HƯƠNG PHÁP
MÙA XUÂN
Định
Hương
Trầm
hương , một yếu tố không thể thiếu trong các lễ nghi tín
ngưỡng , tôn giáo thiêng liêng của người phương Đông .
Tuy nhiên , nguồn gốc của tập tục này thì lại bị lu mờ
trong sương khói của thời gian . Nhân ngày xuân , thử đi tìm
quê hương của nó và những quan niệm khác nhau trong các nền
văn hóa , qua các thời kỳ lịch sử .
"
Đừng tìm hiểu ngọn gió vừa chợt tới
Đã
hồn nhiên đón kịp cả nguồn hương
Bởi
hương thực là hương trao khỏi đợi
Chẳng
thề nguyền cũng hợp một thần phương "(*)
Cái
gọi là " thần phương " đó , người miền Bắc VN gọi là
"cây hương " , người miền Nam gọi là "cây nhang" . Người
Trung Hoa dùng nó để tính thời gian , các kỹ nữ geisha Nhật
Bản dùng nó để tính chi phí " giải trí thăng hoa " của khách
mua tình nơi chốn thanh lâu tửu điếm , còn dân Thái thì dùng
nó để trị chứng cảm lạnh thông thường . Tuy trầm hương
phục vụ nhiều mục đích khác nhau ở khắp các xứ Á châu
, nó luôn gắn liền với sự dâng cúng , thờ phượng và các
nghi lễ tôn giáo địa phương .
Biểu
tượng và mục đích
Hơn
bất kỳ chất liệu nào khác , trầm hương luôn gợi nên sự
thức tỉnh tâm linh của người phương Đông . Dù là đám
mây hương khói dâng lên cuồn cuộn , những làn khói thanh
tao mong manh , hay nhũng dải mây lừ đừ - biến hoá - tỏa
lan , khói hương luôn tạo một nét duyên dáng , dễ thương
và huyền ảo của hư không vô tận : một không xứ , một
thức xứ hay một chiều thời gian xa xăm . Phong tục đốt
hương chắc chắn đã không chỉ giới hạn ở vùng viễn đông
vì từ những thời xa xưa , tập tục này được phổ biến
hết sức rộng rãi để thu hút trí tưởng tượng của khách
du lịch hành hương , để nhắc họ xem những ngôi chùa Phật
như những " Thánh điện có Hương ngũ phần " , và những nhà
sư như các " vị vua của hương trời tịnh khiết " .
Tuỳ
theo thời lượng một tiếng hay nhiều ngày , hương đốt có
đủ mọi kích cỡ và kiểu dáng . Kiểu phổ dụng thường
thấy ở Hồng Kông là những vòng nhang xoắn đồng tâm hình
nón khổng lồ . Kiểu phổ thông trong các lễ hội của người
Hoa ở Thái Lan , Malaysia và Singapore là những cây nhang to kềnh
giống như những thân cây nhỏ , trong lúc những que nhang bé
nhỏ mảnh khảnh hơn thì được tìm thấy ở khắp mọi nơi
. Bất luận loại hình được ưa thích , trầm hương vẫn
được phổ biến như thuở nào ở Á châu . Việc đốt hương
hàng ngày thì nơi nào cũng có , để khởi đầu một phong
tục thờ cúng hay nghi lễ , cũng như để biểu hiện toàn
bộ đời sống tín ngưỡng tôn giáo , đời sống của thế
giới bên kia cửa tử hay đời sống tâm linh thanh tịnh .
Tục
đốt gỗ thơm chiên đàn hay nhựa thơm như một phần kết
hợp của sự thờ phượng , nghi lễ tôn giáo đã phổ biến
trong nhiều nền văn hoá từ thời xa xưa . Có một nhà nghiên
cứu về văn hoá phong tục cho rằng :" Sự lan tỏa của khói
và mùi thơm của trầm hương , sự di chuyển sinh động của
những làn khói vươn thẳng đến thiên đường và các tầng
trời đã tạo cho nó một mối liên hệ mang tính biểu tượng
giải thoát của người cầu nguyện và làm cho sự dâng hiến
, phát nguyện đồng nghĩa với sự thờ phụng sùng kính "
Lần
về cội nguồn
Nhữngnguồn
gốc chính xác của hương đốt hình như bị lạc mất trong
đám mây mù của thời kỳ cổ xưa . Vì hầu như nó không
có cùng tính bản xứ đối với những nền văn hoá mà ngày
nay chúng có liên hệ sâu xa . Phần lớn ý kiến hiện hành
đều cho rằng hương đốt đầu tiên được những nền văn
minh cổ đại ở Trung Đông sử dụng . Thời đó ,hương đốt
được làm từ nhựa lấy từ thân của loài cây Boswellia mọc
rất nhiều ở miền Nam Ả Rập và Somalia . Người xứ Sumeria
và dân xứ Babylone đã đốt những chất này trong niềm tin
là chúng có thể làm vui lòng Thượng đế cùng các vị thánh
, thần để họ tịnh hoá và gia trì các ngôi đền của loài
người .
