HOA ĐÀO
NGÀY XUÂN
Nguyễn
Khuê
Mùa
Xuân không thể không nói đến hoa, bởi lẽ "Xuân đáo bách
hoa khai", Xuân là mùa trăm hoa đua nở, trăm hoa khoe sắc. Mùa
Hạ thì nóng bức, hai mùa Thu và Đông thì lạnh lẽo, chỉ
mùa Xuân ấm áp mới thích hợp với hoa. Cùng chia sẻ quan
niệm ấy, Nguyễn Trãi (1380-1442), một nhà thơ sống hòa mình
với thiên nhiên hoa cỏ, đã ca ngợi vẻ đẹp của hoa xuân:
Ba
tháng hạ thiên bóng nắng dài
Thu
đông lạnh lẽo cả hòa hai
Đông
phong từ hẹn tin xuân đến
Đầm
ấm nào hoa chẳng tốt tươi.
(Xuân
hoa tuyệt cú, bài 1)
Đông
phong không phải là gió mùa Đông, mà là gió từ phương Đông
thổi đến, tức gió xuân. Theo vũ trụ quan của người Trung
Quốc, mùa Xuân thuộc hành mộc, ở về phương Đông.
Xuân
về đem theo cả trăm hoa với những dáng vẻ và màu sắc khác
nhau, nhưng được cho là hoa của mùa Xuân thì chỉ có đào
và mai. Ở đây chỉ xin nói về hoa đào.
Mỗi
năm, hoa đào lại trở về với tất cả vẻ thắm tươi mơn
mởn vốn có của nó giữa khi trời đất sang xuân:
Một
đóa đào hoa khéo tốt tươi
Cách
xuân mơn mởn thấy hoa cười.
Nguyễn
Trãi
(Đào
hoa thi, bài 1)
Người
xưa coi đào là loài cây vốn ở thượng giới, trồng tại
vườn đào của Tây Vương Mẫu. Theo Hán Vũ cố sự, Tây Vương
Mẫu trồng đào ba ngàn năm mới ra quả một lần. Đông Phương
Sóc ba lần đến ăn trộm đào, Tây Vương Mẫu giận, đày
ông xuống cõi trần. Trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi,
Đào hoa thi là chùm thơ vịnh hoa đào, gồm có sáu bài thất
tuyệt, thì hết ba bài có nhắc tới chim xanh (sứ giả của
Tây Vương Mẫu), Dao Trì, Tây Vương Mẫu và Đông Phương Sóc.
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du dùng điển tích này để viết
câu:
Vẻ
chi một đóa yêu đào,
Vườn
hồng chi dám ngăn rào chim xanh.
Đào
yêu (đào tơ mơn mởn) lại là tên một bài thơ trong Kinh Thi.
Đào
Tiềm (365-427) đời Tấn viết bài Đào hoa nguyên ký kể chuyện
một người đánh cá đi lạc đến suối Hoa Đào, vào động
Đào Nguyên(1), gặp con cháu những người lánh nạn đời Tần
sống ở trong đó; người ấy lưu lại vài ngày rồi ra về,
sau trở lại thì không tìm thấy chốn cũ. Bài ký nổi tiếng
ấy đã tạo nên một màn sương khói huyền ảo vây phủ động
Đào Nguyên, khiến nơi đó đối với người đời trở thành
một cõi tiên và cây đào cũng trở thành một loài cây đặc
trưng của cõi tiên. Chùm thơ của Tào Đường thời Vãn Đường
(836-905) nói về Lưu Thần và Nguyễn Triệu vào núi Thiên Thai(2)
hái thuốc, gặp tiên nữ, kết duyên vợ chồng, ở được
nửa năm thì nhớ nhà, từ giã tiên nữ xuống núi; sau muốn
trở lại Thiên Thai nhưng không nhớ đường. Chùm thơ gồm
có năm bài thất ngôn bát cú, ba bài trong số đó có nói tới
hoa đào. Hay nhất là hai câu cuối bài Tái đáo Thiên Thai:
Đào
hoa lưu thủy y nhiên tại
Bất
kiến đương thời khuyến tửu nhân.
(Nước
vẫn êm trôi, đào vẫn nở
Đâu
người thuở ấy chuốc ly bôi?)
Trần
Trọng San dịch
Hai
câu thơ khép lại cõi tiên mà người thế tục, nhờ tiền
duyên, chỉ có thể đặt chân đến một lần.
Nguyễn
Bỉnh Khiêm (1491-1585) vịnh hoa đào cũng cho rằng đào là giống
cây xuất xứ từ cõi tiên:
Tiên
thụ thùy tương quán lý tài?
Hảo
xuân nhất độ hảo hoa khai.
(Đào
hoa thi)
Cây
tiên bên quán bởi ai trồng?
Mỗi
độ xuân về rực rỡ bông.
Nguyễn
Khuê dịch
Theo
Nguyễn Trãi, mùa Xuân đẹp nhất hoa đào:
Khí
dương hòa há có tư ai
Năng
một hoa này nhẫn mọi loài.
