NGÔI CHÙA
TRONG TÂM TƯỞNG
hay MỘT
THOÁNG CỦA MÙA XUÂN VĨNH CỬU
THÍCH
PHƯỚC AN
-
I -
Dạo
đó là vào những năm 1956 hay 1957 gì đó, nghĩa là sau khi đất
nước bị chia cắt khoảng hai hoặc ba năm. Làng quê tôi và
có lẽ nhiều làng quê khác cũng vậy. Sau gần hơn nửa thế
kỷ sống trong chiến tranh và ly loạn, nên mặc dù còn nghèo
khổ mà chừng như người dân ai cũng tha thiết với cuộc
sống họ vừa tìm lại được.
Khi
lớn lên ra sống tại các thành phố, tôi vẫn thường đem
hai cuộc sống ra để so sánh, và những lúc ngồi một mình
tôi vẫn thường nghĩ vẩn vơ rằng, người dân ở thành phố
yêu cuộc sống là một điều chẳng có gì đáng ngạc nhiên
cả, vì họ có của cải, tài sản và nhiều thứ khác nữa
để mà yêu. Hay nói đúng hơn là họ chỉ yêu cuộc sống
qua của cải và tài khoản cất ở ngân hàng, chứ không phải
yêu chính cuộc sống.
Nhưng
trái lại khi những người dân quê yêu cuộc sống thì tình
yêu đó mới đúng là tình yêu vô điều kiện, vì họ chẳng
có gì cả, ngoài tấm lòng tha thiết mà họ muốn hiến dâng
cho cuộc sống.
Nhưng
điều đáng buồn là, có lẽ hầu hết mỗi người trong chúng
ta, ai cũng đều yêu cuộc sống qua của cải, tài sản hay
cao hơn một chút nữa là địa vị và danh lợi. Chính vì thế
mà mới có đấu tranh, sát phạt lẫn nhau để dành phần thắng
về cho mình. Và rồi tôi cũng tự kết luận để nhắc nhở
cho chính tôi rằng, nếu ta chỉ yêu cuộc sống mà không qua
bất cứ trung gian nào thì có lẽ cuộc đời của ta và cả
thế giới này nữa sẽ bớt đi rắc rối và phức tạp như
hiện nay chăng?
Hồi
ấy tôi mới lên tám hoặc chín tuổi, vẫn thường vào chơi
trong một ngôi chùa. Chùa nằm ngay dưới chân núi sau làng.
Ngôi chùa này vốn do em của ông Sơ tôi lập nên, và hiện
do người chú ruột của tôi làm trụ trì. Sư chú tôi vẫn
thường kể lại một cách say sưa cho tôi nghe về những ngày
đầu của ngôi chùa như thế này:
Em
của ông Sơ tôi (mà có lẽ Sư chú tôi phải gọi đến ông
Cố Thúc, còn tôi thì phải gọi đến ông Sơ Thúc?), đi tu
hồi chưa đầy lên mười. Về mặt trí tuệ thì chẳng có
gì xuất sắc, nhưng về phương diện tu trì thì tất cả các
bạn đồng tu đều phải kính nể. Sau khi đắc pháp với một
cao tăng được xem là thông tuệ nhất trong tỉnh thời bấy
giờ, thì sau đó ông Sơ Thúc của tôi được Bổn Sư và Sơn
Môn cung thỉnh về giữ chức trụ trì tại một ngôi chùa
nổi tiếng là đẹp nhất của tỉnh. Chùa rất giàu, có đến
mấy trăm mẫu ruộng do các quan lại địa phương và những
phật tử giàu có hiến cúng. Sỡ dĩ các quan lại địa phương
tích cực hỗ trợ cho chùa như vậy vì ngoài là một ngôi
chùa đẹp ra, còn có một lý do khác nữa, đó là có một
thời một vị quan hàng đầu của triều đình Huế vốn quê
quán ở đây về nhập thất tu Thiền tại chùa này hơn hai
năm. Vị quan này không chỉ nổi tiếng về đức thanh liêm,
mà còn là một nhà soạn tuồng, một nhà thơ tài hoa nữa.
Có hai câu thơ đầy hạo khí của vị quan đi ở ẩn này mà
tôi đã nghe và thuộc lòng từ thời còn để chỏm:
Lao
xao sóng bủa ngọn tùng
Gian
nan là nợ anh hùng phải mang
(Đào
Tấn)
Nhưng
ông Sư Thúc của tôi đã từ chối làm trụ trì ngôi chùa
nổi tiếng giàu có và nhiều thế lực này, âm thầm về lại
làng xưa, một mình lặng lẽ vào sâu trong chân núi dựng một
thảo am để tu trì.
Vùng
núi này rất nhiều cọp, có hôm trời mới nhá nhem tối mà
cọp đã ra tận ngoài làng để bắt trâu bò, ít nhất đã
có một người trong làng bị cọp bắt mang đi rồi mất xác
luôn. Mối lo sợ như bao trùm cả xóm làng, nên cứ mỗi khi
chiều đến là các cửa đều đóng kín mít, làng xóm không
một bóng người qua lại. Nhưng từ khi ông Sư Thúc của tôi
về dựng thảo am dưới chân núi, thì cọp gần như không
xuống làng để rình mồi nữa, dù thỉnh thoảng dân làng
vẫn còn nghe tiếng cọp gầm gừ từ núi cao vọng về.
Từ
đó, cứ đêm đến là dân làng lại hướng về rặng núi,
mà trước kia đối với họ như một hung thần chỉ chờ giáng
tai họa xuống trên đầu họ. Nhưng từ ngày có bậc chân
tu về tu hành thì rặng núi đối với họ lại trở thành
một đám mây lành che mát cho cả dân làng.
Tất
nhiên, người nhà quê với đầu óc chất phác, ít phân biệt
thế nào là đúng thế nào là sai, nên có thể họ đã phóng
đại những điều mà họ đã nghe kể, và cứ khăng khăng
cho đó là chuyện có thật.
Nhưng
có một điều mà tôi tin chắc là có thật. Đó là ngọn núi
sau chùa rất nhiều cọp. Khi tôi vào chùa, nghĩa là cách ông
Sư Thúc của tôi đến hơn cả trăm năm rồi vậy mà vẫn
còn rất nhiều cọp.
