Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen Thực Hiện

 

ĐÓN TẾT Ở CHÙA
Nguyên

Vào thời khắc thiêng liêng giao thừa, chào năm cũ qua đi, đón năm mới đang đến, người ta như chạm được vào hơi thở của mùa xuân; qua mùi hương trầm của những ngôi chùa, qua ánh mắt thành kính của của người già, và gương mặt nô nức đón xuân của người trẻ.

Phút giao thừa bao giờ cũng đem lại cảm giác bâng khuâng và linh thiêng. Trên các nẻo đường, người ta để ý xem trên đồng hồ hay điện thoại, thời gian đang chạy đến đâu. Kim đồng hồ, hay những con số, bắt đầu nhích đến gần 12h chưa… Giờ phút thiêng liêng, và dân chúng, đổ ra đường ngắm pháo hoa. Những khuôn mặt rạng rỡ nhìn lên bầu trời cao kia với tràn đầy niềm tin vào một năm mới tốt đẹp. Mọi người cùng chúc nhau những lời thương yêu nhất mong một năm mới an lành. 

Với quan niệm đầu năm đi lễ chùa, đền để xin được ban lộc, và may mắn, người dân đổ ra đường rất đông, phần lớn vào chùa lễ cầu xin trong ngày đầu năm để quanh năm được bình an, làm ăn phát tài phát lộc. Nhiều người chọn hướng xuất hành đầu năm sao cho hợp ý, hợp tuổi mình, và việc xuất hành đến chùa là một lựa chọn tốt nhất. 

Ở các chùa, đền khác thuộc trung tâm Hà Nội, người dân vốn quen với truyền thống đón giao  thừa và đầu năm đi lễ chùa sáng mùng một ở Quán Sứ, Trấn Quốc, đền Quán Thánh, chùa Bà Đá, đền Ngọc Sơn… Chùa Kim Liên, một ngôi chùa cổ kính nhất của Hà Nội, năm nay đang trong quá trình tu bổ, cũng mở cửa tiếp đón du khách, bà con Phật tử…

Tại chùa Quán Sứ, Hòa thượng Thích Thanh Tứ cho biết: “Tết là một phong tục cổ truyền của dân tộc, và nhà chùa cũng đồng hành với dân tộc. Vào ngày 30 Tết, chùa Quán sứ vốn theo truyền thông đón xuân đã lâu đời, năm nào cũng vậy, mở rộng cửa đón chào khách thập phương đến lễ đầu năm. Vào giây phút giao thừa, sẽ có đại hồng chuông ngân vang, chào đón năm mới sẽ đến, sau đó, là đại lễ của các thầy Tăng Ni trong chùa, tụng kinh thâu đêm suốt sáng. Ngòai sân chùa  là các Phật tử, thanh niên nam nữ cùng thắp nén hương cầu mong sự bình an, sức khoẻ, cầu phúc, cầu may. 

Theo Đại đức Thích Minh Hiền, trụ trì chùa Hương thì: “Giao thừa trong chùa Hương cực kỳ đặc biệt. Đó là không khí thanh tịnh, là sự nồng ấm của mùi hương trầm và thanh sắc của núi rừng Hương Sơn”.

Thoáng ánh nến kì ảo, sưởi ấm cho những người đón xuân nơi cửa Phật. Sau giờ phút thiêng liêng, tất cả núi rừng Hương Sơn bỗng như lắng lại, vang lên tiếng chuông dóng dả tiễn một năm cũ qua đi, đón chào một năm mới đã đến. Hồi chuông linh diệu cứ mãi ngân vang. 

Sau khi làm lễ xong, sư thầy gửi lời chúc mừng năm mới tới mọi người, mọi nhà, và phát lộc cho mỗi người một bao lì xì nhỏ, một chiếc bánh xinh xinh. Mọi người quây quần xung quanh chúc thầy một năm mới đến. 

Sau đó, sư thầy trải những tờ giấy điệp trước hiên. Một sư ông từ tốn, thong dong mài nghiên mực. Sư thầy khoan thai thử bút và những nét chữ khi thanh, khi đậm, lúc trầm bổng, khi nho nhã, chợt lại cứng cáp lạ thường…. từng nét chữ màu đen trên nền điệp đỏ. Năm sớm, người ta thường xin thầy bốn chữ Phúc, Lộc, Thọ, Tâm, Nhẫn… có người xin thầy bố thí cho chữ Phật, và những vế đối đầy ý nghĩa. 

Có em nhỏ theo mẹ lên chùa đón Tết, ngồi bên bậu thềm nhấm nháp những miếng bánh. Dưới cái lành lạnh dịu dàng của mùa xuân, đôi má em ửng đỏ. 

Cảnh vật đương thắm sắc xuân, hoa đào đua nở. Đón chào xuân về bằng giây phút an bình trong ngôi chùa quen thuộc, ai trở về cũng mang theo mình những nhành lộc của mùa xuân. Đi giữa đất trời giao hoà căng tràn nhựa sống, bạn có biết, ngày mùng một đầu năm chính là ngày đản sinh của Đức Phật Di Lặc với biểu tượng của sự vui vẻ, từng bừng, hoan hỷ. 

