HOA
ĐÀO
NGOÀI
ĐỜI VÀ TRONG THI CA
Phạm
Nhị Nhung
Mùa
xuân ở nước Việt ta, nhất là vào dịp Tết Nguyên Đán,
là lúc muôn hoa rộ nở, hồng tía khoe tươi. Giống như hoa
mai vàng ở miền Trung và miền Nam, hoa đào mầu hồng thắm
ở miền Bắc nổi bật giữa các loài hoa và được chưng
bày khắp mọi nhà, nó tạo cho ngày Tết một màu sắc, một
phong vị đặc biệt, và nghiễm nhiên trở thành loại hoa Tết
chính thống của dân tộc.
Tục
lệ chơi hoa đào ngày Tết ở xứ Bắc đã có từ lâu đời,
vì chẳng những hoa đào có màu hồng rực rỡ là mầu “hỉ
tín”, rất phù hợp với không khí vui tươi, tràn trề hy
vọng của những ngày đầu năm mới mà người xưa còn tin
là cây đào trị được ma quỉ. Tích xưa kể rằng, dưới
gốc cây đào già nơi núi Độ Sóc có hai vị thần Trà và
thần Lũy cư ngụ, họ giữ trọng trách cai quản đàn qủi,
qủi nào làm hại dân gian thì ra tay trừng phạt ngay. Mỗi
khi Tết đến, lợi dụng cơ hội các vị hành khiển trông
nom việc dưới thế phải lên chầu trời để trình tấu mọi
việc thế gian, bọn qủi liền ra quấy phá. Do đó, vào dịp
này người ta thường trưng một cành đào trong nhà, để bọn
qủi tưởng là nơi hai vị thần Trà thần Lũy trấn giữ,
sợ, không dám bén mảng.
Ở
ven đô Hà Nội, phía tây bắc Hồ Tây. là làng Nhật Tân,
nổi tiếng về nghề trồng bích đào và đào phai.
Trước
năm 1954, tám mươi phần trăm dân làng ở đây chuyên nghề
trồng đào, họ khai khẩn đến gần trăm mẫu đất, trồng
hàng vạn cây đào mới đủ cung ứng nhu cầu thị hiếu chơi
hoa đào vào dịp Tết của dân Hà thành.
Loại
bích đào hoa to, mỗi cụm chỉ độ dăm bông, mỗi bông có
12 hay 14 cánh nhưng cũng có loại 32 cánh (loại bông kép), loại
này ít trồng vì không mấy được ưa chuộng. Cánh hoa bích
đào dầy, màu hồng thắm, xếp thành nhiều lớp, nhị vàng
tua tủa; lá có hình mũi mác, mầu xanh biếc, cành thì vươn
thẳng. Bích đào là loại hoa đẹp nhất, hiếm, quí vì khó
trồng và phải có thổ ngơi thích hợp.
Bích
đào và đào phai (đào ăn quả) xưa lấy giống từ Trung Quốc.
Theo các nhà khảo cổ học về cây cỏ thì người Trung Hoa
biết trồng đào ít nhất từ bốn ngàn năm. Đào từ Trung
Quốc truyền vào Trung Á (Asie Centrale), vào Ba Tư (Perse tức
Iran). Một thế kỷ trước công nguyên, ông Alexandre Le Grand
mang giống đào từ xứ Perse vào Rome và mãi đến thế kỷ
XVII, cây đào mới được du nhập vào Mỹ Châu. Các nhà thực
vật học đầu tiên tưởng Perse là quê hương của đào, nên
đặt cho nó cái tên khoa học là [i] Prunus persica. [/i] Sau người
ta biết là nhầm nhưng đã quen gọi lâu đời nên vẫn để
nguyên tên đó., thay vì phải đổi là Prunus sinensis, họ Rosacées.
Ở
Việt Nam ta từ thời xa xưa đã biết trồng đào phai để
ăn quả, loại này cánh hoa mỏng, thưa, màu hồng nhạt, còn
lá thì màu xanh nõn. Đào phai dễ trồng và sức sống của
nó rất mạnh. Thị trấn Sa Pa thuộc vùng Hoàng Liên Sơn là
xứ sở của đào phai. Dân làng Nhật Tân mua cây đào phai
còn non về trồng, một năm sau cây đủ mạnh, họ sử dụng
làm gốc ghép. Trước tháng 11, họ cắt một nhánh bích đào
ghép vào gốc cây đào phai, chờ đến Tết là họ có một
cành bích đào tươi tốt đem bán. Mỗi năm mỗi gốc đào
phai chỉ dùng ghép được một cành bích đào, thế nên gốc
đào phai có bao nhiêu mấu là cây đó bấy nhiêu tuổi.
