HẸN NHAU
MÙA HOA ĐÀO
SANG NĂM
Tâm
Quán
Thư
pháp (calligraphy) của tôi không xuất sắc gì mấy. Vậy mà
tập viết hoài ngó cũng được. Càng viết, chữ càng ngó
được hơn. Năm ngoái (1999) trong chuyến đi Trung Quốc, anh
Mộc có đem theo nhiều giấy, bút và mực. Anh xin tôi viết
mấy chục tấm để bán lấy tiền cúng dường chùa tổ Lâm
Tế ở quận Chánh Định thuộc thành phố Thạch Gia Trang
tỉnh Hà Bắc. Anh nói đa số những người trong phái đoàn
đi Trung Quốc là người Tây phương, tôi có thể viết chữ
Anh. Tôi chiều lòng anh. Trong chuyến đi, số tiền bán chữ
đã lên tới tám ngàn Mỹ kim. Phái đoàn đã cúng dường cho
chùa tổ Lâm Tế, qua hòa thượng trú trì Hữu Minh, một ngân
khoản là mười ngàn Mỹ kim để giúp vào quỹ mua thêm đất
và xây cất thêm tăng viện. Hòa thượng rất cảm động.
Đó là vào khoảng tháng năm. Vào tháng chín năm ấy, tại
tu viện Kim Sơn do thượng tọa Tịnh Từ làm viện trưởng,
sẵn có giấy bản các thầy và các sư cô mua được ở trong
khóa tu ở trường Đại học Santa Barbara, tôi đã ngồi xuống
viết nhiều bức, bức thì chữ Anh, bức chữ Việt, bức chữ
Hán. Các thầy và các sư cô trong phái đoàn Làng Mai đã bán
được gần hết các bức này, có bức bán tới một ngàn
Mỹ kim. Tất cả đều được đem cúng dường vào quỹ xây
cất Nhà Đa Dụng của tu viện. Trong chuyến đi hoằng pháp
tới tại Bắc Mỹ, khi đến Kim Sơn, thế nào tăng đoàn Làng
Mai cũng được ở nhà hẳn hoi, chứ không phải ở lều như
trên mười năm qua, quá lạnh!
Vào
lễ giáng sinh 1999, nhiều minh tinh màn bạc nổi tiếng tại
Hollywood như Marlon Brando, Jack Nicholson, Sean Penn ... cũng nhận
được những bức chữ viết của tôi do bạn hữu của họ
hiến tặng. Cả bên Trung Quốc và Đại Hàn, mỗi khi trao đổi
thư pháp với các vị tọa chủ các chùa lớn, tôi cũng viết
chữ Tây cho lạ.
Chắc
các bạn tò mò muốn biết tôi viết những chữ gì. Tôi chỉ
viết những chữ mà khi treo lên người ta có thể thực tập
theo được mà thôi. Ví dụ: "breathe, you are alive"
(thở đi, bạn đang là sự sống mầu nhiệm), "drink your
tea" (uống trà cho thảnh thơi và hạnh phúc đi bạn, chữ
Hán là nghiết trà khứ ), "the tears I shed yesteday have become
rain" (nước mắt ngày xưa nay đã thành mưa), "breathe
and smile" (thở đi, mỉm cười đi), "you are not a creation,
you are only a manifestation" (ngươi không phải tạo sinh mà chỉ
là biểu hiện) "present moment, wonderful moment" (an trú trong
hiện tại, giờ phút đẹp tuyệt vời), "there is no way to
happiness, happiness is the way" (có con đường nào dẫn tới
hạnh phúc đâu, hạnh phúc chính là con đường), v.v.. Bức
mà Phật tử gốc Việt ưa thích nhất là bức có ba chữ "thở
đi con". Ai cũng muốn thỉnh một bức về treo trong phòng
khách để khi có chuyện bất an thì nhớ mà thực tập, còn
khi bình thường mà thực tập thì nuôi dưỡng thêm hạnh phúc
đang có. Có những bức viết trọn một, hai, bốn câu thơ
hay cả bài thơ. Những câu thơ trong truyện Kiều có thể hiểu
theo nghĩa thiền quán cũng rất được hâm mộ, như câu "bây
giờ rõ mặt đôi ta, biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao"
hay câu "trời còn để có hôm nay, tan sương đầu ngõ vén
mây giữa trời", hoặc câu "một nhà xum họp sớm trưa,
gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng, bốn bềbát ngát mênh
mông, triều dâng hôm sớm mây lồng trước sau". Có một
cặp tân hôn xin chữ, tôi đã cho câu "trước sau cho vẹn
một lời, duyên ta mà cũng phúc người phải không?", đổi
một hai chữ cho thích hợp.