Nguyên
 

DƯ HƯƠNG MỘT BÁT TẤT NIÊN
Khánh Chi

Buổi chiều đó, gương mặt thời gian như hiển hiện thật lâu, khắc khảm một năm những buồn vui được mất cho những ưu phiền tan đi như làn gió và chỉ để còn giữ lại cõi lòng thơm thảo vô ưu...

Tôi không còn nhớ đã bao nhiêu mùa Tết, mẹ mình lụi cụi dậy sớm đi những phiên chợ cuối năm. 

Những ngày xa xưa ấy, không phải nhà nào cũng đủ điều kiện để mua sắm các thứ đồ cùng một lượt như bây giờ, vì vậy mẹ phải chuẩn bị mọi thứ từ đầu tháng chạp, tháng củ mật nao nao phấp phỏng đợi chờ. 

Mỗi buổi chợ về, khi thì trong chiếc làn của người có chục cân nếp trắng, lúc lại bó hành kiệu trắng tinh và một chút quà nho nhỏ dành cho mấy anh em háo hức đợi tết. Cứ thế, qua ngày ông Táo về trời, mẹ đã chuẩn bị gần như đầy đủ thực phẩm để cả nhà vui đón xuân sang. 

Tới ngày hai sáu Tết, nhà nhà đã có sẵn lá dong, lạt trắng để gói những chiếc bánh chưng xanh vuông tròn ao ước. Đó đây vang tiếng í ới gọi nhau đụng chung một con lợn giữa mấy gia đình. Người đun nước sôi, người chia phần thịt để kịp nhà ai làm giò, gói bánh… Những ngày cuối năm ấy tưng bừng như một lễ hội của tháng giêng lộc mới. Ngọn gió mùa đông dường như chỉ còn dám se se đủ dành cho những tiếng xuýt xoa nhè nhẹ, dư âm xanh vô tận suốt những phố phường về đến tận ngõ nhỏ quen thân. 

Nhà cửa nhộn nhịp trang hoàng và treo lên đôi câu đối cung chúc tân xuân, nguyện ước một năm mới an hòa hạnh phúc. Cho đến sáng ngày tất niên, những người đi xa kịp trở về đã nghe ấm hương đoàn tụ. Người hẹn hò trên tay hân hoan cành mai vàng biếc nụ. Người nồng nàn sắc đào thắm Nhật Tân. Không khí nguyên khôi của mùa xuân cứ thế nhẹ nhàng về qua cửa, như những đứa con xa kịp trở về ấm áp bên bữa cơm gia đình ngày cuối cùng của năm.

Thường là vào buổi chiều ba mươi, sau khi mẹ nấu nồi nước lá mùi già cho cả nhà tắm gội cuối năm, mấy chị gái vào bếp phụ mẹ một tay làm bữa cơm đoàn viên quây quần thương nhớ. Mâm cơm giản dị đĩa nem rán, bát dưa hành, thịt nấu đông, tô miến nấu măng ngậy hương mà sao chiều nay đậm đà đến lạ. Vẫn là những món ăn quen thuộc ấy thôi, nhưng chiều cuối năm chúng có dư vị khác. 

Ở cõi cao xanh kia, tôi cảm nhận như ông bà mình đang về ăn Tết với cháu con. Căn nhà nhỏ như bừng ấm hơn bởi cành đào phai nở sớm, mâm ngũ quả mướt mát lòng thành dâng cúng tiền nhân. Buổi chiều đó, gương mặt thời gian như hiển hiện thật lâu, khắc khảm một năm những buồn vui được mất cho những ưu phiền tan đi như làn gió và chỉ để còn giữ lại cõi lòng thơm thảo vô ưu. Bên mâm cơm, cha hiền từ nhấp môi chén rượu kể chuyện cháu con ngày tháng xa nhà, ánh mắt mẹ rạng ngời phúc hậu. Mấy đứa cháu nhỏ lon ton như lộc biếc xuân thì cho tôi có cảm giác mình đang được thưởng thức một bữa tiệc tinh thần cuối năm ngon nhất đời người…

Những mùa xanh lá qua đi, tôi lớn lên đi làm ăn xa và nhớ ngày trở về ăn Tết với những người thân trong ngôi nhà của mình. Hăm bảy tháng chạp, ông bạn già vong niên đưa tôi ra bến xe trở lại cố hương, bùi ngùi tiễn nhau năm cũ và hẹn nhau mùng năm, mùng sáu Tết năm sau mùa xuân tái ngộ. Cả đời ông ngoài sáu mươi tuổi thì dễ hơn năm chục năm trọ phố một mình, chẳng còn nhớ quê nhà đâu để ước vọng khấn thầm ông bà tổ tiên mâm cơm chiều ba mươi Tết. Cả đời ông là cuộc di hành trong tâm tưởng để tìm lại đời mình trong nỗi nhớ xa quê, để khát khao bình yên bữa cơm nhà hạnh ngộ. Còn tôi, đầu xanh, thừa sức trẻ, lại chỉ nhong nhóng trên đường xa xứ, tìm cho mình hướng tiến thân, biết bao giờ mới hiểu nổi ánh mắt vời vợi xa của người mình trót đặt tạm cái tên: bạn già. 