Tôi
vẫn còn nhớ có một đêm vào mùa đông, trời đất tối
tăm mù mịt, khoảng nửa đêm bỗng đâu có hai con cọp, chắc
là đi tìm mồi trên đường trở về núi, cọp dừng lại
sau chùa rồi rống lên, tiếng rống của cọp làm kinh động
cả núi rừng. Lúc đó tôi đang ngủ nơi nhà Tây của chùa,
vách chùa lại mỏng quá vì chỉ trét bằng rơm và đất. Tôi
sợ quá, nhưng không biết trốn ở đâu nên đành lấy chiếu
trùm kín cả đầu để cho bớt sợ.
Tuổi
thơ của tôi vốn đã hoang lạnh, nên khi nghe tiếng rống của
cọp vang lên trong đêm, tôi lại càng thấy tuổi thơ của
mình bơ vơ lạc lõng hơn nữa trên cuộc đời này.
Sở
dĩ Sư chú tôi thường đem chuyện Tổ khai sơn của chùa ra
để kể cho tôi nghe là để ông khuyến khích việc đi tu của
tôi. Vì sau mỗi lần kể ông đều than thở rằng: “Ông Bà
mình thì tu hành như vậy, mà con cháu bây giờ chẳng biết
gì đến chuyện phước đức hết, chỉ đợi đến ngày giỗ
là giết gà giết vịt đặt lên bàn cúng cho có chuyện, rồi
dọn xuống ăn uống, nói chuyện nhảm nhí, lại cứ nghĩ rằng
là báo đáp ân đức cho Ông Bà”.
Mặc
dù còn quá nhỏ, cái tuổi chưa thể rời mẹ để vào ở
hẳn trong chùa được, nhưng sở dĩ Sư chú vẫn muốn tôi
vào chùa vì ông sợ tôi nhập bọn với lũ trẻ ngoài làng
lang thang lêu lõng mà bỏ bê việc học hành. Tôi biết đó
là tình thương đặc biệt mà Sư chú tôi đã dành riêng cho
tôi, vì tôi vẫn thường nghe ông nói với Bổn Đạo của
chùa “Tội nghiệp thằng nhỏ chưa sanh ra đời mà đã mồ
côi cha”.
Nhưng
Sư chú tôi đâu biết được rằng, cái không khí tĩnh mịch
của ngôi chùa cùng núi rừng đã bắt đầu ảnh hưởng đến
tuổi thơ tôi. Tôi có thể ngồi chơi một mình mà không cần
nhập bọn quậy phá ồn ào với bọn trẻ nữa. Thay vì buổi
trưa rủ nhau đi tắm sông hoặc bắt chuồn chuồn, châu chấu,
cào cào đem về cho chim con ăn, thì tôi có thể ra ngồi dưới
gốc cây xoài trước chùa để ngắm bầu trời cao rồi tha
hồ nghe tiếng hót của các loài chim, nào chim chìa vôi, chích
choè, chớp quạch, khứu, vv... Thỉnh thoảng lại nghe tiếng
tu hú gọi bầy từ núi cao vọng xuống nữa, nhưng thích nhất
vẫn là tiếng gáy của cu cườm. Chúng thường bay về đây
từng đàn, đặc biệt là mùa gặt từ tháng 2 đến tháng
3. Con cu cườm ít đứng trên cây mà lại thường đứng trên
các tảng đá sau chùa rồi cùng nhau gáy vang cả núi rừng
trong những buổi trưa hè tĩnh mịch. Nhưng tôi lại ít thích
nghe cu cườm gáy từng bầy, mà lại thích nghe từng con gáy.
Nếu cu đứng càng xa thì tiếng gáy của nó cang mê hoặc đối
với người nghe hơn nữa.
Một
buổi trưa, có lẽ là mùa hè, Sư chú tôi từ trên nhà Tây
đi xuống gặp tôi ông liền nói: “ Hồi trưa có con cu cườm
ở đâu bay đến đậu nơi cây mít gần cửa sổ mà gáy. Tiếng
gáy của nó nghe thanh tịnh quá!”.
Câu
nói vô tình của Sư chú tôi, một tu sĩ suốt đời chỉ quanh
quẩn ở thôn quê, chưa hề đọc bất cứ một quyển sách
nào nói về cái đẹp của thiên nhiên, nghĩa là chưa hề biết
cái đẹp theo nghĩa trong sách vở là gì hết, vậy mà câu
nói mộc mạc ấy đã đeo đuổi tôi đến tận bây giờ, nhất
là bốn chữ cuối “nghe thanh tịnh quá”. Mahatma Gandhi có
nói đâu đó rằng:” Cái gì mà tuổi thơ ta đã sống thì
cái đó sẽ điều động ta suốt cuộc đời”.
Đúng
là như vậy rồi. Trước đây cũng như bây giờ mỗi lần
đi giữa phố bất chợt nghe được tiếng gáy của cu cườm
từ một ngôi nhà nào đó vọng ra là tự nhiên tôi phải đi
chậm lại để nghe cho kỳ được. Dù tiếng gáy của cu cườm
bị tiếng động của xe cộ cùng sự ồn ào huyên náo của
con người thành phố lấn át nhưng tôi vẫn có thể lắng
nghe được tiếng vọng xa xôi từ một vùng quê tĩnh mịch
của tuổi thơ dạo nào. Nơi đó, có ngôi chùa cổ vẫn đứng
trầm mặc giữa bầu trời cao của mùa hạ.
Có
một nhà thơ Việt Nam hiện đại, buổi trưa nằm nghe cu cườm
gáy cũng nhớ đến một cái gì xa xôi heo hút và mơ hồ như
vậy:
Một
buổi trưa không biết tự thời nào
Như
buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao
Có
cu gáy, có bướm vàng nữa chứ!
(Huy
Cận)
Nhưng
có lẽ cái xa xôi heo hút mà thi nhân nghe được đó cũng chỉ
là cái xa xôi heo hút của tuổi thơ mà thi nhân (cũng như tất
cả chúng ta) đã đánh mất mà thôi chứ không phải cái xa
xôi heo hút mà tôi đã thoáng thấy dù rất mong manh trong những
năm tháng của tuổi thơ sống trong ngôi chùa cổ ấy.
Nhưng
có một điều lạ lùng là, khi tôi đọc được tác phẩm
của một triết gia Tây Phương người Đức ở cuối thế
kỷ 19, thì tôi lại thấy được cái buổi trưa như tôi đã
thoáng thấy nơi ngôi chùa cổ từ dạo tuổi thơ xa xôi. Chỉ
có khác là nơi tác phẩm của triết gia ấy không có ngôi
chùa cổ cùng tiếng gáy của cu cườm mà thôi.