Chữ
Hán tôi viết rất ít, bởi vì hiện giờ ít người đọc
được chữ Hán và thích treo chữ Hán. Tôi thấy những bức
chữ Anh, chữ Việt hoặc chữ Pháp lộng kính treo lên cũng
đẹp vô cùng, và khi đọc thì người ta hiểu liền. Tôi cũng
có viết nhiều câu đối, câu đối chữ Việt, và cả chữ
Âu Mỹ nữa! Có một bữa, tôi thấy ông đồ xưa của Vũ
Đình Liên đã sống dậy! Ông đồ xưa chỉ viết chữ Nho,
ông đồ xưa nếu bây giờ sống dậy thì viết được cả
chữ Việt và chữ Tây, và vẫn sử dụng được bút lông
mực tàu như thường. Và ông không phải chỉ dùng giấy đỏ.
Ông dùng giấy đủ màu, nhất là màu trắng ngà. Bút lông
của ông được chế tạo rất nhiều kiểu, sản xuất ngay
cả ở các nước Âu châu. Tôi thấy nhiều nhà thơ Việt Nam
hiện đại đã viết thơ của mình thành bức, bằng chữ Việt,
có khi viết bằng bút lông, có khi viết cả bằng bút sắt.
Tôi đã thấy nét chữ của nhiều vị, trong đó có Vũ Hoàng
Chương và Cao Tiêu. Tại sao lại chỉ viết chữ Hán?
Càng viết, chữ càng đẹp. Đồng bào và người ngoại quốc
rất thích treo những bức chữ đẹp và có ý nghĩa, bằng
chữ Việt hoặc bằng chữ nào mà họ hiểu. Cố chấp thì
ông đồ sẽ chết vĩnh viễn, còn nếu ông đồ biết thích
nghi thì ông đồ sẽ sống mãi mãi. Chúng ta không cần phải
khóc ông đồ như thi sĩ Vũ Đình Liên:
Mỗi
năm hoa đào nở
Lại
thấy ông đồ già
Bày
mực tàu giấy đỏ
Bên
phố đông người qua
Bao
nhiêu người thuê viết
Tấm
tắc ngợi khen tài
Hoa
tay thảo những nét
Như
phụng múa rồng bay
Nhưng
mỗi năm mỗi vắng
Người
thuê viết nay đâu?
Giấy
đỏ buồn không thắm
Mực
đọng trong nghiên sầu
Ông
đồ vẫn ngồi đó
Qua
đường không ai hay
Gió
buồn mơn mặt giấy
Ngoài
trời mưa bụi bay
Năm
nay hoa đào nở
Không
thấy ông đồ xưa
Những
người muôn năm cũ
Hồn
ở đâu bây giờ?
Tôi muốn
nói chuyện đạo Bụt, đạo Bụt tại châu Á nói chung, và
đạo Bụt tại Việt Nam nói riêng. Đạo Bụt nếu không được
làm mới để có thể đáp ứng với nhu cầu đích thực của
người thời nay thì đạo Bụt sẽ từ từ vắng mặt, nghĩa
là sẽ chết, như ông đồ xưa. Đại sư Thái Hư thấy được
điều đó nên đã hô hào cách mạng giáo lý, cách mạng giáo
chế và cách mạng giáo sản. Nếu chúng ta chỉ biết thủ
cựu, nếu chúng ta có quá nhiều sợ hãi, nếu chúng ta chỉ
biết củng cố địa vị thì chúng ta không thể nào làm mới
được đạo Bụt. Phải giảng dạy đạo Bụt như thế nào
để tuổi trẻ bây giờ có thể áp dụng được vào trong
đời sống hằng ngày của họ, chuyển hóa được khổ đau,
khai thông được bế tắc, xây dựng lại được tình thâm.