Quê
hương của bích đào và đào phai là Trung Quốc, nhưng quê
hương của hoa anh đào lại là nước Nhật Bản. Người Nhật
gọi hoa Anh Đào là “quốc hoa”, tức là loài hoa đại diện
cho dân tộc của họ. Nước Nhật còn được mệnh danh là
“xứ hoa anh đào”, vì hoa anh đào dược trồng khắp nơi
trên dải đất Phù Tang, nhất là ở những vùng đồi núi
hẻo lánh, nơi có những ngôi chùa cổ kính. Nhìn từ xa người
ta chỉ thấy mái chùa ẩn hiện thấp thoáng dưới những lùm
đào cổ thụ um tùm. Mỗi độ xuân về, hoa nở hồng ngát
cả môt phương trời, tạo cho chốn thiền môn một vẻ thanh
tịnh, nhuốm đầy đạo vị.
Năm
1912, Nhật Bản gửi tặng Hoa Kỳ 3.000 cây anh đào, gồm nhiều
loại khác nhau, nhưng hai loại chính là Yoshimo và Kwanzan. Những
cây này phần lớn đem trồng dọc hai bên bờ sông Potomac tại
thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Kể từ năm 1934, nhà cầm quyền
nơi đây cũng bắt chước dân Nhật mở Hội Hoa Anh Đào. Nhưng
thay vì đi dạo ngắm hoa, ngồi thiền trà hay ca hát dưới
hoa thì ở Mỹ người ta tổ chức các cuộc diễn hành, thi
xe hoa và có các ban nhạc từ các tiểu bang khắp nước gửi
về tham dự.
Hoa
đào mỗi năm nở sớm hay muộn tuỳ theo thời tiết, người
ta phải đoán trước để định ngày lễ hội cho đúng dịp
hoa nở. Năm nào chẳng may gặp những trận mưa đá hay mưa
tuyết bất thường làm hoa tàn tạ sớm thì đám người dự
hội chỉ còn nước ngắm cảnh cành trơ với những cánh hoa
tan tác bên đường.
Đầu
thế kỷ XX, Nhật Bản cũng đã gửi tặng nước Pháp nhiều
cây anh đào.
Số
cây anh đào trồng tại Jardin des plantes tuy chỉ vài chục cây
nhưng có đủ loại, từ loại cánh hoa đơn dến cánh hoa kép,
có hương hay không hương, mầu trắng phớt hồng đến hồng
đậm rồi tới đỏ thẫm.
Riêng
tại vườn đào trong Parc de Sceaux, hiện đếm được 147 cây,
những cây cổ thụ trồng từ đầu thế kỷ nay còn lại độ
một phần ba, những cây chết được thay thế ngay bằng những
cây mới nên tới mùa hoa, vườn hoa anh đào bao giờ cũng xum
xuê. Tất cả những cây đào trồng ở đây đều thuộc loại
anh đào, cây cao chừng 3-4 mét có hoa mọc thành chùm, cánh
hoa mỏng như lụa , màu phấn hồng ngọt ngào. Tới mùa, hoa
nở chi chít, ngọn lả xuống tận mặt đất, trông như những
lẵng hoa thiên nhiên khổng lồ đặt trên nền thảm cỏ non,
xanh mướt. Ngồi từ dưới gốc cây nhìn lên thấy cả một
trời hoa lồng lộng, nhìn ra tứ phía, một màu hồng bát ngát
bao phủ khắp không gian. Đúng là cảnh Thiên Đàng hạ giới!
Kiếp
hoa đào thật mỏng manh, từ lúc hoa nở đến lúc hoa tàn chỉ
trong khoảng ba ngày ngắn ngủi, cả mùa hoa cũng chỉ kéo dài
được ba tuần. Từ đầu tháng tư dương lịch, những đoá
hoa khai mùa bắt đầu nở đến hết tuần thứ ba là những
cánh hoa cuối mùa rụng hết. Nhưng dù ở thời điểm nào,
vườn đào vẫn có một vẻ hấp dẫn riêng. Tươi mát, mơ
màng khi những nụ hoa đầu tiên vừa chúm chím môi cười
sau bao ngày im lìm trong băng giá. Tưng bừng, rực rỡ khi cả
ngàn hoa rộ nở. Man mác, nên thơ khi những cánh hoa rơi bay
tơi tả khắp không gian rồi trải thảm trên nền cỏ biếc.