Đó
là Nietzsche, triết gia mà trước 1975, những người trẻ tuổi
sống ở các thành phố miền Nam qua các bài viết của Phạm
Công Thiện, Ngô Trọng Anh, Trần Xuân Kiêm, Lê Tôn Nghiêm…
trên tạp chí Tư Tưởng của Đại học Vạn Hạnh, một tạp
chí được xem như hấp dẫn nhất của trí thức trẻ thời
bấy giờ, đều xem Nietzsche như một thứ Bồ Đề Đạt Ma,
hay một thiền sư ngang ngược của Phật Giáo đã xuất hiện
để làm một cuộc đảo hoán mọi giá trị của truyền thống
tư tưởng Tây Phương.
Theo
Trần Xuân Kim, trong bản dịch Zara thustra đã nói như thế
1 thì khi bắt đầu phác họa dự tính viết một bản trường
thi dài gồm bốn phần, liên quan đến nhà tiên tri Zara thustra
thì Nietzsche lấy tên là Ngọ Thiên và Vĩnh Cửu (Mittag und
Ewigkeit). Nhưng rồi cuối cùng Nietzsche đã quyết định đặt
tên cho bản trường thi ấy là Zara thustra đã nói như thế,
nghĩa là đồng vọng lại lời mở đầu trong các bộ kinh
của Phật Giáo: Như thị ngã văn (Tôi đã nghe như thế).
Khởi
đầu chương viết về buổi Ngọ Thiên (Mittag), Nietzsche để
Zara thustra cất bước chạy dưới buổi trưa, trong khi Zara
thustra chạy mà “Không gặp bất cứ một ai, hắn cô thân
độc ảnh và tự tìm gặp lại chính mình, hưởng thụ sự
cô đơn, nếm nhấp sự cô đơn đó và nghĩ đến những điều
tốt đẹp suốt mấy giờ liền”. Zara thustra trong lúc đang
chạy thì gặp một cây cổ thụ có treo lủng lẳng những
chùm nho chín mọng như muốn hiến dâng cho lữ khách qua đường.
Zara thustra có ý định làm dịu cơn khát bằng cách hái những
chùm nho đó nhưng khi vừa đưa tay lên hái thì “lòng hắn
lại nổi lên một khát vọng khác, mãnh liệt hơn: ước vọng
được nằm dài ngủ dưới gốc cây trong buổi Chánh Ngọ
của đất trời”. Và rồi: “Zara thustra đã nằm dài trên
mặt đất, trong nỗi im lặng tịch mịch cùng niềm bí ẩn
của cỏ dại muôn màu”.
Và
rồi Nietzsche đã để cho Zara thustra thì thầm những lời bí
ẩn giữa buổi Ngọ Thiên: “Ồ hạnh phúc! Hỡi linh hồn
ta, có gì mà mi không ca hát chứ? Mi đang yên nghỉ giữa lòng
cỏ dại. Nhưng bây giờ là giờ phút bí mật và trang trọng…”
và : “Hãy coi chừng! Buổi Ngọ Thiên thiêu đốt, đang ngủ
yên trên những đồng cỏ. Đừng ca hát, “Hãy im lặng! Thế
giới đã thành tựu…”.
Và
câu trên được Nietzsche lặp đi lặp lại trong suốt chương
viết về buổi Đại Ngọ Thiên:
“…
Im lặng! Im lặng! Thế giới há chẳng phải vừa thành tựu
đó sao? Việc gì đang xảy đến cho ta đây2 ” .
Và
đó có lẽ cũng là câu mà tôi đã cảm nhận được dù rất
mơ hồ từ những buổi trưa tĩnh mịch và thanh tịnh nơi ngôi
chùa cổ của thời thơ ấu đã xa.
Dường
như nơi mỗi người trong chúng ta, vào những giờ phút vắng
lặng nhất, ít nhất một lần nào đó trong đời cũng đều
bắt gặp giây phút đó. Nên gọi giây phút đó là giây phút
gì? Không thể nào diễn tả được. Ta chỉ biết đó là giây
phút mà trái tim ta đã đập rộn ràng cùng với nhịp đập
của thiên thu vĩnh cửu.
Đối
với Phật Giáo, chẳng phải từ 2546 năm nay giờ Ngọ đã
là giờ thiêng liêng nhất sao? Vì vào giờ ấy, sau khi đi khất
thực về, Đức Phật đã lặng lẽ thọ trai, thuyết pháp
rồi đi vào thiền định.
Nếu
như những buổi trưa tĩnh mịch ngôi chùa đã dạy cho trái
tim tôi biết rung động với đất trời mênh mông, thì khi
đêm tối đến, ngôi chùa như cũng đã thì thầm với tôi
rằng, hãy kiên trì, hãy nhẫn nại như mặt đất, như lời
kinh tiếng kệ được vang lên vào mỗi đêm, rồi một lúc
nào đó thì đêm tối của cuộc đời này cũng sẽ tan mất
mà thôi.
Bởi
vậy, khi đêm đến tôi còn có một đam mê khác nữa, niềm
đam mê mà tôi vẫn tự hào rằng, những đứa trẻ cùng tuổi
với tôi ngoài làng sẽ không bao giờ biết được, hay nói
đúng hơn thì chúng chẳng thấy có cái gì gọi là vui trong
đó hết. Đó là tôi rất thích được nghe tụng kinh Lăng
Nghiêm vào bốn giờ sáng.
Cứ
mỗi lần tụng xong bước ra khỏi Chánh Điện là Sư chú tôi
đều thấy tôi ngồi ngoài hành lang để nghe tụng kinh, gần
như không có khuya nào vắng cả. Chính vì khuya nào cũng nghe
tụng, nên khi chính thức xuống tóc đi tu và bắt đầu học
kinh Lăng Nghiêm thì đâu chỉ chừng hai tuần là tôi thuộc
cả năm đệ Lăng Nghiêm cùng Đại Bi Thập Chú. Sư chú tôi
rất mừng, nên mỗi khi có ai đến thăm chùa nhất là quý
thầy trong Sơn Môn, thì ông đều đem tôi ra để khoe rằng
tôi học rất sáng. Riêng tôi thì chẳng thấy hãnh diện gì
cho lắm, vì đã nghe tụng đến hơn cả hai năm trời thì học
thuộc trong hai tuần là chuyện tất nhiên rồi.