Ở phố, các món đồ biếu tặng, đồ ăn uống của cả ba ngày tết được chuẩn bị nhoáng nhoàng, có khi chỉ mất một ngày chợ là đầy đủ cả. Rượu Tây, bánh mứt, miến, măng… trong siêu thị. Giò chả, gà, cá, cao lương mĩ vị đã làm sẵn, đóng gói an toàn thực phẩm chật kín những quầy đông lạnh. Bánh chưng xanh ngắt, vuông vức bày thành chồng ngay đầu các chợ, dưa hành, cà pháo, dưa kiệu trắng muốt gọn gàng đẹp mắt trong các lọ thuỷ tinh. Vẫn là bữa cỗ tất niên với những thức ăn ngon lành, nóng hổi, nhưng đám cháu con uể oải cầm đũa ăn cho qua bữa, uống hết lon bia rồi sửa sang xống áo ra đường chơi tới sáng. Còn lại trong căn nhà thênh thang, hai ông bà già ngồi đợi tiếng chuông giao thừa, leo mấy nhịp cầu thang để đặt xấp phong bao vào giường lũ trẻ… 

Những dư ảnh quê hương nơi một hội làng mớ ba mớ bảy, một giếng nước trong veo bên hàng tre ngút ngát tâm hồn đã thuộc về một nơi nào xa lắm. Chỉ một quê hương ở trong tim mỗi phút nhớ nhà. Nên chi buổi chiều hôm ấy, người lên xe chẳng dám vẫy tay chào lâu để người đứng dưới đường phải tủi lòng ngoảnh mặt giấu vào xa xăm một nỗi nhớ giao thừa. 

Mải ngắm nhìn thiên hạ cuối mùa bận rộn nghiêng chút vàng nắng hanh hao mê mải, tôi cứ run rủi cầu mong ông sẽ ấm lòng với góc bánh chưng xanh, với trời đất quê hương bên chén rượu xuân mừng tuổi hải hà. Để bên bữa cơm nhà êm ả chiều nay, tôi được thêm lần ngộ cố tri hương ngay tại chốn nắm nhau mình đã lặng yên thì thầm trong lòng đất buổi hoa quả khai sinh trái tim người! 
 
Khánh Chi
 

CÔNG ÁN TRẦN NHÂN TÔN
Thái Kin Lan

Đã lâu, mỗi khi về Việt Nam, tôi thường ngỏ ý với bạn bè muốn đi thăm chùa Đồng và leo núi Yên Tử, nơi cội nguồn của dòng Thiền Trúc Lâm Việt Nam.

Cứ mỗi lần như thế, bạn bè ở Huế cũng như người quen ở Hà Nội đều gạt phăng bảo rằng khó lắm, đường đi hiểm trở và phải có thì giờ, phải mất hai ngày trời mới leo lên tới chùa Đồng nằm trên đỉnh núi Yên Tử, không đi được đâu, và tôi, kẻ ở xa, khi thấy nét hốt hoảng của mọi người về nỗi ngăn sông cách núi như thế, cũng đâm ra ngần ngại, lo cho thân mình, và ngoan ngoãn bỏ ý định leo núi Yên Tử. 

Mùa đông vừa rồi, nhân về Hà Nội do lời mời của Viện Goethe ở Hà Nội, tôi tự nhủ lần này phải leo lên được núi Yên Tử mới cam lòng và nhất định không nghe ai can ngăn việc đường đi hiểm trở mà nản chí. Tính thì giờ, tôi chỉ có một ngày để leo núi. Cũng được thôi, ta tính chuyện đi, trong một ngày?

Suốt cả đêm vừa thấp thỏm chờ sáng lên đường, vừa thú vị vì cuộc đi sắp được thực hiện, trong đầu tôi âm vang câu châm ngôn đắc chí đã học từ hồi lớp năm trong sách Quốc văn Giáo Khoa Thư “đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”, một câu thường dùng như một loại cẩm nang thuộc lòng, dù đúng cho muôn đời và đúng trong trường hợp của chuyến đi Yên Tử này, nhưng hôm nay nghe bóng bẩy trơn tru như một sáo ngữ nhàm, chán tai quá, tôi lắc đầu, xua đuổi âm vang của câu ấy ra khỏi trí óc. Chỉ biết ngày mai sẽ lên đường đi Yên Tử... một ước ao đã nuôi dưỡng từ mấy năm sắp thành sự thật, một ước ao thật ra rất tầm thường, rất nhỏ bé, không phải loại dời núi lấp sông, nhưng một ước ao dù cho nhỏ bé, cũng có quyền đòi thành sự thật... 