Phải
chăng vì mầu hoa đào thắm tươi, nồng nàn, quyến rũ, hay
vì kiếp hoa đào mỏng manh bạc mệnh; hay vì vườn hoa đào
đẹp một cách thanh thoát, thần tiên v.v… đã khiến gây
được nhiều mỹ cảm cho người đời, nhiều thi hứng cho
các tao nhân mặc khách? Chẳng thế trong kho tàng thi ca phong
phú của Nhật Bản, của Trung Hoa cũng như của Việt Nam đã
không hiếm những áng thơ văn tuyệt mỹ, những trang tình
sử diễm lệ có liên quan tớí hoa đào.
Nước
Nhật, ai cũng biết, có một đường lối giáo dục nghiêm
khắc , một quân đội hùng mạnh, can cường, từng đi chinh
phục được nhiều dân tộc trên thế giới, vậy mà dân họ
lại có một cái nhìn rất bi quan về kiếp người khi đem
cuộc đời ngắn ngủi của hoa đào ra so sánh, như hai câu
thơ tiêu biểu dưới đây:
- Anh
đào nở ba ngày đã rụng
Khác
chi người một kiếp phù du.
Trong
một bản dân ca Nhật Bản đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ
nhạc và chế lời Việt, cũng mang một quan niệm yếm thế
không kém:
- Rượu
nồng ta uống, uống, uống say một đêm ngất ngây
Thả
hồn theo gió heo may, đến hôn hoa, những cánh hoa anh đào say
Nhạc
nghe xa vắng những tiếng buồn, đường tơ héo hon, đường
tơ héo hon
Chạy
theo ánh sáng lung linh, ánh trăng thanh đến mơn man cuộc tình
trinh.
Trời
xuân man mác những mối sầu, tình theo gió mau
Cánh
hoa tươi tốt không lâu, một đêm nào sẽ rớt mau về đời
sau.
Rượu
nồng ta uống choáng cõi đời để quên nắng phai, để quên
nắng phai
Đời
người mỏng quá đi thôi, hỡi ai ơi hãy quên đi, rượu đầy
vơi...
Trong
khi đó, người Trung Hoa và người Việt Nam lại có cái nhìn
rất phong phú và yêu đời về hoa đào, về cây đào.
Người
Trung Hoa xưa ví nhân tài như cây đào, cây mận. Địch Nhân
Kiệt làm tể tướng đời Đường, thu dụng được nhiều
nhân tài nên có người bảo “cây đào, cây lý trong nước
ở cả cửa tướng công”.
Nói
về thi ca Trung Hoa, kinh thi, tập thơ dân gian cổ nhất của
họ, do đức Khổng Tử san định khoảng giữa thế kỷ thứ
sáu trước công nguyên, mục Chu nam, thơ Đào Yêu có câu :
Đào
chi yêu yêu
Chước
chước kỳ hoa
Chi
tử vu qui
Nghi
kỳ thất gia.
...........
Nghĩa
là:
Mơn
mởn đào tơ
Rực
rỡ nở hoa
Cô
nàng lấy chồng
Êm
ấm cửa nhà.
Ở
đây, cây đào non đã được ví với người thiếu nữ trẻ
trung đến tuổi dậy thì, tuổi lấy chồng.
Trong
Tả truyện, chương thập tứ niên, hoa đào lại được biểu
hiệu cho người phụ nữ có nhan sắc diễm lệ.
Truyện
kể, nàng Tức Vỉ, vợ Tức Hầu đời Xuân Thu, có sắc đẹp
tuyệt trần. Sở Văn Vương mê nàng tìm cách diệt Tức Hầu
rồi đem nàng về phong làm phu nhân.
Tức
Vỉ chẳng những có dáng hình tha thướt, yểu điệu mà đặc
biệt hai má lúc nào cũng đỏ au như cánh hoa đào, vì thế
nàng được người đương thời tặng cho biệt danh “Đào
Hoa Phu Nhân”.
Bài
Đào Nguyên ký của Đào Tiềm cho hay: Vào đời Tấn (245-419)
có người thuyền chài ở Vũ Lăng, một hôm chèo thuyền đi
ngược dòng suối, thấy có nhiều hoa đào trôi theo dòng nước
đổ xuống, sau lạc vào nơi trồng cơ man là cây đào, ở
đây người ta sống rất an vui hạnh phúc. Sau đó, chữ “động
đào”, hay “đào nguyên”, hay “nguồn đào” được dùng
chỉ nơi tiên ở.
Trong
huyền thoại Trung Hoa có nói đến vườn đào của Tây Vương
Mẫu ở thiên giới. Nơi đây, hoa nở quanh năm, trái đủ bốn
mùa. Ai được ăn trái đào tiên này sẽ trường sinh bất
lão (truyện Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân cũng có nhắc tới).