Lễ bái, cầu phước và tín mộ không đủ. Tuổi trẻ không
muốn đến chùa để chỉ đốt nhang, đốt vàng mã, vái lạy
và tụng những kinh mà họ hoàn toàn không hiểu. Buổi công
phu sáng gần hết là bằng tiếng Phạn, có tính chất của
Mật Tông, mà lại là tiếng Phạn phiên âm Hán Việt xa lắc
với nguyên âm. Buổi công phu chiều thì chủ yếu là để
cầu sinh Tịnh Độ. Không mấy ai đọc được và hiểu được
kinh chữ Hán. Vậy mà ta không có can đảm đem hai buổi công
phu dịch ra quốc văn để hành trì. Ta sợ người ta đàm tiếu,
chê bai là bỏ gốc rễ. Ta có bỏ gốc rễ đâu. Ta chỉ chăm
sóc và làm mới cho gốc rễ thôi, để cho cội cây xưa có
được sức sống mới đâm lên những chồi mới, nếu không
cây sẽ chết. Cách đây chừng vài trăm năm, người ta đã
từng bĩu môi chê chữ Nôm là quê mùa, là mách qué (nôm na
là cha mách qué). Người ta bảo người đứng đắn và người
trí thức chỉ dùng chữ Hán thôi. Vậy mà thi hào Nguyn Du
đã sáng tác truyện Kiều bằng chữ Nôm và đã tạo nên được
một niềm tin lớn cho quốc dân nơi khả năng tiếng Việt.
Không dùng súng đạn và gươm giáo mà thi sĩ đã xây được
thành lũy vững chãi cho nền độc lập dân tộc. Độc lập
chính trị chỉ có thể bền vững khi có độc lập văn hóa.
Cụ Nguyễn Du là một ông đồ không bao giờ già, không bao
giờ chết. Hồn của cụ sống mãi trong hồn của người trẻ
bây giờ. Bài học đó há không đủ soi sáng cho chúng ta sao?
Con cháu chúng ta bỏ chùa, bỏ đạo gốc tổ tiên chạy theo
những trào lưu từ ngoài tới, lỗi đó là của ai? Làm mới
đạo Bụt, áp dụng ngay những pháp môn của đạo Bụt nhập
thế (Phật tử Trung Quốc bây giờ gọi là Nhân Gian Phật
Giáo, Tây phương gọi là Engaged Buddhism), sử dụng ngay tiếng
Việt để tụng niệm trong hai buổi công phu, điều này rất
cần thiết. Chúng ta đừng làm như ông đồ xưa, từ từ vắng
mặt trong cuộc đời. Chúng ta phải tái sinh lại ngay lập
tức để trở thành ông đồ nay. Chỉ có ông đồ nay mới
làm thỏa mãn được những nhu yếu của người ngày nay. Từ
thế kỷ 14, vua Trần Nhân Tông và thiền sư Huyền Quang đã
thấy được sự thực này. Các vị đã bắt đầu sáng tác
bằng tiếng Việt, sử dụng chữ Nôm. - Triều Tiên, ngày xưa
cả nước đi theo đạo Bụt. Vào đầu thế kỷ này, chỉ
còn dưới 50% dân chúng là Phật tử. Giới trẻ đi theo ngoại
lưu nhiều như thác lũ. Lý do là đạo Bụt bên đó quá bảo
thủ và rất còn kỳ thị phụ nữ. Ta cầu xin các vị tôn
đức trong sơn môn ta nghĩ lại cho con cháu được nhờ. Đạo
Bụt không thể không được hiện đại hóa. Tại Tây phương,
nhiều người đang muốn cho đạo Ky Tô được hiện đại
hóa, nhưng họ chưa thành công vì thái độ thủ cựu và giáo
điều của giới chức sắc bề trên. Nhiều nhà thờ vắng
bóng tín đồ. Người xuất gia rất hiếm. Chỉ vì tại người
ta bảo thủ quá, không chịu làm mới; không chịu cách mạng
giáo lý và giáo chế. Đạo Bụt có tinh thần cởi mở tự
do, dễ làm mới hơn nhiều. Ta có thể thành công trong vài
thập niên nếu chúng ta tỉnh thức.
Ông
đồ xưa ơi, xin ông mau mau sống dậy. Cơ hội đã đến. Xin
ông hãy chuẩn bị tái sinh. Hẹn ông cùng có mặt ở mùa hoa
đào năm tới:
Sang
năm hoa đào nở
Sẽ
thấy ông đồ xưa
Với
hình hài rất mới
Sống
động hơn bao giờ.
Chúng
ta không có lý do gì để không thành công.
(Tuần
Báo Giác Ngộ Số Xuân Tân Tỵ - 2544 - 2001)
CC.
Bài này đã đăng ở Lá Thư Làng Mai do thầy Nhất Hạnh
viết