Thỉnh
thoảng ngoài làng có người bệnh, thì họ lại đem tên vào
để nhờ Sư chú tôi tụng kinh cầu an. Những lúc ấy tôi
lại còn được nghe ông trì chú Chuẩn Đề nữa.
Tuổi
thơ vốn rất sợ ma, mà đã sợ ma thì tất nhiên phải sợ
bóng tối, nên tôi cứ trông sao có người vào xin cầu an,
để được nghe Sư chú tôi trì tụng chú Chuẩn Đề, nhất
là câu Lục tự đại minh chơn ngôn án ma ni bát di hồng được
liên tục đọc lên giữa đêm khuya khiến tôi cảm thấy bớt
sợ và thấy như có thêm sức mạnh khi bị bắt buộc phải
đối diện với bóng tối quanh chùa.
Vì
Sư chú tôi còn là một vị Gia Trì nổi tiếng, nên các thầy
thỉnh thoảng đến xin học chẩn tế. Buổi học thường diễn
ra sau khi tụng kinh xong, nghĩa là khoảng sau 8 giờ, với thôn
quê giờ ấy là đã khuya lắm rồi. Tôi ngồi lắng nghe các
thầy học thỉnh 12 câu trong khoa, khi thỉnh đến những câu
như:
Trường
dạ man man hà nhật hiểu
U
quang ẩn ẩn bất tri xuân
(Ôi
thôi! Đêm trường thăm thẳm bóng ma
Cửa
mù thiu thỉu như trời thu đông)
Hoặc
câu:
Kinh
song lãnh thẩm tam canh nguyệt
Thiền
thất hư minh bán dạ đăng
(Ôi
thôi! Kinh song trăng thẳm lạnh lùng
Nhà
Thiền leo lét đèn chong canh dài)
Thì
tôi thấy cảnh trong lời thỉnh sao giống y như cảnh mà tôi
đang sống ở đây quá, cũng những ngọn đèn dầu leo lét
giữa đêm khuya mù mịt, ngoài trời thì từng đàn đom đóm
bay lập loè trên các ngôi mộ giống như những oan hồn đang
trở về vì còn nhớ thương dương thế.
Trong
Khoa có bài tán Khô Lâu có những câu để cảnh tỉnh những
oan hồn vất vưởng như thế này:
“…
Xiết than người thế ra chi, kiếp phù sinh gởi tháng ngày
bao lăm. Ác vàng thỏ bạc xâm xâm, bóng quang âm thoắt trăm
năm mấy hồi. Dần dà chi nữa người ơi, sớm lìa bể khổ
cho rồi kiếp ma…3 ”
Có
lẽ đó là quyển sách đầu tiên mà tôi đã học được về
những thống khổ của kiếp người, và vị thầy đầu tiên
giảng cho tôi hiểu quyển sách thống khổ ấy không phải
là một vị giáo sư cầm phấn đứng trước bảng đen mà
chính là đàn đom đóm bay lập loè trên những ngôi mộ trước
sân chùa mà tuổi thơ tôi đã từng nơm nớp lo sợ mỗi khi
bóng đêm bắt đầu đổ xuống ở núi rừng thuở ấy.
Chính
vì nhờ học được những gì từ trời cao đất rộng như
vậy, nên tôi vẫn nghĩ rằng, nếu chỉ học Đạo giữa bốn
vách tường an toàn thôi thì khi thỏng tay đi vào chợ đời
sẽ dễ bị lợi danh của chợ đời quyến rũ. Đó là bài
học đau lòng mà ta có thể thấy được không phải từ đâu
xa mà ở nơi đây, ngay tại đất nước này. Vậy ta phải
học Phật như thế nào? Hay nói đúng hơn hạt giống bồ đề
nên gieo ở đâu? Một nhà Phật học của Phật giáo Việt
Nam hiện tại đã viết:” Hạt giống Bồ Đề không được
gieo vào một cánh đồng trừu tượng nào xa xôi, cũng không
chỉ đợi để được gieo vào một vùng đất hứa nào khác,
mà nó được gieo xuống ngay trên sa mạc sanh tử này, khô
cằn với những đau khổ triền miên của chúng sanh này…4
” .
Và
bởi vậy: Bồ Đề Tâm, đó là chí nguyện nóng bỏng của
một chúng sanh tự thấy mình đang sống trong cảnh tối tăm,
giữa đọa đày khổ nhục, mong tìm một con đường sáng không
những để giải thoát bản thân khỏi những đe dọa áp bức
mà còn là để giải thoát cho tất cả những người cùng
cảnh ngộ. Bồ Đề Tâm, đó là ý chí kiên cường bất khuất
của một người bị cột trói trên ngọn lửa rực cháy, bị
chà đạp dưới những sức mạnh tàn khốc của tham vọng
điên cuồng của chính ta và của một tập thể ma quái chung
quanh ta. “ Vui cười gì, thích thú gì, giữa những ngọn lửa
không ngừng thiêu đốt? Bị bao phủ trong bóng tối, sao không
đi tìm ngọn đuốc5 ” .
Làm
sao có thể viết được những lời trên nếu người viết
chưa một lần thể hiện “ý chí kiên cường bất khuất
của một người bị cột trói trên ngọn lửa rực cháy?”
-
II -
Chúng
ta, những con người ngụ cư trên mặt đất phù du này thật
là tội nghiệp. Sống thì lúc nào cũng mong đợi một tin vui,
một chút hạnh phúc dù rất mong manh. Nhưng khi niềm vui hay
hạnh phúc đó đến rồi thì chúng ta lại lo sợ cái hạnh
phúc đó sẽ mất:
Xuân
đang đến, nghĩa là Xuân đang qua
Xuân
còn non, nghĩa là Xuân sẽ già
Mà
Xuân hết thì đời tôi cũng hết
(Xuân
Diệu)
Dù
có những người cố vui, cố níu kéo một chút hạnh phúc
mong manh ấy, xem như không có gì xảy ra cả. Nhưng trong cách
nói của họ dường như vẫn không giấu được nỗi sợ hãi:
Ôi
người ta đi hóng Xuân
Cho
tôi theo với, kéo tôi gần!
