi tạp niệm gây ra phiền não thì tâm chúng ta tự nó trở thành trong sạch, chiếu sáng rỗng lặng.  Tánh tự nhiên của ta, con người chân thật của ta, các bản lai diện mục (mặt mũi ngàn đời) tự nó lộ diện tự nó tỏa sáng.  Lúc đó tâm chúng ta đi vào cõi an bình rộng lớn.  Chúng ta uống ngụm nước đầu nguồn của dòng suối uyên nguyên nơi chính chúng ta.  Khi tâm đã an bình như thế thì chúng ta tức khắc hiểu được thực tại một cách trực tiếp không qua các lời nói hay chữ viết, nói theo ngôn ngữ của Lăng Già, sự mầu nhiệm đó được thể hiện qua bài kệ ca ngợi tâm giác ngộ của Bồ Tát đại Huệ như sau:

Thế giới lìa sanh diệt
Ví như hoa hư không
Trí chẳng thấy có không
Mà khởi tâm đại bi
Các pháp đều như huyễn
Xa lìa nơi tâm thức
Trí chẳng thấy có không
Mà khởi tâm đại bi
Xa lìa chấp đoạn thường
Thế gian hằng như mộng
Trí chẳng thấy ý có không
Mà khởi tâm đại bi
Biết nhân pháp vô ngã
Phiền não và sở tri
Thường thanh tịnh không tướng
Mà khởi tâm đại bi.
Nói khác đi khi ta buông thả tất cả các ý tưởng phân biệt, mâu thuẫn tương tranh thì tâm ta đi vào chốn yên lặng sâu thẳm tự nhiên của nó.  Từ chốn yên lặng sâu thẳm tự nhiên ấy mà lòng thương yêu rộng lớn (từ bi) và sự hiểu biết chân thật (trí tuệ) bừng dậy đưa ta và thế giới của tình thương bao la ngời sáng không chủ thể đối tượng tràn đầy yên vui.  đó là tâm chân thật, tâm Phật hay còn gọi là tâm giải thoát.  Và đó chính là mùa xuân Di Lặc.

đầu năm chúng ta thường niệm Nam mô Di Lặc Tôn Phật.  Ngài tượng trưng cho nguồn vui uyên nguyên, linh động chiếu sáng cho nên tượng ngài được tạc theo hình ảnh một ông Phật to lớn, rất mập mạp, ngồi rất tự tại, áo phanh ngực ra và miệng cười rạng rỡ.  Trên người vị Phật đó còn có sáu đứa bé tinh nghịch, đứa móc tai, đứa sờ mũi, đứa kéo miệng..  Tên Di Lặc là chữ phiên âm từ tiếng Phạn (Sankrist) là Maitreya có nghĩa là Từ Thị (Thị: họ; Từ: từ bi),vì người tu Từ tam muội, tâm luôn chiếu ánh sáng của tình thương yêu trong lành và rộng lớn và phát nguyện cứu độ mọi người.  Khi lòng thương yêu tràn đầy thì sự hiểu biết chân thật chiếu sáng cho nên tâm luôn an vui trước mọi biến chuyển trong cuộc đời.  Sáu đứa bé là sáu căn của chúng ta (tai, mắt, mũi, lưỡi, thân và ý, luôn luôn thúc bách đòi hỏi)  Nhưng khi đã thâm nhập vào niềm vui kỳ diệu của tánh chân thật tự nhiên của mình thì mọi thúc bách mọi đòi hỏi bên trong đều trở thành một sức mạnh duy trì tâm bình an, limh động và toả sáng.  Từ đó sự an vui tự nhiên xuất hiện nên chúng ta thoải mái và tự tại trong cuộc đời biến chuyển và náo nhiệt.  Vì thế ngày mồng một Tết lễ chùa không phải là chỉ cầu xin để được giàu sang mà chính là để chư Phật gia hộ cho tâm an vui, gia đạo bình an, phát tâm rộng lớn tu hành để chóng thành Phật quả như Thiện Tài cầu đạo trong kinh Hoa Nghiêm:

Các bậc dũng mãnh vĩ đại đó
đã thành tựu vô số hạnh
An trụ nơi tháp này
Tôi chắp tay kính lễ
Tôi nay cung kính lễ
đức Di Lặc tôn quý
Là con trưởng chư Phật
Mong ngài đoái tưởng tôi.
Hái lộc đầu xuân

Hái lộc đầu xuân là một tục lệ của người VN.  Chuà ở quê nhà thường rộng rãi, vườn tược được chăm sóc kỹ luỡng.  Vào mùa xuân cành lá mới đâm chồi nảy lộc nhiều loại hoa xuân hé nở xinh tươi.  Quanh năm ai cũng bận bịu lo làm ăn, ba ngày xuân mỗi nhà đều cố gắng mua những cành mai chậu cúc đẹp đẽ đễ chưng bàn.  Dù ở nhà đã có hoa, người Phật tử đến chùa thường thỉnh một nhánh lộc đầu xuân, một nhánh cây hay một cành hoa nhỏ.  Chùa là chốn đạo tràng thanh tịnh.  Phật tử tin rằng sự thanh tịnh an vui của chốn thiền môn thấm nhuần cây cỏ cây cối chung quanh.  Tâm của các vị tu hành thanh tịnh thì cõi đời thanh tịnh.  Nhận một cành lộc đầu xuân hay  để tránh việc cây cảnh bị bẻ, các vị tăng ni phát một cành hoa cho người Phật tử đem về nhà hay để vào chỗ cao ráo sạch sẽ hoặc là chưng nơi bàn thờ để được sự bảo vệ che chở của chư Phật.  Riêng những người Phật tử mong cầu giác ngộ hái lộc về nhà không chỉ để có được nhiều sự may mắn trong năm mới mà còn biểu lộ lòng mong ước được cận kề với thế giới chư Phật mà kinh điển thường mô tả là chiếu sáng bởi những cành vàng lá ngọc tiếng nhạc êm ả huyền diệu từ các tiếng hót của các loài chim quý.  Khi đem một nhánh cây hay một cành hoa về nhà với niềm tin và sự an vị tràn đầy trong lòng thì đó tức là phép màu đã thể hiện.  Tâm của chúng ta đã vượt ra khỏi giới hạn của thấy biết hạn hẹp mà đi vào chốn vô cùng.  Cành lộc đầu xuân trở nên sáng chói trong lòng chúng ta và cả bên ngoài.  Với cái tâm an vui và rực sáng đó chúng ta sum họp gia đình thì lòng ta tràn đầy tình thương yêu vợ chồng, cha mẹ, ông bà, con cháu thân thuộc và bạn hữu.  Thế giới bên ngoài vẫn ồn ào nhưng trong tâm ta từ khi thấy được nụ hoa xuân hé nở thì vũ trụ bên ngoài không còn như trước nữa: màu sắc tươi thắm và rực rỡ hơn, các chuyển động xô bồ ồn ào diễn ra trong thanh bình êm ả, bầu trời trở nên cao hơn rộng hơn...

Nền văn minh Phật giáo với lòng bao dung đáng cho chúng ta suy nghĩ thêm về khả năng đóng góp vào sự hiểu biết và hòa hợp nhân loại.  Và chúng ta trên con đường tìm về con đường cội nguồn hạnh phúc bao la thực hành sự buông xả, sự tha thứ, lòng bao dung cho mình lẫn cho người để tình thương yêu nồng ấm bao la và sự hiểu biết chân thật bùng dậy tràn đầy đưa ta về chốn hạnh phúc vô cùng ở nơi chính cuộc đời này như Thiền sư Viên Chiếu đã mở bày:

đạo vốn không nhan sắc
Mà ngày thêm gấm hoa
Trong ba ngàn cõi ấy
đâu chẳng phải là nhà
Ngôi nhà chân thật của chúng ta chính là suối nguồn hạnh phúc tụ lại thành biển lớn.  đó chính là mùa xuân vĩnh cửu hay là mùa xuân Di lặc vậy.
Tuyển Tập Xuân
Thư Viện Hoa Sen