Bởi
vậy, ta thường thấy trong những bức tranh hay tượng tam đa,
(hình ba ông Phúc-Lộc- Thọ) ông Thọ bao giờ trên tay cũng
cầm trái đào, còn trong tranh Tết thì hình thằng bé mũm mĩm,
giang tay ôm trái đào tiên khổng lồ vào lòng, là có ý chúc
trường thọ.
Còn
về chuyện ái tình thì không thể không nhắc tới giai thoại
Hoa
Đào Thôi Hộ, vì hoa đào ở đây đã làm nền cho một
câu chuyện tình lãng mạn nhất trong văn chương thi phú Trung
Hoa.
Thôi
Hộ, một danh sĩ đời Đường (618-907), nhân dự hội Đạp
Thanh, chàng lạc bước đến Đào Hoa Thôn rồi ghé vào Đào
Hoa Trang gõ cổng xin nước giải khát. Một thiếu nữ ra mở
cổng, rụt rè đưa nước cho chàng. Nàng rất đẹp, vẻ mặt
e lệ, hai má đỏ hây như càng đỏ hơn dưới bóng cây hoa
đào. Chàng cũng ngượng ngập, đỡ bát nuớc uống rồi vội
vã từ giã ra về.
Nhớ
người, nhớ cảnh, năm sau đến ngày hội xuân, Thôi Hộ háo
hức trở lại Đào Hoa Trang, nhưng nơi đây cửa đóng then
cài, người xưa vắng bóng, chỉ có ngàn hoa đào vẫn rực
rỡ đang mĩm cười trước gió đông. Quá xúc cảm, chàng đã
phóng bút đề bài thơ tứ tuyệt trên cổng nhà nàng:
- Khứ
niên, kim nhật, thử môn trung
Nhân
diện, đào hoa tương ánh hồng
Nhân
diện bất tri hà xứ khứ
Đào
hoa y cựu tiếu đông phong.
Dịch:
-
Cửa này, năm ngoái, cũng hôm nay
Mặt
ngọc hoa đào, ánh đỏ hây
Mặt
ngọc đi đâu mà chẳng biết
Hoa
đào năm ngoái vẫn cười tươi.
Xế
chiều, người thiếu nữ và thân phụ đi viếng chùa xa trở
về, chợt nhìn thấy mấy câu thơ trên cổng, nét bút bay bướm,
tình ý nồng nàn thì nàng đoán ngay của khách du xuân năm
ngoái, lòng xiết bao cảm động. Từ đó ngày ngày nàng có
ý ngóng trông... Nhưng hết mùa hoa đào này đến mùa hoa đào
khác trôi qua, ai kia vẫn bặt vô âm tín.
Hoàn
toàn tuyệt vọng, người thiếu nữ sầu khổ, bỏ ăn quên
ngủ, dung nhan mỗi ngày một tiều tuỵ võ vàng. Thân phụ
nàng hết lòng tìm thầy cứu chữa, nhưng vô hiệu vì:
- Nhược
hữu lương y viên tuyệt mạng
Tùng
lai vô dược liệu tương tư.
(Ví
có thầy giỏi cứu được mạng sống con người
Nhưng
chưa từng có thuốc chữa được bệnh tương tư)
Rồi
tới một mùa hoa đào sau đó vài năm, biết không thể sống
nổi, người thiếu nữ thú thật tâm sự cùng cha già và xin
cha tha cho tội bất hiếu.
Nhìn
con gái đang hấp hối trên giường bệnh, xót con nóng lòng,
ông lão chạy vội xuống đường mong tìm cho ra người đề
thơ trên cổng đến nỗi đâm bổ vào một chàng văn nhân.
Nhìn nét mặt lão hốt hoảng, nước mắt đầm đìa, chàng
hỏi cớ sự, hiểu ra liền oà lên khóc và thú nhận mình
chính là Thôi Hộ, kẻ đã đề thơ thuở nào. Ông lão mừng
rỡ,cuống quít kéo chàng vào nhà… thì cũng vừa lúc người
thiếu nữ trút hơi thở cuối cùng.
Quá
thương cảm, Thôi Hộ quì xuống bên giường, cầm lấy tay
nàng, áp mặt vào mặt nàng, nức nở khóc. Kỳ lạ thay, nước
mắt chàng Thôi vừa nhỏ xuống mặt người thiếu nữ thì
nàng từ từ mở mắt, sống lại.
Sau
đó, chuyện gì phải đến đã đến và thiên tình sử Hoa
Đào Thôi Hộ đã khép lạ ở đây, nhưng dư âm của nó
vang vọng mãi đến muôn đời sau.