Rộn
ràng bước nhịp hương vương gót
Nhựa
mạnh tuôn trào tưởng dính chân
(Huy
Cận)
Tất
nhiên thi nhân là kẻ hiểu hơn ai hết vì sao họ lại phải
níu kéo cái đẹp một cách tuyệt vọng đến như vậy:
Về
đâu, về đâu thời gian đã
In
dấu mong manh trên cánh đào
(Huy
Cận)
Vì
luôn luôn bị ám ảnh bởi sự tàn phá của thời gian, bởi
cái chết đè nặng trên tâm hồn nên họ thấy cuộc đời
chỉ là hư vô, là ngõ cụt, ngay cả cái đẹp cũng vô nghĩa
như vậy:
Xuân
lan Thu cúc thành hư sự
Hạ
thử Đông hàn đoạt thiếu niên
(Lan
mùa Xuân, cúc mùa Thu đã trở thành chuyện hão
Vì
mùa Hạ nóng mùa Đông lạnh đã cướp tuổi xanh mất rồi)
(Nguyễn
Du)
Đây
có lẽ là vấn đề trọng đại nhất mà Thiền, qua các Thiền
sư đã nỗ lực hết mình để giải quyết cho kỳ được.
Ta
thử xem các Thiền sư thi sĩ đã giải quyết các vấn đề
sống chết này bằng cách nào?
Một
hôm vua Lý Nhân Tông đến viếng một ngôi chùa ở huyện Tiên
Du (Bắc Minh) gặp Thiền sư Thiền Lão, nhà vua hỏi:
- Hàng
ngày Thiền sư làm việc gì?
Thiền
Lão đáp:
Thúy
trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch
vân minh nguyệt lộ toàn chơn
(Trúc
biếc hoa vàng đâu cảnh khác
Trăng
trong mây bạc hiện toàn chân)
(Mật
Thể dịch)
Rồi
nhà vua liền hỏi tiếp:
- Vậy
Thiền sư ở chùa này đã bao lâu rồi?
Thiền
Lão cũng trả lời lại bằng hai câu thơ:
Đản
tri kim nhật nguyệt
Thùy
thức cựu Xuân Thu
(Sống
ngày nay biết ngày nay
Còn
Xuân Thu trước ai hay làm gì!)
(Mật Thể dịch)
Bốn
câu thơ trên là những câu Kệ được hỏi và đáp theo cách
của Thiền. Nghĩa là người bị hỏi phải trả lời ngay tức
khắc, không do dự cũng như không kịp suy nghĩ.
Điều
đó chứng tỏ tâm hồn của vị Thiền sư đời Lý này của
quê hương đã vượt qua mọi rào cản, mọi giới hạn, không
còn phân biệt nội giới cũng như ngoại giới nữa. Chẳng
hạn như cây trúc xanh biếc, bông cúc đang nở rộ vàng rực
trước sân chùa hay mây trắng trăng sáng trên đỉnh núi vào
những đêm rằm kia đâu phải là cái gì xa lạ ở bên ngoài
ta, mà chính là sự phản chiếu của một tâm hồn đã an vui,
một tâm hồn đã đến được trung tâm điểm của Đạo,
của vũ trụ hồn nhiên như nhiên. Và như vậy ý niệm về
thời gian như quá khứ, hiện tại và vị lai do ý thức của
con người phân chia tất nhiên cũng phải chấm dứt theo.
Cố
giáo sư Nguyễn Đăng Thục viết “ Khi đã có tâm hồn vui
đạo, luôn luôn cảm thông với nguồn sống thiên nhiên siêu
nhiên tràn ngập trong không gian thời gian thì làm sao còn lo
nghĩ đến sống chết, quá khứ và vị lai. Bất cứ lúc nào
cũng hiện tại, mà chỉ có hiện tại thôi, vì hễ có sự
hiện diện của Đạo thì một khoảnh khắc cũng là cả một
vĩnh cửu vô thủy vô chung vậy. Cho nên bảo phải biết sống
lúc đang sống là đầy đủ không phải lo nghĩ đến cái đã
qua cũng như cái gì sắp tới…6 ”
Vậy
là đúng như lời của Thiền Sư Khánh Hỷ cũng ở đời Lý:
Đạt
thời biến cảnh túc
Bất
ngộ vĩnh quai sơ
(Khi
đạt thì đâu cũng là cảnh tượng đầy đủ
Không
ngộ thì mãi mãi sai lầm)
Vua
Trần Nhân Tông hồi còn trai trẻ cũng đã từng đam mê rồi
đau khổ khi thấy những mùa Xuân chóng qua cùng với tuổi
trẻ của mình:
Niên
thiếu hà tằng liễu sắc không
Nhất
Xuân tâm tại bách hoa trung
Như
kim khám phá đông hoàng diện
Thiền
bản bồ đoàn khán trụy hồng
(Niên
thiếu chưa từng hiểu Sắc, Không
Xuân
sang hoa sắc vướng tơ lòng
Diện
mục Xuân nay từng khám phá
Thiền
tọa an nhiên ngắm rụng hồng)
(Nguyễn
Lan dịch)
Câu:
Nhất Xuân tâm tại bách hoa trung (Xuân sang hoa sắc vướng
tơ lòng), nghe chan chứa tình người làm sao!
Ta
có thể hiểu rằng đó là Trần Nhân Tông muốn nói lên niềm
đam mê cái đẹp mong manh khi còn trai trẻ của chính mình.
Nhưng nếu hiểu đó là tình thương bao la của Thiền sư thi
nhân đối với cái đẹp mong manh tội nghiệp mà tất cả
chúng ta đang nâng niu một cách tuyệt vọng thì cũng không
sai mấy.
Dường
như tất cả những tâm hồn vĩ đại đều khởi đầu bằng
tình thương rất người này.
Trần
Nhân Tông chắc cũng chẳng ra khỏi ngoại lệ đó? Không còn
hồ nghi gì nữa, chính tình thương vô hạn đối với sự
thống khổ của con người mà Trần Nhân Tông mới đủ sức
mạnh tinh thần để đẩy lùi hai cuộc xâm lăng của một
đế quốc hùng mạnh nhất thời bấy giờ, và cũng chính vì
tình thương này mà Trần Nhân Tông mới đủ can đảm vứt
bỏ ngai vàng cùng với tất cả những vinh hoa phú quý bọt
bèo lại sau lưng để đi lên tận đỉnh núi Yên Tử mà Tham
Thiền Nhập Định. Để rồi cuối cùng đã tìm thấy một
mùa Xuân vĩnh cửu cho chính mình, một mùa Xuân không bao giờ
sợ phải tàn phai nữa.
Và
phải chăng cuộc từ bỏ vĩ đại này cũng đã nuôi dưỡng
sức mạnh tâm linh cho toàn thể dân tộc Việt từ đó cho
đến bây giờ và sẽ còn tiếp tục cho đến những thế kỷ
sau nữa?