Ở
Ai Cập , hương đã được sử dụng từ triều đại thứ
XVIII ( 1570-1293 trước dl). Trong quyển " Egyptian Book of the Dead"
, Tử thư của ngài Ai Cập , tài liệu viết tay đầu tiên
nói về các nghi lễ tôn giáo và các pháp thuật phù thủy
- nói rằng việc đốt các chất tạo mùi thơm là một việc
quan trọng trong các nghi thức chôn cất .
Cùng
với sự phát triển mậu dịch trao đổi , các nền văn minh
Tây phương xa xưa cũng áp dụng sự đốt hương , và trong
các triều đại Ai Cập như Sheba , Hadramaout và Qataban , đất
nước này đã giàu phất lên từ việc xuất khẩu hương liệu.
Sophocles , nhà viết kịch Hy Lạp cổ đại , đã viết trong
những dòng mở đầu của vở Oedipus như sau : " Thành phố.
trở nên nặng nề trong đám bòng bong hiển hiện của đủ
loại âm thanh mùi vị , những tiếng kêu la rên xiết của
dân nghèo và người nô lệ , những lời hát ca cầu nguyện
của dân chúng , những lời tán tụng của giáo sĩ , và đủ
loại mùi hương ". Tại Rome ( thủ đô La Mã ) , bạo chúa Nero
đã từng đặt mua một khối lượng hương đốt khổng lồ
tương đương với số lượng hương mà nước Ả Rập sản
xuất trong một năm để đem đốt trong lễ an táng Popea- người
vợ yêu dấu của ông . Tuy trầm hương có mặt phổ biến
trong thế giới cổ đại , chính ở Đông phương mới là nơi
nắm giữ thật sự ý nghĩa gốc của việc sử dụng hương
trong toàn bộ các nền văn hoá . Dù tục đốt hương lan truyền
từ Trung đông đến những phần đất cuối cùng của Á châu
như một số giả thuyết đã nêu , và cho dù việc đốt hương
là một quá trình phát triển độc lập trong âm thầm , điều
chắc chắn là nghi thức đốt gỗ chiên đàn đã được thực
hành tại Aán Độ từ những thời rất xa xưa cũng như tại
Trung Quốc , nơi mà các kinh điển Đạo giáo đều có đề
cập đến việc sử dụng hương .
Phát
xuất từ Aán Độ, đã theo con đường lan truyền của Phật
giáo , tục đốt hương đã được hình thành tại khắp các
xứ vùng Đông Nam Á . Ban đầu , chất nhựa thơm và trầm
hương ( những chất thơm đắt giá nhất ở vùng Trung Đông
, từng là những món quà của các thầy tư tế gửi đến
Chuá Hài Đồng Jésus ) được sử dụng ở Viễn Đông phần
lớn đều nhập từ Ả Rập . Tuy nhiên , dần dần những nhà
sản xuất nhang thơm , đã tạo ra một công thức bột thơm
phổ biến bao gồm nhiều chất khác nhau như : bột gỗ chiên
đàn , long diên hương , cây húng quế , benzoin , camphor , hoa
lài , cỏ thơm ba lá , cây xạ hương , và cây hoắc hương
để tạo ra một loại nhang thơm đặc biệt .
Sách
vở và tài liệu về hương đốt
Có
cả một bộ sách nói về những công thức làm bột nhang khác
nhau với đầy đủ phần minh hoạ và cách sử dụng cùng những
ý nghĩa nghi thức hay biểu tượng . Chẳng hạn một tác giả
người Nhật về lãnh vực này , đã thu thập và đặt tên
cho không dưới 130 loài nhang tổng hợp khác nhau . Theo lệ
thường những công thức làm bột nhang đặc biệt , được
người ta cất giữ hết sức cẩn mật , và những gia đình
sản xuất nhang thơm bao giờ cũng sống thoải mái với thu
nhập cao cùng sự kính nể của quần chúng vì loại hương
có mùi thơm đặc trưng tạo sự sảng khoái tuyệt vời độc
nhất vô nhị của họ . Khi được hỏi về bí mật của chất
bột nhang , thường những người làm nhang hay bán nhang chỉ
đưa ra những lời trống rỗng -vu vơ , gọn lỏn :" bột gỗ
thơm trộn với tinh dầu hoa lài của Thái " theo lời của một
công ty sản xuất một nhãn hiệu nhang thơm đen đặc biệt
của Thái ở Bangkok .