Riêng
ở nước ta, hoa đào đã đi vào lịch sử, ngôn ngữ hàng
ngày và thi ca một cách đậm đà ý vị.
Về
lịch sử, vào tết Kỷ Dậu (1789), vua
Quang Trung sau khi đem đoàn quân tốc chiến từ Nam ra Bắc,
đại phá được 20 vạn quân Thanh xâm lược, liền sai quân
sĩ chọn lấy một cành bích đào đẹp nhất Thăng long, cho
ngựa phi gấp mang vào Phú Xuân để tặng công chúa Ngọc Hân,
thay cho thiếp báo tin mừng chiến thắng.
Trong
ngôn ngữ hàng ngày thi - màu đào, dùng để tả màu hồng
thắm hay đỏ tươi như: má đào, lụa đào, cờ đào, máu
đào
Qua
thi ca, thành ngữ - “đào tơ mơn mởn” chỉ người thiếu
nữ đang tuổi dậy thì, có vẻ đẹp tươi mát, đầy sức
sống - “Liễu yếu đào tơ” chỉ người thiếu nữ có vẻ
đẹp yểu điệu mảnh mai - “Số đào hoa” là số có duyên,
được nhiều người khác phái ưa thích - ‘Kiếp đào hoa’
cũng như ‘Số hoa đào ‘ , nói như Nguyễn Du trong truyện
Kiều : ‘Chém cha cái số hoa đào Gỡ ra rồi lại buộc vào
như chơi’ (c.2151-2152) chỉ số phận hẩm hiu, bạc mệnh của
kiếp gái giang hồ.
Tục
ngữ: - “Một giọt máu đào, hơn ao nước lã” ý nói, bà
con có chung một huyết thống, dầu xa nhưng còn hơn người
dưng.v.v...
Trong
truỵện cổ tích Từ Thức, động Bích Đào ở xã Trị Nội,
huyện Nga Sơn, gần núi Thần Phù, là di tích một câu chuyện
thần tiên. Tích xưa kể rằng, Từ Thức nguyên là tri huyện
Tiên Du (Bắc Ninh), vào ngày hội hoa mẫu đơn tại ngôi chùa
sở tại, chàng đã cởi áo khoác cầm cố để giải cứu
cho người thiếu nữ chót đánh gẫy cành hoa quý.
Ít
lâu sau, Từ Thức treo ấn từ quan, ngày ngày ngao du sơn thủy.
Một hôm chàng chèo thuyền ngoài cửa bể Thần Phù, ghé vào
bờ núi đề thơ rồi lạc đến một động tiên, chàng được
phu nhân tiên chủ gả con gái yêu là Giáng Hương cho, để
đền cái ơn đã cứu nàng thuở nào.
Sống
ở Đào Nguyên tuy vui sướng nhởn nhơ nhưng Từ Thức không
nguôi lòng nhớ cố hương, bèn xin trở về. Biết không thể
lưu giữ được lâu hơn, phu nhân ban cho vân hạc đưa chàng
về trần, còn Giáng Hương trước phút từ biệt, trao cho chàng
một phong thư, dặn khi tới nhà hãy đọc.
Từ
Thức về đến quê, xiết bao bỡ ngỡ vì cảnh cũ đã hoàn
toàn thay đổi mà người xưa cũng không còn. Chàng hỏi thăm
ông già bà cả trong xóm thì có người cho biết, cụ tổ ba
đời của ông ta tên là Từ Thức, đi vào núi không thấy
về, nay đã trên 60 năm.
Quá
bơ vơ, lạc lõng, chàng Từ Thức tính quay lại níu lấy cánh
hạc để trở về tiên động, nhưng cánh hạc đã bay vút
trời cao. Chàng mở thư vợ ra xem mới hay ‘ tình duyên trần
tiên đã đoạn, muốn tìm lại động xưa chẳng còn được
nữa’.
Sau
đó ít lâu, Từ Thức đi vào núi Hoành Sơn ( gần Thanh Hoá),
không thấy trở lại.
Thi
sĩ Tản Đà, giữa đầu thế kỷ XX, cảm hứng chuyện cũ,
sáng tác nên bài từ khúc ‘Tống Biệt’ :
- Lá
đào rơi rắc lối Thiên Thai
Suối
tiễn, oanh đưa, những ngậm ngùi
Nửa
năm tiên cảnh,
Một
bước trần ai
Ước
cũ, duyên thừa có thế thôi!
Đá
mòn, rêu nhạt
Nước
chảy, huê trôi.