Có
một Thiền sư Nhật Bản ở thế kỷ 12 tên là Saigyo, Thiền
sư thi sĩ này được thi ca Nhật bản tôn là nhà thơ của
hoa Anh Đào (nở vào mùa Xuân). Saigyo chắc cũng đã vượt
qua được nỗi sợ hãi về cái chết và sự tàn phá của
thời gian?
Trong
thi phẩm Nhà trên núi (Sankashu), có một bài thơ Thiền sư
ước ao được chết cùng với hoa Anh Đào trong một đêm trăng
rằm nào đó:
Ước
vọng của tôi
Là
được chết
Dưới
cội hoa Anh Đào
Vào
đêm trăng rằm
Trong
ánh mùa Xuân
(Nhật
Chiêu dịch)
Ước
vọng ấy của Saigyo đã thành sự thật. Thiền sư đã tịch
vào ngày rằm tháng Hai âm lịch nhằm vào năm 1190, nghĩa là
đúng vào ngày vía Đức Phật nhập Niết Bàn, giữa mùa trăng
và mùa hoa Anh Đào đang nở rộ.
“Hãy
dâng hoa Anh Đào lên cúng Phật, khi nào còn nghĩ đến tôi”
Đó
là câu nói cuối cùng mà Thiền sư Saigyo đã gởi lại cho
hậu thế.
Đó
có thể gọi là chết không? Hay chỉ là một cuộc lên đường
để đến một nơi mà như lời thỉnh trong nghi cúng linh của
Phật Giáo:
Viễn
quan sơn hữu sắc
Cận
thính thủy vô thanh
Xuân
khứ hoa hoàn ngự
Nhân
lai điểu bất kinh
(Màu
non lờ lạt
Giọng
núi thầm thì
Xuân
đi rồi hoa vẫn còn đây
Người
đến đó chim rày đã dạn)
(HT.
Bích Liên dịch)
Như
vậy chắc chắn đó không phải là cái chết theo nghĩa thông
thường mà mỗi chúng ta đều nơm nớp lo sợ, mà chính là
một sự trở về cõi tịch mịch vô ngôn của thực tại như
hai câu kệ trong phẩm Phương Tiện của kinh Pháp Hoa đã mô
tả:
Chư
pháp tùng bổn lai
Thường
tự tịch diệt tướng
(Các
pháp xưa nay
Vốn
thường tự vắng lặng)
Nếu
như Thiền sư Saigyo của Nhật Bản đã đưa hoa Anh Đào vào
thi ca của mình, thì tại Việt Nam Thiền sư Mãn Giác ở đời
Lý trong một bài thơ cũng đã nói về một nhành mai. Chỉ
khác nhau ở chỗ là hoa Anh Đào của Thiền sư Saigyo nở đúng
vào mùa Xuân, còn nhành mai của Thiền sư Mãn Giác thì không
nở vào mùa Xuân mà cứ theo bài thơ thì mùa Xuân lúc ấy
đã đi qua rồi. Vậy mà thật bất ngờ trong một đêm Thiền
sư đã bất chợt thấy một nhành mai đang nở rộ trước
sân chùa:
Xuân
khứ bách hoa lạc
Xuân
đáo bách hoa khai
Sự
trục nhãn tiền quá
Lão
tùng đầu thượng lai
Mạc
vị Xuân tàn hoa lạc tận
Đình
tiền tạc dạ nhất chi mai
(Xuân
đi trăm hoa rụng
Xuân
đến trăm hoa lại nở
Việc
đời cứ như vậy mà đi qua trước mắt
Tuổi
già đã hiện đến trên mái đầu rồi
Đừng
tưởng rằng mùa Xuân đi qua thì hoa rụng hết đâu
Đêm
qua, một cành mai đã nở rộ trước sân)
Nhành
mai ấy phải chăng là biểu tượng của cái đẹp vĩnh cửu
mà Thiền sư Mãn Giác muốn gởi đến cho tất cả chúng ta
những con người luôn luôn sống trong nỗi bất an và lo sợ
trên mặt đất đau thương này?
“Chân
lý nào cũng mang bộ mặt khủng khiếp, đằng sau cái bề ngoài
thanh thản mênh mông. Cuộc sống nào cũng trùng trùng dâu biển,
những tang thương. Chỉ có con người an nhiên nơi trí tụê,
mới có tín tâm kiên quyết tin rằng:
Đình
tiền tạc dạ nhất chi mai
(Trước
sân, đêm rồi, đã nở một cành mai)
Phật
Giáo đáng yêu ở chỗ đó, vừa tố giác tính chất vô thường
biến dịch của cuộc sống, vừa đặt bước thênh thang tự
tại trên những đoá mai vô thường chớm nở, để thành đạt
cái đẹp, đồng thời là chân tánh của cuộc đời7 ”
Đó
là lời của Hoà thượng thi sĩ Thích Mãn Giác (Huyền Không).
Một người mà từ hơn nửa thế kỷ nay, hồn thơ lúc nào
cũng cứ lận đận mãi với những khóm mai già trong những
ngôi chùa của quê cha đất tổ.
-
III -
Phong
đả tùng quang nguyệt chiếu đình
Tâm
đầu cảnh sắc cộng thê thanh
Cá
trung tư vị vô nhân thức
Đương
dữ sơn tăng lạc đáo minh
(Gió
đập hiên tùng nguyệt dọi sân
Tình
này cảnh ấy luống bâng khuâng
Mùi
Thiền trong đó nào ai biết
Thức
suốt đêm trường vui với Tăng)
(Mật
Thể dịch )
Không
hiểu sao cứ mỗi lần ngồi nhớ ngôi chùa nơi rặng núi ở
quê nhà tự thời tuổi thơ xa xôi thì bài thơ ấy của Trần
Thái Tông lại hiện đến trong trí nhớ của tôi, và tôi đã
tự đọc cho chính mình nghe để đỡ nhớ.
Có
thể đấy chính là vì cái không khí tĩnh mịch và vắng vẻ
mà bài thơ đã nói lên được. Chính cái không khí tĩnh mịch
này mà tâm hồn ta mới dễ giao cảm với đất trời, cái
tĩnh mịch mà thi ca Nhật Bản gọi là vĩnh tịch (Sabi). Trạng
thái vĩnh tịch ấy chỉ có những người đã từng sống qua
rồi thì mới có thể cảm nhận được. Đúng như câu thứ
ba trong bài thơ:
Cá
trung tư vị vô nhân thức
Mà
hòa thượng Mật Thể đã dịch là:
Mùi
Thiền trong đó nào ai biết.