(Đào
hoa thi, bài 4)
Trước
kia, một cành đào thắm, mội đôi câu đối đỏ và vài cặp
bánh chưng xanh là cái Tết đặc trưng ở miền Bắc nước
ta. Ngày Tết mà thiếu một trong ba thứ ấy thì hương vị
Tết không trọn vẹn. Vào dịp Xuân về, các ông đồ ở nhà
quê ra chợ viết câu đối Tết để bán, tạo thành hình ảnh
quen thuộc một thời:
Mỗi
năm hoa đào nở
Lại
thấy ông đồ già
Bày
mực tàu giấy đỏ
Bên
phố đông người qua.
(Ông
đồ - Vũ Đình Liên)
Rồi
Nho học suy tàn, chữ Hán cũng suy tàn theo. Số người biết
chữ Hán ngày một ít đi. Câu đối đỏ ngày Tết cũng theo
thời gian mà biến mất, chỉ còn lại cành đào và bánh chưng.
Nhưng
tại sao ngày Tết mọi người đều chưng cành đào trong nhà?
Trước hết, một cành hoa đào tươi thắm không chỉ làm cho
nhà cửa thêm phần đẹp đẽ và ấm cúng trong những ngày
đầu năm, mà màu đỏ nhạt của nó còn tượng trưng cho những
điều tốt đẹp người ta hy vọng sẽ trở thành hiện thực
trong năm mới. Mặt khác, theo sách Phong tục chí, trên núi
Độ Sóc ngoài biển có một cây đào rất lớn, ở gốc cây
đào có hai vị thần tên là Thần Trà và Uất Lũy, cai quản
đàn quỷ, hễ quỷ nào ác hại thì hai vị Thần này dùng
dây lau trói lại, cho cọp ăn(3). Vì vậy, vào đầu năm người
ta dùng hai tấm ván gỗ đào, trên có viết tên Thần Trà và
Uất Lũy, treo hai bên cửa để trừ ma quỷ. Ở những vùng
không có cây đào, người ta dùng giấy viết tên hai vị thần
này dán lên cửa. Có thể phong tục này được cách tân, thay
vì treo cành đào, người ta chưng hoa đào.
Về
hoa đào có một giai thoại thật kỳ thú. Thôi Hộ, nhà thơ
đời Đường, nhân tiết thanh minh đi dạo chơi ngoài thành,
thấy một vườn đào nở hoa rất đẹp, liền gõ cửa xin
vào thưởng hoa. Một cô gái ra mở cửa hỏi, rồi đem nước
mời uống. Năm sau, cũng vào tiết thanh minh, nhà thơ lại tìm
đến chốn cũ, thì cửa đóng then cài. Chàng để một bài
thơ ở cửa rồi đi:
Đề
tích sở kiến xứ
Khứ
niên kim nhật thử môn trung
Nhân
diện đào hoa tương ánh hồng.
Nhân
diện bất tri hà xứ khứ?
Đào
hoa y cựu tiếu đông phong.
Dịch
thơ:
Đề
chỗ đã thấy năm trước
Năm
ngoái ngày này ở cửa trong
Mặt
ai ửng thắm với đào hồng.
Mặt
ai chẳng biết giờ đâu mất?
Như
cũ hoa đào cợt gió đông.
Nguyễn
Khuê dịch
Mấy
hôm sau Thôi Hộ trở lại, nghe trong nhà có tiếng người khóc.
Một ông lão ra hỏi có phải là Thôi Hộ không, và cho biết
con gái của ông sau khi đọc bài thơ đã nhịn đói mà chết.
Thôi Hộ xin vào khấn trước xác người con gái. Lạ lùng
thay cô gái sống lại. Ông lão cho là hai người có duyên nợ
với nhau, nên gả con gái cho Thôi Hộ. Mượn ý thơ từ giai
thoại này, Nguyễn Du tả cảnh Kim Trọng trở lại chốn cũ
tìm Thúy Kiều:
Trước
sau nào thấy bóng người
Hoa
đào năm ngoái còn cười gió đông.
Đó
là hoa đào trong sinh hoạt của người đời và trong văn chương.
Đối với những vị xuất gia, hoa đào được xem như một
biểu tượng qua đó nhận thức thực tại mà chứng ngộ.
Vì thế, hoa đào thường được dùng trong những câu nói của
các vị thiền sư như những công án.
Một
vị Tăng hỏi Sơ Tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông (1258-1308) thế
nào là "gia phong Phật quá khứ". Ngài đáp:
Vườn
rừng vắng vẻ ai xem sóc
Lý
trắng đào hồng hoa tự nhiên.
Vị
Tăng lại hỏi về "gia phong Phật hiện tại". Ngài nói:
Gia
phong sóng bạc mê yến sớm
Tiên
uyển đào hồng say gió xuân(4).