Không ngủ được, tôi mở cuốn sách “Trần Nhân Tôn” mới nhận được của Thầy Lê Mạnh Thát tặng và bắt gặp một cách nói khác, cũng cùng một chân lý nhưng mộc mạc hơn, Việt Nam hơn và lạ lùng hơn: “Nhân lòng ta vướng chấp khôn thông”... “Miễn cứ một lòng, thì rồi mọi hoặc”. Cách đặt câu hình như còn gai góc, khó khăn, cái câu được viết lần đầu tiên bằng tiếng Nôm trong lịch sử văn học của nước ta trong bài phú “Cư Trần Lạc Đạo” của một vị vua quyết tâm dùng tiếng Việt làm chủ ngữ trong Văn học của đất nước Việt Nam.

Đọc lên nghe vấp váp, từ cú còn thô thiển nhưng hình như ở nơi mỗi vấp ngã lại làm cho ta dừng lại để thâm nhập vào trong chiều sâu của chữ nghĩa và “Lắng lòng mình” để chiêm nghiệm “lòng người”.

Một ông vua nước Nam, cách đây đã 800 trăm năm đặt chữ Tâm, chữ Lòng lên hàng đầu trong mỗi công cuộc xây thành dựng nước, bảo vệ bờ cõi, thao luyện nhân cách làm người Việt Nam, một ông vua có đủ quyền lực trong tay nhưng sẵn sàng rũ bỏ hết quyền uy, giàu sang tột đỉnh để làm một vị sư “nệm cỏ giường Thiền”, “giữ giới sạch”, “giữ lòng trong”.

Giấc ngủ chập chờn đến với những ý tưởng và hình ảnh loanh quanh quay tròn theo chữ TÂM, mà thời đại Trần Nhân Tôn đã gọi rất nôm na, rất tiếng Việt “Lòng ta” như một “cách sống, cách nghĩ” của một thời, khi Việt Nam bước vào giai đoạn phát huy tự chủ tự cường sau khi đã dựng nước và giữ nước...

Có phải Sông Nhị ngày mai mờ khói nước
Rượu đào tươi mát rửa lòng trong''
(Trần Nhân Tôn, Hoạ thơ Kiều Nguyên Lãng)

Đầy mâm bánh cuốn như hồng ngọc

Xe đi từ Hà Nội lúc 4 giờ sáng, băng qua sông Nhị, còn mờ hơi sương, đến chân núi lúc 8 giờ, ăn sáng nơi một quán gió có nồi bún riêu bốc hơi ngào ngạt, bún riêu và bánh cuốn nóng, trong một sớm mai mùa đông se lạnh ở một làng quê miền Bắc cách Hà thành 100 cây số, có một chút chi đầy cá tính Việt Nam - Việt Nam hơn Hà Nội hay Sài Gòn ồn ào náo nhiệt - trong cung cách của cô bán bánh cuốn, đôi tay thoăn thoắt cuốn bánh, không nhìn khách là ai, thỉnh thoảng ngước đôi mắt đảo nhanh một cái, đôi má hồng vì hơi nước của nồi hấp bánh toả ra, nhưng cô biết ai là người ăn bún ai là người ăn bánh, còn chi thú vị hơn?

Phong cảnh buổi sáng nơi miền quan tái hoang sơ như trong một bức tranh cổ. Tôi cúi mặt nhìn đĩa bánh cuốn, những chiếc bánh trắng tinh láng mượt mà, cho ta biết là bột vừa dẻo, óng ánh màu nước mắm ửng hồng, “bánh cuốn như hồng ngọc” là đây! Dung dị, nhưng đầy ý vị, đơn sơ nhưng đậm đà hương vị lúa gạo Việt Nam, cho nên quí giá như Hồng Ngọc.

Viên ngọc của Việt Nam tôi đó! người sứ giả phương Bắc kia!

Trong một thoáng tôi như thấy lại quang cảnh lịch sử của ngày xưa. Cũng nơi miền quan tái này, cách đây không xa mấy nơi chốn biên cương, rộn ràng ngựa xe tiễn sứ giả Bắc triều, bụi tung mờ đàng trước, nơi một doanh trại nào đó, tiệc tiễn đưa sứ giả diễn ra, với “Đầy mâm bánh cuốn như hồng ngọc” và một lời nhắn nhủ ý nhị “Phong tục từ xưa của nước Nam” của vua Trần Nhân Tôn. Lấy một món dân dã ra mà đãi quốc khách, bản lĩnh tự chủ của vị Vua này thực vững chãi có một không hai!