Cánh
hạc bay lên vút tận trời
Trời
đất từ nay xa cách mãi.
Cửa
động đầu non, đường lối cũ
Ngàn
năm thơ thẩn bóng trăng chơi.
Khác
với bài hát Thiên Thai của Văn Cao, nhằm ca ngợi cảnh đẹp
và hạnh phúc mà hai chàng Lưu Thần, Nguyễn Triệu trong truyện
thần tiên Trung Hoa, được vui hưởng khi lạc tới Đào Nguyên
đến quên cả đường về; sau hai chàng trở lại trần gian
vẫn còn luyến tiếc mãi không thôi:
- Thiên
Thai, chốn đây hoa xuân chưa gặp bướm trần gian
Có
một mùa đào cùng ngày tháng chưa tàn phai một lần
……
Đào
Nguyên trước, Lưu Nguyễn quên đường về
……
Nay
tìm Đào Nguyên,
Đào
Nguyên nơi nao?
Bài
từ khúc của Tản Đà lại hướng về quê hương hạ giới,
cốt làm nổi bật hai khía cạnh trong đời sống tâm lý muôn
thuở của thế nhân:
Con
người ta sống ở nơi nào, dù được sung sướng đến đâu
(như ở chốn thiên tiên) vẫn không thể quên được cố hương,
và sẽ có ngày tìm về.
Trái
lại, dù được sống ở quê hương, nhưng một khi người
xưa, cảnh cũ không còn, tất cả đã hoàn toàn đổi thay thì
con người lại cảm thấy bơ vơ, lạc lõng, ắt có ngày sẽ
tính chuyện bỏ xứ ra đi.
Lại
như trong thi ca bác học cổ điển của ta, vì chịu ảnh hưởng
văn học Trung Hoa nên các mầu sắc, hình ảnh : mầu đào,
hoa đào... thường được sử dụng để tả nhan sắc của
người phụ nữ(có tính cách ước lệ). Song chắc chắn chưa
một tác phẩm nào lại ca ngợi sức quyến rũ phi thường
của đôi má đào người đàn bà như trong Cung Oán Ngâm Khúc
của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều, sáng tác cuối thế kỷ
XVIII:
- Áng
đào kiểm đâm bông não chúng
Khoé
thu ba dợn sóng khuynh thành.
Bóng
gương lấp ló trong mành
Cỏ
cây cũng muốn nổi tình mây mưa.
(c.15-18)
- Má
đào không thuốc mà say
Nước
kia muốn đổ, thành này muốn long.
(c.167-168)
Đôi
má đỏ au như hoa đào của người cung phi ở đây không phải
bùa mê thuốc ngải mà có sức hấp dẫn mê hồn, có khả
năng làm say đắm lòng người đến độ có nhiều vị trấn
thành, trị quốc mê mệt tới sao lãng cả công vụ, đưa đến
tình trạng mất thành mất nước như chơi.
Riêng
Nguyễn Du, trong truyện Đoạn Trường Tân Thanh viết hồi đầu
thế kỷ XIX, thì mượn cây đào làm bối cảnh cho cuộc tình
của đôi tài tử giai nhân Kim Trọng – Thuý Kiều.
Sau
buổi được tao ngộ cùng Thúy Kiều trong ngày hội Đạp Thanh,
Kim Trọng trở về không lúc nào quên được nàng. Chàng say
mê Kiều đến độ giả danh du học, thuê hiên Lãm Thuý để
mong có cơ hội gặp lại người tình trong mộng của mình.
Cây
đào ở cuối vườn nhà Kiều, bên kia tường là hiên Lãm
Thúy, Kim Trọng ngày ngày ghé mắt nhìn sang. Lần đầu tiên
Kim thoáng nhìn thấy Kiều dưới tàn cây đào:
- Cách
tường phải buổi êm trời
Dưới
đào dường có bóng người thướt tha.
Kim
đã với được chiếc kim thoa của nàng vướng trên một cành
đào:
- Lần
theo tường gấm dạo quanh
Trên
đào nhác thấy một cành kim thoa
Giơ
tay với lấy về nhà.
Nhờ
đó Kim Trọng đã được gặp lại Thuý Kiều.
Nhân
một hôm cha mẹ và hai em vắng nhà, Kiều khẽ hắng giọng
làm hiệu gọi Kim cũng ở bên gốc cây đào này :
- Dưới
hoa sẽ dặng tiếng vàng
Cách
hoa đã thấy có chàng đứng trông.
Thì
ra Kim Trọng lúc nào cũng loanh quanh luẩn quẩn ở gần cây
đào để chờ Kiều.