Nhưng
có điều lạ lùng là mỗi khi về lại ngôi chùa của tuổi
thơ dạo ấy thì tôi không bao giờ tìm lại được cái không
khí tĩnh mịch và vắng lặng như cái tĩnh mịch và vắng lặng
của ngôi chùa mà trên bước đường lưu lạc lúc nào tôi
cũng nhớ thương da diết trong tâm tưởng của mình. Dù bề
ngoài thì chùa vẫn vậy, nghĩa là chùa vẫn đứng đó, vẫn
âm thầm chịu đựng những cơn gió buốt lạnh từ núi cao
đổ xuống trong những ngày Đông mưa gió lê thê. Vẫn đứng
đó cùng với những tia nắng vàng yếu ớt mong manh của những
ngày cuối thu như ngậm ngùi cho những tang thương dâu bể
của cuộc đời. Vẫn đứng đó trong bầu trời cao tĩnh mịch
của những ngày tháng Năm mùa Hạ, vẫn đứng đó với những
bông hoa rừng, bông vạn thọ nở vàng cả lối đi trong những
ngày Xuân rộn ràng tiếng chim kêu ríu rít.
Nhưng
tại sao tôi vẫn thấy xa lạ ngay cả khi tôi đang ngồi trong
chính ngôi chùa ấy? Vì nhớ tuổi thơ chăng? Có lẽ chỉ đúng
một phần nào thôi, vì ai mà chẳng nhớ đến tuổi thơ hồn
nhiên trong trắng của mình. Vậy thì tại sao? Chắc phải có
một lý do nào đó chăng?
Trong
tác phẩm quan trọng của văn hào Nhật Bản Yukio Mishima, tác
phẩm Kim Các Tự (Kinkakuji) qua nhân vật chính kỳ lạ có tên
là Mizaguchi. Ngay từ khi còn nhỏ Mizaguchi vẫn thường nghe
cha của mình kể về cái đẹp của Kim Các Tự. Từ đó ngôi
chùa gần như cứ ám ảnh mãi trong tâm hồn tuổi thơ của
Mizaguchi. Và từ đó, ngôi chùa đã trở thành biểu tượng
cho cái đẹp, mà cái đẹp theo Mizaguchi là vấn đề sống
chết mà Mizaguchi phải đối phó “… Thực không phải nói
quá lời khi bảo rằng vấn đề tối sơ mà tôi thực sự
phải đối phó trên đời là vấn đề cái đẹp…”
Nhưng
thế nào là cái đẹp?
Nhân
vật chính trong tiểu thuyết của Yukio Mishima suy nghĩ theo cách
của riêng mình: “… Một đứa bé như tôi, không thể nghĩ
đến cái đẹp như một cái gì nho nhỏ hoặc lớn lớn nhưng
là một sự vật vừa phải. Vì thế khi nhìn thấy những bông
hoa mùa hè bé nhỏ đượm sương mai, có vẻ như đang toả
ra một ánh sáng mơ hồ, tôi thấy chúng cũng đẹp như ngôi
chùa Kim Các Tự vậy. Lại nữa, khi những đám mây ảm đạm
chất đầy sấm sét ùn ùn chồng chất bên kia dãy núi đồi,
chỉ có những viền ngoài lấp lánh ánh vàng vẻ tráng đại
của chúng cũng làm tôi nhớ đến ngôi Kim Các Tự. Cuối cùng
đến nỗi ngay cả khi nhìn thấy một cái gì đẹp đẽ khác,
trong lòng tôi cũng vụt nhớ đến Kim Các Tự và nổi lên
một sự so sánh: “Đáng yêu như Kim Các Tự”. Hoặc có những
khi đứng nhìn mông lung vào đêm tối mịt mùng Mizaguchi vẫn
thấy “Kim Các Tự đang băng mình qua một đêm như dài vô
tận”.
Rồi
nhân vật Mizaguchi băn khoăn tự hỏi: “Tôi không sao ngăn
được một cảm giác bứt rứt và bực bội khi nghĩ rằng
vẻ đẹp này đã tồn tại trên đời từ lâu mà tôi chẳng
hề biết. Nếu quả thực cái đẹp đã tồn tại ở đó,
điều ấy có nghĩa là chính sự tồn tại của tôi xa lạ
với cái đẹp…”
Và
rồi Mizaguchi tự đưa ra một kết luận: “Cái đẹp vì thế
là một đối tượng mà người ta có thể sờ mó bằng ngón
tay, có thể thấy phản ảnh rõ ràng trong đôi mắt. Tôi biết
và tôi tin rằng giữa tất cả những đổi thay của thế giới,
Kim Các Tự vẫn còn ở đó an toàn và không bao giờ thay đổi”.
Thế
nhưng khi người cha quyết định dẫn Mizaguchi đến Kim Các
Tự để gởi cho Viện chủ thì Mizaguchi lại trù trừ do dự,
vì lý do giản dị là sợ những gì mình đã tưởng tượng
về Kim Các Tự có thể sụp đổ hết khi phải đối diện
với Kim Các Tự thực. Mizaguchi lo sợ điều ấy sẽ xảy ra
nên đã tự lý luận để trấn an trước: “Dù thế nào đi
nữa, điều cốt yếu là Kim Các Tự phải thật đẹp đẽ.
Do đó, tôi đem đánh đổi tất cả không phải lên cái đẹp
khách quan của chính ngôi chùa cho bằng cái đẹp khả năng
tưởng tượng ra vẻ đẹp của nó nơi riêng tôi”.
Dù
đã cố lý luận để trấn an như vậy, nhưng cuối cùng khi
đến Kim Các Tự, Mizaguchi đã thật sự thất vọng “tôi
ngạc nhiên tự hỏi có lẽ nào cái đẹp lại là một sự
vật không đẹp đẽ như thế này sao?”.
Nhưng
khi từ giã Kim Các Tự để trở về thì cái đẹp của Kim
Các Tự lại tiếp tục ám ảnh tâm hồn của Mizaguchi “sau
khi trở về Yakuoka, Kim Các Tự đã từng làm tôi thất vọng
biết bao nhiêu khi nhìn thấy lần đầu, đến lúc này lại
gợi lại vẻ đẹp của nó trong lòng tôi càng ngày càng sâu
đậm cho đến lúc trở thành một Kim Các Tự đẹp đẽ hơn
là trước khi tôi được nhìn thấy8 ”.