Thiền
sư Linh Vân đời Đường ở chỗ ngài Quy Sơn Linh Hựu lâu
năm không ngộ. Một hôm nhân thấy hoa đào nở mà ngộ đạo,
Sư làm bài kệ rằng:
Tam
thập niên lai tầm kiếm khách
Kỷ
hồi lạc diệp hựu trừu chi
Tự
tùng nhất kiến đào hoa hậu
Trực
chí như kim cánh bất nghi.
Dịch
thơ:
Ba
chục năm tìm kiếm uổng thôi
Mấy
phen lá rụng lại đâm chồi
Từ
khi chợt thấy hoa đào nở
Nghi
hoặc như nay dứt sạch rồi.
Nguyễn
Khuê dịch
Tổ
Quy Sơn xem bài kệ, chất vấn sở ngộ của Sư, thấy khế
hợp, liền bảo: "Từ duyên mà đạt ngộ, không bao giờ lui
sụt, hãy khéo tự giữ gìn". Thiền lâm gọi chuyện này là
"Linh Vân kiến đào minh tâm" hoặc "Linh Vân đào hoa ngộ đạo"(5).
Chuyện
ngài Linh Vân thấy hoa đào nở mà ngộ đạo trở thành đề
tài cho những cuộc hỏi đáp giữa các thiền sư đời sau.
Một vị Tăng hỏi Tuệ Trung Thượng sĩ (1230-1291) rằng: "Rậm
rậm hoa vàng đều là Bát nhã" là ý gì? Thượng sĩ không
đáp thẳng mà hỏi ngược trở lại:
Hoa
đào đâu phải bồ đề thụ
Sao
lại Linh Vân nhập đạo tràng?(6)
Một
vị Tăng hỏi Sơ Tổ Trúc Lâm: "Ngài Linh Vân khi xem hoa đào
ngộ thì thế nào?". Ngài trả lời:
Tự
nở tự tàn theo thời tiết
Chúa
xuân bị hỏi cũng khôn lời(7).
Tùy
theo căn cơ, có người thấy hoa đào nở mà ngộ đạo, có
người lại thấy hoa đào rụng mà ngộ. Thiền sư Thủ Tuân
(1079-1234) một hôm ngồi nhắm mắt tĩnh tọa suốt ngày, đến
khi ngước mắt nhìn lên, thấy hoa đào rơi lả tả liền ngộ,
bởi lẽ thấy "đào hoa lạn mạn" là nhận thức trọn vẹn
cái quy luật "sinh, trụ, dị, diệt" của vũ trụ vạn hữu:
Chung
nhật khán thiên
Chung
nhật khán thiên bất cử đầu
Đào
hoa lạn mạn thủy đài mâu
Nhiêu
quân tiện hữu già thiên võng
Thấu
đắc lao quan tức tiện hưu.
Dịch
thơ:
Suốt
ngày nhìn trời
Ngày
trọn nhìn trời chẳng ngẩng đầu
Ngước
trông lả tả cánh hoa đào
Che
trời quanh bạn đều giăng lưới
Chẳng
vượt lao quan chẳng chịu nào.
Nguyễn
Khuê dịch
Xuân
là mùa của hy vọng. Hoa xuân tươi đẹp đáng yêu. Xuân sang,
hãy cùng với mọi người đón Xuân, vui Xuân và thưởng hoa.
Nhưng, như lời kệ của Thiền sư Giác Hải đời Lý nói:
Hoa
điệp bản lai giai thị huyễn
Mạc
tu hoa điệp hướng tâm trì.
(Hoa
bướm xưa nay đều huyễn ảo
Đừng
nên giữ hoa bướm trong tâm)
Có
người nói "Xuân đang đến nghĩa là xuân đang qua". Thấy "bách
hoa khai", không thể không nghĩ tới lúc "bách hoa lạc". Như
thế không phải là bi quan, mà là cái nhìn biện chứng về
vũ trụ vạn hữu. Đó chính là gỡ bỏ cặp kính màu hồng
cũng như cặp kính màu đen để nhìn xuân, nhìn hoa, nhìn sự
vật nói chung bằng đôi mắt của chính mình dưới ánh sáng
của lý duyên khởi duyên sinh.
1.
Đào Nguyên: tên núi ở Tây Nam huyện Đào Nguyên tỉnh Hồ
Nam (Trung Quốc), dưới có động Đào Nguyên.
2.
Thiên Thai: tên núi ở phía Bắc huyện Thiên Thai, tỉnh Chiết
Giang.
3.
Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục, Sài Gòn, Phong trào Văn
hóa tái bản, 1970, tr.39 cũng có chép việc này, nhưng hơi khác
với chúng tôi.
4.
Xem Thích Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam, Thành hội Phật giáo
TP.HCM ấn hành, 1995, trang 292.
5.
Xem Phật Quang đại từ điển, tr.6939 hạ.
6.
Xem Thiền sư Việt Nam, sđd, tr.251.
7.
Xem Thiền sư Việt Nam, sđd, tr.293.