Xong mùa giá chi thử áo xuân,
Hôm nay luống gặp tiết cỏ xanh
Đầy mâm bánh cuốn như hồng ngọc
Phong tục từ xưa của nước Nam”
(Trần Nhân Tôn, bài thơ tiễn sứ giả Tàu Trương Lập Đạo, bản dịch Lê Mạnh Thát)

Tự chủ với một nền văn hoá Việt Nam, mà món ăn là một nét khởi đầu của cái Đạo làm người Việt Nam “Nhu dã ẩm thực chi đạo dã!” (Kinh Dịch). Sau khi đã ổn định trời đất (chiến thắng quân Nguyên giành lại độc lập cho đất nước) thì không thể không có giáo dục và nuôi dưỡng, hai yếu tố chủ yếu của văn hoá, tạo nên bản sắc văn hoá - nếu không nói là bản sắc văn hoá dân tộc, những danh từ mà tôi bỗng e dè khi dùng tới trong cuộc hành trình này...

Mời người trước kia là địch thủ nay là sứ giả hoà bình nếm món bánh cuốn của trời Nam, để biết ăn chơi không chỉ là cao lương mỹ vị, mà là sự tinh tế tài hoa của người biết nấu và người biết ăn, phong tục của nước Nam!

Tôi đã thưởng thức món bánh cuốn dưới chân núi Yên Tử không với một niềm hoài cảm mà với một sự chiêm nghiệm thích thú đã gặp được “khẩu vị” của một đấng anh hùng nước Nam, và cũng là vị sáng lập một thế đứng tư tưởng Việt Nam ngẩng mặt đối diện với phương Bắc, mà từng bước từng bước tôi đang sắp sửa đi trên một quãng đường mà Người đã để lại.

Mình ngồi thành thị
Nết dụng sơn lâm”

Yên Tử trong mùa đông rét mướt thường vắng khách vãng lai, vả chăng Yên Tử vẫn còn là một nơi hẻo lánh khó đi, nên Yên Tử chưa bị nhiễm độc như Chùa Hương bởi những hàng quán rối rít hai bên đường. 

Đường lên núi rợp bóng cây, lau lách, tre sậy và các thứ cây miền nhiệt đới um tùm hai bên đường, đường núi dốc đá quanh co, có nơi bằng phẳng nhưng cũng lắm chỗ gập ghềnh.

Khí núi cùng với mùi hoa lá lạnh mát bay phả vào mặt làm cho người đi thấy lòng dịu hẳn, những bước đi trên con đường dốc thoạt chốc bớt nặng nề. Yên Tử có một không gian thanh thản thâm u nhưng không huyễn hoặc như Động Hương Tích.

Từng bước từng bước một, tôi biết mình đang dẫm chân lên những dấu vết sơn lâm lịch sử.

Yên Tử còn “lạ hơn ba mươi sáu thiền thiên'', có lẽ bởi Yên Tử không chỉ là nơi “náu ẩn” như Huyền Quang nói, mà là thánh địa của “nết dụng sơn lâm” như Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tôn đã hoạch định. Thăng Long và Yên Tử, một bên là “mình ngồi” một bên là “nết dụng”, một bên là “xác” một bên là “hồn”, Thăng Long mà không có Yên Tử thì Thăng Long rốt cùng chỉ là nơi buôn danh bán tước, một chốn thị phi tranh tài tranh sức, nhân nghĩa thực dụng để chìm đắm trong bể khổ, Thăng Long với lầu vàng điện ngọc đã bao lần dâu bể trong “cuộc mất còn” của lịch sử, Thăng Long đã bao lần đá nát vàng phai nhưng Yên Tử vẫn còn đó, vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt'', bởi vì Yên Tử chẳng có chi vật chất để mà “thành trụ hoại diệt”, Yên Tử vẫn là cứ địa của một nền tư tưởng, đạo đức Việt Nam, vẫn là sơn lâm sâu thẳm của “thể tính” “an nhàn” Việt Nam như một điểm tựa vững chãi cho những gì có ý nghĩa cho hiện sinh Việt Nam, cho nên là “nết dụng sơn lâm”. Sống ở thị thành là chân lý tương đối, dụng tâm ở sơn lâm là chân lý tuyệt đối, thị thành không có sơn lâm thì sẽ mất ý nghĩa và điểm tựa tinh thần.

Trần Nhân Tôn đã không lên Yên Tử để trốn đời. Trần Nhân Tôn lên Yên Tử để làm ''tròn'' cuộc đời của một con người Việt Nam.

Cả một cơ nghiệp đời Trần, như ai cũng thừa nhận đã là giai đoạn lịch sử vàng son nhất của Việt Nam, nếu không có “nết dụng sơn lâm” của Yên Tử thì Trần Cảnh đã không thể đứng vững trên mặt đạo lý để là một vị vua cho quần thần mến phục. Có thể nói Yên Tử đã cứu Trần Cảnh ra khỏi phong ba bão táp loạn luân của Trần Thủ Độ và Yên Tử từ đó là cơ sở đạo đức thiết lập niềm tin cho một bản sắc Việt Nam:

Mình ngồi thành thị
Nết dụng sơn lâm
Muôn nghiệp lặng an nhàn thể tính
Nửa ngày rồi tự tại thân tâm
Tham ái nguồn dừng chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quí
Thị phi tiếng lặng được đầu nghe yến thốt oanh ngâm...