Dường
như nơi mỗi người trong chúng ta không nhiều thì ít cũng
đều có một Kim Các Tự của Mizaguchi trong tận đáy hồn
sâu thẳm của mình?
Với
tôi, đó là ngôi chùa cổ mà tuổi thơ tôi đã sống. Thực
ra, ngôi chùa ấy cũng chỉ là biểu tượng (như Yukio Mishima)
đã lấy Kim Các Tự làm biểu tượng cho cái đẹp, cái đẹp
mà ít nhất một lần nào đó trong đời ta đã bất ngờ nhìn
thấy dù rất mong manh. Rồi từ đó ngôi chùa ấy cứ ám ảnh
ta mãi.
Thi
sĩ Quách Tấn của Việt Nam mà trong toàn thể thi nghiệp
của mình cũng đã từng thể hiện nỗi nhớ thương da diết
về một ngôi chùa trong mộng tưởng như vậy:
Mây
nước nhiễm phong trần
Nơi
đâu tình cố nhân
Những
đêm buồn tỉnh giấc
Chùa
cũ tiếng chuông ngân
“Chùa
cũ” mà thi nhân nhớ thương đó ở nơi nào? Tại một đỉnh
núi cao? Hay một thảo nguyên xa xôi nào đó của thời mà thiên
nhiên còn man dại, như thuở vũ trụ còn hoang sơ?
Sông
dài bãi vắng núi chênh vênh
Chùa
khuất sau mây tiếng trống rền
Gió
nước nôn nao lòng đãi độ
Lạnh
lùng sương xuống bến trăng lên
Hay
là ngôi chùa ấy chỉ có trong tâm tưởng của thi nhân trong
những đêm trăng sáng giữa một mùa thu mênh mông:
Neo
thu bến tạnh thuyền sương sóng
In
bóng chùa xa trăng nửa hiên
Ta
không thể nào biết được. Chỉ biết rằng thi nhân đã đi
tìm, và cuối cùng cũng đã gặp ngôi chùa ấy trong một thoáng
giây tuyệt đẹp:
Thoảng
tiếng chuông chùa vọng
Bóng
đèn khuya rung rinh
Nao
nao lòng giếng quạnh
Hơi
thu tràn hư linh
Đọc
hai câu cuối:
Nao
nao lòng giếng quạnh
Hơi
thu tràn hư linh
Ta
có cảm tưởng như trong giây phút đó thi nhân đã vượt qua
được thứ thời gian do ý thức nhị nguyên của con người
tạo ra, và đã tiến gần đến thời gian của vĩnh cửu.
Nhưng
thế nào là thời gian? Và có cái gọi là thời gian vĩnh cửu
không?
Trong
tác phẩm ‘Đối thoại giữa Triết học và Phật giáo’
của hai tác giả là Jean François Revel và Matthieu Ricard. Theo
Matthieu Ricard thì: “Thời gian chỉ là một quan niệm dính
liền vào chuỗi khoảnh khắc được nhận ra bởi một người
quan sát. Thời gian không tự nó có được vì lẽ người ta
không thể nắm bắt một khoảng thời gian và không gian riêng
biệt nào cả. Thời gian và không gian chỉ có tương đối
cho những hệ thống tham khảo riêng biệt, và cho những kinh
nghiệm của chúng ta mà thôi”.
Như
vậy vẫn theo Matthieu Ricard “Ngoài hiện tượng ra không có
thời gian. Nếu không có hiện tượng lấy đâu ra thời gian.
Thời gian dính liền với thay đổi. Quá khứ đã trôi qua,
tương lai thì chưa tới mà dòng thời gian không thể nắm bắt
được trong giây phút hiện tại”.
Còn
thời gian vĩnh cửu?
Vẫn
theo Matthieu Ricard “thì trong siêu hình Phật Giáo người ta
nói đến một thời gian thứ tư, vượt trên quá khứ, hiện
tại và vị lai. Đó là thời gian vĩnh cửu”.
Vĩnh
cửu, như vậy theo Matthieu Ricard: “Thời gian thứ tư này không
thực sự là thời gian mà chỉ là từ để ngụ ý rằng vĩnh
cửu ở bên kia thời gian, vì thời gian chỉ liên quan với
thế giới hiện tượng9 ” .
Phải
chăng đây cũng là một định nghĩa khác về vĩnh cửu?
“Cái
nhìn của con mắt thịt không bao giờ có thể vượt ra ngoài
hạn chế của không gian. Nhưng cái nhìn của con mắt tình
yêu thì không hề biết đến giới hạn như thế. Tình yêu
có khả năng thực hiện những phép lạ, những thần thông
biến hóa vượt ngoài ước lượng và hiểu biết của một
tâm hồn khô héo. Làm sao người ta có thể nghe được những
lời ngọt ngào của suối rừng, của gió núi, khi mà tâm tư
không gợi chút xao xuyến của tình yêu10 ”.
Chính
cái nhìn không giới hạn này, nên mặc dù mùa Xuân của đất
trời đã qua rồi, vậy mà Thiền sư Mãn Giác của chúng ta
ở đời Lý trong một đêm tối trời vẫn bất chợt thấy
được một cành mai đang nở rộ trước sân chùa.
Phải
chăng cành mai ấy chính là biểu tượng của tình yêu? và
một khi trái tim của kẻ nào đã tràn ngập tình yêu thì nhất
định kẻ đó sẽ gặp một mùa Xuân không bao giờ tàn phai
nữa, mùa Xuân của vĩnh cửu chăng? ❏
T.P.A.
Mùa
Đông 2002
[1]
Zarathustra đã nói như thế, nxb An tiêm, tr. 13
[2]
Trần Xuân Kim dịch, sdd Tr.55
[3]
HT Bích Liên dịch
[4]
Tuệ Sỹ, Thắng Man giảng luận, Tr. 33,34
[5]Tuệ
Sỹ, Thắng Man giảng luận, Tr. 33, 34
[6]
Thiền học Việt Nam, Thuận Hoá, trang 242.
[7]
Phật học, Thiền học và Thi ca, Tu thư Vạn Hạnh 1974, lời
tựa.
[8]
Kim Các Tự, nxb An Tiêm, Đỗ Khánh Hoan và Nguyễn Tường Minh
dịch. Trích đăng rải rác.
[9]
Bác sĩ Hồ Hữu Hương dịch, NXB. TP. HCM, 2002 Tr. 186.
[10]
Tuệ Sỹ, Thắng Man giảng luận, Tr. 31.