Như
thế, cây đào đã gắn liền với những kỷ niệm về mối
tình đầu giữa Kim và Kiều.
Sau
nửa năm xa vắng (Kim phải về Liêu Dương thọ tang chú), Kim
trở lại vườn Thúy, chàng thấy mọi vật đều đã đổi
thay, riêng có cây đào năm xưa vẫn tưng bừng nở hoa như
ngày nào, như muốn trêu ghẹo nỗi cô đơn của chàng.
Tâm
trạng Kim Trọng lúc này chẳng khác nào Thôi Hộ khi trở lại
Đào Hoa Trang, không được gập lại người thiếu nữ đã
cho chàng bát nước giải khát trong ngày hội xuân năm trước.
Thế nên, Nguyễn Du đã mượn ý hai câu thơ cuối trong bài
tứ tuyệt của Thôi Hộ để tả cảnh ngộ và tâm trạng
Kim Trọng:
- Trước
sau nào thấy bóng người
Hoa
đào năm ngoái còn cười gió đông.
Có
ai ngờ câu chuyện tình Hoa Đào Thôi
Hộ vẫn còn để lại dư âm đến tận ngày nay?
Vào
mùa hoa đào năm 1991 tại Parc de Sceaux, nhìn thấy vườn đào
rực rỡ với muôn ngàn đoá hoa đang lung linh trong nắng xuân
hồng, chúng tôi lại nhớ đến khung cảnh thơ mộng trong cuộc
tao ngộ giữa danh sĩ Thôi Hộ và người em gái Đào Hoa Trang
thuở nào, lòng bỗng dạt dào cảm xúc.
Thay
vì thương cảm cho tình cảnh của chàng Thôi khi trở về chốn
cũ không gặp lại người xưa như Nguyễn Du trong truyện Kiều,
hay hầu hết các vị nam nhân khác mỗi khi nhắc đến câu
chuyện tình thơ mộng này; chị em phụ nữ chúng tôi lại
thường xót xa cho cảnh ngộ của người em gái Đào Hoa Trang,
chỉ vì đôi lời thơ hoài cảm của ai kia mà mang lụy vào
thân, đã bao tháng năm phải chờ đợi trong cô đơn, âm thầm,
vô vọng… nên đã sáng tác nên mấy vần thơ, thác lời Người
Em Đào Hoa Trang để làm kỷ niệm.
- Trong
vườn hoa đào rộ nở
Lung
linh dưới nắng xuân tươi
Cô
em má hồng ửng đỏ
Chợt
chàng Thôi Hộ ghé chơi.
Bốn
câu thơ viết theo thể phú, mô tả cuộc tao ngộ giữa danh
sĩ Thôi Hộ và người em gái Đào HoaTrang.
- Gặp
nhau chỉ dám thoáng nhìn
Sông
chờ, bến hẹn tưởng nghìn kiếp xưa.
Cổng
ngoài có mỗi bài thơ
Hoa
đào vẫn nở, người mơ chẳng về.
Hai
câu năm sáu, viết theo thể hứng; nhân cuộc gặp gỡ nẩy
sinh tình yêu. Rồi dùng thể tỉ để diễn tả tâm tình người
đẹp:
Nàng
vừa gặp chàng là bị trúng ngay tiếng sét ái tình. Nàng yêu
liền và tưởng chừng hai người đã thương nhau, đã chờ
đợi nhau từ nghìn kiếp trước, nay bất ngờ gặp lại hẳn
sẽ không bao giờ còn lìa xa nữa.
‘Sông
chờ’, ‘bến hẹn’ dùng phép tỉ, vừa nhân cách hóa, vừa
mượn hình ảnh thơ để diễn tả tình cảm tha thiết đợi
chờ của hai kẻ yêu nhau, hay ít ra cũng có trong tưởng tượng,
trong mơ ước của nàng.
Hai
câu kết, người em gái Đào Hoa Trang lộ vẻ đau đớn, vừa
tủi thương cho mình, vừa hờn trách đối tượng. Tưởng
chàng yêu nàng tha thiết thế nào, ngờ đâu chỉ vẻn vẹn
có một bài thơ rồi bỏ đi chẳng một âm hao ; trong khi tình
yêu của nàng dành cho chàng là cả một niềm thủy chung như
nhất, chẳng khác nào những bông hoa đào hàng năm vẫn nở
mỗi độ gió đông về (gió đông tức gió xuân, vì mùa xuân
mới có gió từ phương đông thổi tới).