Trên ngọn núi Yên Tử tùng trúc rào rạt trong gió, ngẩng mặt lên nhìn mảnh trời xanh lạ lùng của ngày mùa đông hôm ấy đã thành những bông hoa xanh biếc được những lá tùng nhọn như những mũi kim thêu lốm đốm. Một câu hỏi chợt đến trong đầu, sau ba tiếng đồng hồ leo núi:

Trần Nhân Tôn, người là ai?

Câu hỏi có vẻ lẩn thẩn, bởi lẽ từ khi cắp sách đến trường, bắt đầu học lịch sử dân tộc, ai là người Việt Nam mà chẳng biết qua hơn một lần trang sử đời Trần và trang sử Trần Nhân Tôn? 

Ai là người Việt Nam đã không tự hào về những chiến thắng quân Nguyên vẻ vang của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo tài ba của vị vua anh minh lỗi lạc Trần Nhân Tôn? Không những là một vị vua anh dũng nơi các chiến công oanh liệt Hàm Tử, Chương Dương, Bạch Đằng, Tây Kết của Việt Nam vào thế kỷ 13, vị hoàng đế ''Kim Phật'' này lại là một nhà lãnh đạo tư tưởng văn hoá tôn giáo ưu việt đã đem lại cho thời đại của mình và cho đời sau một niềm tự tin vững chắc và sâu đậm “Nam quốc sơn hà nam đế cư” hơn tất cả những vị anh quân của lịch sử Việt Nam, không những võ công mà chính là văn trị đã đưa Trần Nhân Tôn thành một nhà lãnh đạo tư tưởng Việt Nam đầy nhân ái và sáng tạo: với Trần Nhân Tôn tiếng Việt được đưa vào văn học chính qui và với Trần Nhân Tôn tư duy triết lý và đạo đức Việt Nam trên cơ sở Thiền học được thành lập. 

Từ lớp tiểu học cho đến đại học, qua nhiều lần thi cử, chính tôi đã thuộc nằm lòng những trang sử sáng ngời Trần Nhân Tôn như thế, cho đến khi xuất ngoại du học, những năm tháng xa quê hương sống nơi đất khách, mỗi khi trình bày về lịch sử và văn hoá Việt Nam, mỗi khi lý luận về bản sắc dân tộc về văn hoá dân tộc, những trang sử Trần Nhân Tôn luôn luôn là bằng chứng hùng hồn của ý thức độc lập thực sự Việt Nam và là điểm tựa cho niềm tự hào và nỗi hãnh diện của tôi về văn hoá ưu việt của đất nước đối với người ngoại quốc.

Nhưng thực tình và thực sự mà nói, thì hình như trải qua mấy mươi năm đọc, học, nghe, và lặp lại những điều sử sách viết về Trần Nhân Tôn, Trần Nhân Tôn đối với tôi chỉ là một trang sử mở sẵn hay gấp lại để trên bàn hay trong tủ không hơn không kém, tôi chưa hề biết Trần Nhân Tôn là ai? 

Hoa Yên Tự - Trần Nhân Tôn: “Ta (thật tận tình) là Ta”

Chùa Hoa Yên, nơi thờ vị tổ sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm vua Trần Nhân Tôn, mở ra từ những bậc đá từ dưới nhìn lên thoạt tiên quen thuộc như... “vườn nhà” với các bụi chuối hai bên lối đi, sau khi đã quanh co với những cây cổ thụ, bạch tùng, xích tùng lạ kỳ hiếm có, bỗng nhiên gặp lại vườn chuối tiêu điều, như ngõ sau quê mẹ... thế này? Khác với Hoa Yên của tam tổ Huyền Quang (sách đã dẫn): 

Hồ sen trương tán lục
Suối trúc phiếm đàn tranh...

Nhưng rồi vượt hết các bực đá, Hoa Yên bỗng chơi vơi trên không với một tầm nhìn sơn hà bao quát lồng lộng, núi non rừng cây trùng điệp mấy tầng nâng Yên Hoa lên trong thế rồng ngồi với một kiến trúc vườn cây lăng miếu hài hoà thuần tuý Việt Nam.

Tôi đứng trên bậc cấp cuối cùng giữa hai cây “trượng phu tùng” (Huyền Quang, sách đã dẫn), gió lộng bốn bề trước cảnh non nước gấm vóc, rồi quay mặt trực diện với bệ thờ Điều Ngự Giác Hoàng, trong một giây cảm xúc tôi có cảm tưởng thấy được chân dung thực sự của Trần Nhân Tôn. 

Như chia với nhau cùng một ấn tượng, chúng tôi ba người đều thấy cùng một lúc chưa có nơi nào trên đất nước Việt Nam “Việt Nam” hơn Yên Hoa của Yên Tử với lối kiến trúc khiêm tốn nhưng thâm u, thiên nhiên thô sơ nhưng không thô kệch, tinh vi nhưngkhông phù phiếm.