Trên
thực tế, có rất nhiều sự phức tạp trong cách pha trộn
và chế biến các loại bột nhang đặc biệt . Chất lượng
của các loại hương đốt khác nhau một trời một vực và
chủ yếu dựa vào những công thức bí mật của chúng . Tuy
nhiên , thành phần coơ mản của loại bột hương thông thường
gồm có : mạt cưa ( đủ loại gỗ ) - dùng như chất phụ
gia tạo sự liên kết định hình khi trộn với keo dính , bột
gỗ chiên đàn , nhựa gỗ thơm và các loại cây cỏ có mùi
thơm . Đối với những sản phẩm nhang đắt tiền và sang
trọng hơn thì trong thành phần bột nhang có cả một danh sách
dài vô tận những chất phụ gia khác nhau trích từ bột gam
mùi thơm của thế giới tự nhiên .
Các
quốc gia sản xuất hương đốt nổi tiếng hiện nay
Aán
Độ được xem là nước sản xuất loại hương đốt có chất
lượng tốt nhất ngày nay , và những chất tinh dầu thơm được
pha chế một cách tinh vi của họ đã được xuất khẩu sang
nhiều vùng khác nhau trên thế giới . Mặt khác, Trung Quốc
cũng là một nhà sản xuất lớn nhất đã xuất khẩu hàng
triệu hộp nhang xoắn hay bó nhang que thơm với đủ mọi kích
cỡ . Chắc chắn là hai nước trên đều có sự độc quyền
nhưng việc làm nhang được phổ biến ở khắp nơi của vùng
Đông Nam Á , nơi mà truyền thống sản xuất tiểu thủ công
nghiệp bó gọn trong một gia đình hay nhiều gia đình vẫn
luôn tồn tại và đứng vững lâu dài , bất chấp mọi đổi
thay của nền công nghiệp hiện đại , hay những xu hướng
đổi mới của nền kinh tế phát triển .
Phần
lớn các doanh nghiệp làm nhang đều nhỏ , có tính cách sản
xuất hộ cá thể gia đình và rập khuôn điển hình theo phương
thức truyền thống của người Trung Hoa về màu bột nhang
, màu chân nhang que cũng như loại hồ keo cán nhang mà sau khi
phơi khô , cây nhang được định hình cứng cáp . Sau khi nhang
được cán và khô , thợ làm nhang cột thành bó rồi nhúng
phần cán vào một thùng màu nước đỏ . Kế đến, họ trải
các bó nhang này trên nền phơi hay giàn phơi trông rất vui
mắt . Để sản xuất loại nhang xoắn đồng tâm , người
ta phải thổi bột nhang qua những cái lỗ trên một đĩa kim
loại để tạo ra những dây nhang dài ngoằn giống như những
cọng mì .
Cả
hai loại nhang que hay nhang vòng đều có nhiều kích cỡ lớn
, nhỏ đủ loại . Những nhang que thông dụng nhất có chiều
dài phần bột hương khoảng 30 cm, và thời gian cháy hết khoảng
một tiếng đồng hồ trở lại . Nhưng cũng có loại nhang
que to kềnh như những chiếc hoả tiễn , được sơn màu đỏ
chói và có thể cháy suốt liên tục trong 3 ngày Tết đầu
năm Âm lịch hoặc những ngày lễ hội kéo dài đặc biệt
khác . Thường thì những loại nhang que có hình thù kỳ dị
như thế được trang trí rực rỡ bằng giấy màu hoặc được
đắp nổi bởi các mô típ rồng đủ màu hay các loại mô
típ khác để tạo nên dáng vẻ lễ hội đầy tính chất phô
trương và giật gân .
Tinh
thần đốt hương trong nghi thức tôn giáo :
Hương
khói đã quyện và cắm sâu gốc rễ của nó trong những nền
văn hoá châu Á thông qua sự truyền bá Phật giáo mà từ đó
việc đốt hương bột và nhựa thơm đã gắn liền một cách
điển hình với sự thực hành các nghi thức cúng lễ và tu
tập Phật giáo . . Tuy nhiên ý nghĩa chân thật và cách thức
hương đốt được sử dụng thì thay đổi một cách rộng
rãi tuỳ theo mục đích , cả về mặt tâm linh lẫn phương
thức tiến hành , mà nó được hướng tới .
Đóng
vai trò một thành phần cốt lõi trong tất cả mọi nghi thức
dâng cúng tôn giáo thực tế ở Đông phương , người ta luôn
tìm thấy hương đốt : từ Singapore đến Thượng Hải ( Trung
Quốc) , hay từ Bangkok (Thái Lan) cho đến Bangalore( Aán Độ
). Hương đốt luôn có mặt trong tất cả những ngôi chùa
hay thiền viện Phật giáo , nơi mà những làn khói hương luôn
cuộn toả từ các bát nhang đặt trước tượng Đức Phật.