Để
kết thúc bài ‘Hoa Đào Ngoài Đời Và Trong Thi Ca’, chúng
tôi xin tóm tắt như sau :
Hoa
đào là một thực tại, không ai có thể phủ nhận. Nhưng
thực tại đó hiện hữu như thế nào còn tuỳ thuộc nhiều
yếu tố, nhất là môi trường nó xuất hiện và cảm quan
của người tiếp nhận. Như hoa đào tả chốn Bồng Lai thì
người ta cho nó có vẻ đẹp xinh tươi, nở chốn thiền môn
thì có vẻ đẹp thanh tịnh, xuất hiện trước mắt những
kẻ đang yêu thì có vẻ đẹp rực rỡ, nồng nàn. Lại như
khi đi qua một vườn hoa đào, có người thấy đẹp, cảm
thấy rất an vui hạnh phúc , có người lại không. Như vậy
đủ rõ, qua cái nhìn của mỗi cá nhân, thực tại không còn
là thực tại mà đã được chuyển hoá. Có thể bị bi quan
hoá như cái nhìn của người Nhật về hoa anh đào, nhưng thường
là được thi vị hoá gấp năm, gấp mười lần, đặc biệt
qua thi ca còn được thăng hoa gấp trăm, gấp ngàn lần, như
bài thơ tứ tuyệt của Thôi Hộ, như bài hát Thiên Thai của
Văn Cao v.v…
Nhận
xét như vậy, chúng tôi không có ý gì khác hơn là tha thiết
mời quí vị vào mỗi mùa hoa đào , khoảng đầu tuần thứ
hai trong tháng tư, hãy nán chút thì giờ đi thăm vườn đào,
để cả thân tâm mà tận hưởng tất cả các vẻ đẹp của
nó. Này nhé, như thoạt nhìn từ xa, ta sẽ thấy mầu hoa, rồi
gần hơn, cây hoa, cành hoa, gần hơn nữa, cánh hoa, nhị hoa,
và nếu biết nhìn một cách sâu sắc, chúng ta còn có thể
thấy, chỉ một cánh hoa cũng đủ hàm chứa cả sự mầu nhiệm
của vũ trụ, vì trong đó không những có sự hiện diện của
ánh nắng mặt trời, ánh sáng trăng, sao mà còn cả gió, mưa,
sương, tuyết, đất, nước, cả người làm vườn và nhất
là sự hiện diện của chính chúng ta. Thực thế, nếu chúng
ta không có ý thức về cánh hoa đó, thì nó đối với chúng
ta như chưa từng hiện hữu, có cũng như không, nói chi đến
sự mầu nhiệm kia.
Hoa
đào quả là một ân sủng của Thượng Đế ban cho loài người…
Vườn đào quả là một Thiên Đường mà chúng ta có thể
tới được dễ dàng ngay trong cuộc sống hiện tại. Ít nhất
cảnh đẹp tinh khiết, tươi thắm của vườn đào cũng làm
cho ta mát mắt, tâm trí thư giãn; ngoài ra nó còn nuôi dưỡng
tâm hồn trong sáng, tươi trẻ của chúng ta, và biết đâu
còn gợi cho chúng ta nhiều cảm hứng, thi tứ, trên văn đàn
Việt Nam, nhờ đó mà nảy sinh thêm biết bao kỳ hoa dị thảo?
Phạm
Nhị Nhung
Tài
liệu tham khảo:
Bùi
Sỹ Thành: Hoa Đào Trong Truyện Kiều – Thuyết trình nhân
dịp lễ Thánh Đản làng Hành Thiện, tháng 10 – 1991 tại
Paris.
Đào
Duy Anh: Tự Điển Truyện Kiều, Nhà xuất bản Khoa Học Xã
Hội, Hà Nội 1987.
Nguyễn
Tử Quang: Điển Hay Tích Lạ, Khai Trí xuất bản, Saigon1964.
Đào
Nhật Tân Hà Nội, Mai Vàng Huế, Phụ Nữ Diễn Đàn, Giai Phẩm
Xuân Ất Hợi, số 131, California-1995
Tìm
Hiểu Phúc Âm : Hoa Anh Ðào, Văn Nghệ Tiền Phong số 274, California
1990.
-
Thuyết trình văn hoá tháng tư 1999 do Câu Lạc Bộ Văn Hóa
VN tổ chức, tại hội trường Thư Viện Diên Hồng, Paris 5.
-
Thuyết trình văn hóa Ngày Đại Hội Quốc Tế Y Nha Dược
Sĩ Việt Nam Tự Do, Paris 30-7-2000, tại Hôtel Sofitel, Salon Auditorium,
Paris 14.
Người
gửi bài: Mộng Hoa (Ái hữu Gia Long)