Trần Nhân Tôn đó, có thể ngẩng mặt nhìn sang Bắc để nói “Ta cũng như người'', để hướng về phương Đông mà nói “Ta khác với người”, nhìn về Tây mà nói “Ta không thua người'', nhìn về Nam mà nói ''Ta cùng với người''. Đã thấy lăng tẩm các vị vua chúa triều Nguyễn, mới thấy Trần Nhân Tôn ''Việt Nam'' ngay từ từng viên đá, không một chút ảnh hưởng của Trung Hoa trong sự khiêm tốn nhân ái ngược với kiến trúc tráng lệ đến vô nhân, Hoa Yên lại khác với Nhật trong chất đá thiên nhiên, với Nam Dương trong nghệ thuật tinh vi. 

Tôi bỗng hiểu được tại sao người Nhật mê và tìm học kỹ thuật đồ gốm đời Trần. Chén gốm đời Trần có một sắc thái tinh vi trong chất đá thô kệch, không hào nhoáng bóng bẩy như của Tàu, cho biết nghệ nhân có một bản lĩnh cao cường trong lúc sáng tạo, vừa thấu hiểu bản chất sự vật để gìn giữ bản chất ấy đồng thời nâng sự vật lên thành tác phẩm nghệ thuật. Chẳng khác chi bản sắc của một dân tộc mà Trần Thái Tôn trong trách nhiệm cầm cân nảy mực phải dùi mài trau chuốt, vừa gìn giữ để không bị đồng hoá vừa phát huy để đừng bị thoái hoá.

Và trong trăm ngàn trách nhiệm, chưa thấy vị vua nào như những vị vua đời Trần đã miệt mài nói về chữ Tâm Việt Nam như một lời tuyên ngôn làm kim chỉ nam để phát huy bản chất Việt Nam như thế, nói về chữ Tâm Việt Nam bằng ngôn ngữ Việt Nam, cho nên không ngại đi ngược lại với thời thượng và mặc cảm của sĩ phu Việt Nam sau một ngàn năm đô hộ của Tàu.

Cần phải đi ngược để khẳng định cho được phong cách con người Việt Nam với giá trị văn hoá đạo đức phương Nam.

Từ Trần Thái Tôn trở về sau, chữ Tâm đã được thay thế bằng chữ Lòng trong những tác phẩm văn chương đời Trần viết bằng chữ Nôm. “Thay đổi cách hành văn là thay đổi tư duy, thay đổi tư duy là thay đổi cách hiện hữu, cách sống”, Nietzsche đã có lý khi nói như thế.

Có thể nói Trần Nhân Tôn đã tiếp tục sứ mạng “làm người Việt Nam” toàn vẹn nhất, tận tình nhất, hùng hồn và sâu thẳm, sáng tạo và đôn hậu trong sự nhất quán, trong sự thấu suốt cuộc đời bên ngoài, cuộc đời thành thị và cuộc sống nội tâm, cuộc sống tinh thần nơi chốn sơn lâm. Nghĩa hãy nhớ đạo chẳng quên...

Hãy xá vô tâm tự nhiên hợp đạo
Sạch giới lòng, dồi giới tướng nội ngoại nên Bồ Tát Trang Nghiêm
Ngay thờ chúa thảo thờ cha Đi đỗ mới trượng phu trung hiếu”
(Trần Nhân Tôn, Cư Trần Lạc Đạo)

Tôi lùi lại phía sau, đến cạnh bệ thờ có tượng Trần Nhân Tôn, nhìn ra phía trước. Tôi muốn biết Trần Nhân Tôn từ chỗ ngồi này đã nhìn gì, thấy gì khi người còn sống “am mây một sập Thiền”, khi người đã chết, từ hơn 800 năm trước cho đến bây giờ... 

Có phải “Ta nay: ngồi đỉnh Vân Tiêu, cỡi chơi Cánh Diều” “Coi Đông Sơn tựa hòn kim lục/Xem Nam Hải tựa miệng con ngao” như Tam tổ Trúc Lâm Huyền Quang ngày trước đã tả không, thì thấy rừng cây trùng điệp mà chúng tôi đã đi qua như những cánh phượng hoàng phấp phới trong gió, núi mờ núi đậm tiếp vai nhau ở chân trời xa thẳm, làng mạc nằm chơi vơi trong màu nắng thanh lam như trôi lững lờ vào trong màu xanh vô tận của bầu trời, khói nước từ biển khơi lung linh giữa thinh không mờ ảo,như thật như hư, con đường ngoằn ngoèo dưới chân núi như một vệt sáng lấp lánh xuyên hút qua lòng núi...

Phong ba hay thái bình, Trần Nhân Tôn “ngồi” đây với ''non nước... nghìn thu” ấy như một chiêm nghiệm sâu thẳm về hiện hữu vật chất và tinh thần, ngoại tâm và nội tâm của một con người Việt Nam. Tuy “ngồi” nhưng đã “đi” thẳng vào đạo tâm của cả non sông, dân tộc. 