Hình ảnh nổi bật của hương khói cũng luôn xuất phát từ
những ngôi đền của đạo Hindu (Aán giáo ) , các đình thần
, miễu thờ cô hồn , các nghĩa trang và đài tưởng niệm
, các bàn thờ tổ tiên ở gia đình và thậm chí trong các
nhà thờ Thiên chuá giáo ngày nay .
Tuy
việc đốt hương là bình thường và không thay đổi , nhưng
nghi thức và tinh thần sử dụng nó thì đổi thay với nhiều
sự phức tạp tuỳ theo tôn giáo . Đối với Phật giáo , ý
nghĩa chân chính của phép dâng hương là dụng tâm cúng dường
chư Phật cùng sự phát nguyện tu giải thoát và làm các hạnh
lành .
Tinh
thần đốt hương trong truyền thống dân tộc .
Trong
nền văn hoá thờ cúng ông bà tổ tiên và tục lệ thờ thần
truyền thống của dân tộc , việc đốt hương là nghi thức
đi kèm theo phẩm vật dâng cúng . Tuy hương khói không trực
tiếp là phẩm vật gửi đến các vị thần hay tổ tiên ,
nó là yếu tố làm trang nghiêm các cuộc cúng kiến hay tế
lễ . Trong một số nền văn hoá , việc đốt hương cúng dường
tự nó đã đầy đủ ý nghĩa , nhưng theo niềm tin tưởng
rộng rãi của người Trung Hoa, hương khói đóng vai trò như
một "phương tiện liên lạc "giữa con người với các lực
lượng vô cùng huyền bí . Việc đốt hương của dân chúng
luôn gắn liền với những lời khẩn nguyện thành tâm , cầu
xin tha thiết hay bày tỏ những nỗi lòng u uất sâu kín . Thực
tế giới bình dân người Hoa , việc đốt hương để tạo
ra các đám mây hương như là một tín hiệu gửi đến các
vị trời hay các vị thần rằng các phẩm vật đã được
bày saün và mời đợi chư vị xuống chứng giám , dùng và
ban phát phúc lộc hồng ân .
Từ
niềm tin và tinh thần đó mà sự liên lạc như vậy được
vận hành bởi một nghi thức nhất định . Chẳng hạn , phần
lớn các vị thần ăn mặn của người Hoa phải được "liên
lạc " bằng "tín hiệu chân nhang đỏ ", còn các bậc thần
tiên ăn chay thì "liên lạc " qua "tín hiệu chân nhang vàng "
, các vong linh hay cô hồn thì phải "liên lạc " qua " tín hiệu
chân nhang xanh lá cây" . Số lượng cây hương cắm cũng có
một ý nghĩa quan trọng . Trong lúc dân Thái cúng Phật bằng
3 que nhang và cúng ông bà tổ tiên bằng một que nhang thì nhiều
dân tộc khác lại làm ngược lại . Theo Phật giáo 3 cây nhang
tượng trưng cúng dường ba ngôi Tam bảo : Phật-Pháp-Tăng
; theo đạo giáo thì con số 3 là để hiệp nhất Tam thanh :
Thiên thanh , Nhân thanh , Địa thanh hoặc tinh-khí-thần . Dù
là một hay ba , mục đích tôn giáo và tâm linh là hiệp nhất
thân tâm để trở về Phật tính , Thượng đế tính , Chơn
thể hay Đạo thể .Tuy nhiên , ngày nay , cùng với sự phát
triển của nền "kinh tế hương khói " , rất nhiều người
đến với các lễ hội chùa chiền , đình miếu . bằng sự
thiếu hiểu biết bằng hành động đốt nhanh " trọn gói"
nguyên bó , sự cắm nhang qua loa , loạn xạ , xiên xẹo , hối
hả . mà hậu qủa là tạo nên sự ngột ngạt sặc sụa ,
làm ô nhiễm môi trường .
Nếu
có ai đó hỏi " Hương pháp "là gì trong làn gió Xuân trong
mát , dễ chịu , xin trả lời bằng ý thơ sau :
Một
điểm hồng cho "Định"
Một
ít khói "Không hoa"
Một
chất trầm "Giải thoát"
Một
pháp giới "Bao la"
Tam
muội lửa đêm lạnh
Aám
lòng thiền cô liêu
Hương
tâm miền tự tại
Vô
ngại hồn phiêu diêu.
Source:
Nguyệt san GIÁC NGỘ