Dựng cầu đò, dồi chiền tháp ngoại trang nghiêm tự tướng hãy tu;
Săn hỷ xả, nhuyển từ bi nội tự tại Kinh Lòng hằng đọc”

(Trần Nhân Tôn, Cư Trần Lạc Đạo)

Đứng trên đỉnh núi với ngôi Chùa Đồng bé tí như một món đồ chơi - khác hẳn một ngôi Chùa Đồng vĩ đại trong tưởng tượng khi nghe bạn bè nói về Chùa Đồng Yên Tử - đỉnh núi cheo leo, lởm chởm đá, những tảng đá thi gan, khổ hạnh, đã mấy trăm hay mấy ngàn năm, như một bình phong tròn đứng chắn gió cho bốn phương cảnh vật nhu hoà, nhân ái quyện dưới chân núi. Bỗng thấy núi Yên tử như một thiền sư, Trần Nhân Tôn là núi Yên Tử, thân tâm vững như núi:

Nhìn lên càng cao
Dùi càng bền cứng
Chợt ở phía sau
Thấy liền trước đứng...
(Trần Nhân Tôn, Ca ngợi Tuệ Trung Thượng Sĩ)

Buổi xế trưa gió núi vun vút không ngừng bay về trời trên đỉnh Yên Tử nghe trong gió tiếng núi vang vọng câu trả lời: “Hiểu theo lối trước lại chẳng phải”. 

(Trần Nhân Tôn, Tại sao về núi giới lòng? Đáp: ''Hiểu theo... “Bài giảng tại chùa Sùng Nghiêm, sách đã dẫn).

Yên Tử mà tôi đã đi qua, Yên Hoa mà tôi đã dừng lại, Chùa Đồng mà tôi đã đứng cheo leo, Vân Tiêu, Cánh Diều mà tôi đã chắp cánh bay theo, nếu hiểu như tôi đã hiểu theo sách vở lại là CHẲNG PHẢI! Vậy thì “Dùng công án cũ để làm gì? Đáp: Mỗi lần nêu ra một lần mới”. (Trần Nhân Tôn, bài giảng cuối đông năm Giáp Thìn 1304 tại chùa Sùng Nghiêm, sách đã dẫn)

Trần Nhân Tôn là một công án cho tôi!
Đường về “Cư Trần Lạc Đạo”

Xuống núi thật nhanh. Trời mới xế chiều. Lên xe. Nằm dài trên ghế. Chúng tôi chỉ ba người, xe rộng thênh thang. Tôi đã ngủ một giấc ngủ ''cư trần lạc đạo'': mệt ngủ liền!

Ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên
Đói cứ ăn đi mệt ngủ liền
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.
(Trần Nhân Tôn, Cư Trần Lạc Đạo phú, sách đã dẫn)
 
Thái Kim Lan
 
 

MAI VÀNG CHỐN YÊN TỬ
Lê Hải

Cây mai vàng Yên Tử tượng trưng cho tinh thần bền bỉ, vượt lên mọi khó khăn theo truyền thống Thiền môn mà các hoà thượng đã dày công vun xới và phát triển hệ phái Trúc Lâm Yên Tử. Vì vậy rừng mai cổ Yên Tử phải được gìn giữ, bảo tồn...

Mai, lan, cúc, trúc được người đời tôn là tứ quý và được coi là biểu tượng của bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Mai vàng là một loài hoa đẹp cao quý chỉ nở mỗi năm một lần đúng vào dịp xuân về.

Với người dân nước Việt, hoa mai đã trở thành sứ giả biểu tượng cho mùa xuân ở vùng đất phương Nam. Thế nhưng ít ai biết rằng ở Quảng Ninh cũng có rất nhiều loài mai, đặc biệt phải kể đến cây mai vàng Yên Tử. Mai Yên Tử có sức sống mãnh liệt, thuộc họ mai vàng có tên khoa học là OCHNACEAE. Các cụ xưa thường gọi giống mai vàng là Kim liên mộc, còn người dân địa phương thì gọi là Mai ký đá. 

Cây mai ký đá thường có rễ len lỏi ở các khe đá. Mai vàng Yên Tử sống thành quần thể rừng, ước định trên 800 năm tuổi. Có thể rừng mai cổ này được hình thành từ khi vua Trần Nhân Tông sáng lập Thiền phái Trúc Lâm, các vị tu thiền đã tự tay trồng và chăm sóc. Mai Yên Tử có điểm khác biệt với các loài mai khác là lá non của nó lúc nào cũng xanh mướt chứ không nhuộm sắc tím, vàng như các giống mai khác.

Yên Tử từ lâu đã nổi tiếng là chốn “non thiêng” và mọi người quan tâm nhiều tới Yên Tử không chỉ vì quy mô, kiến trúc đặc biệt mà chính bởi Yên Tử vốn là một trong những trung tâm Phật giáo Việt Nam. Cũng là hữu duyên khi tôi được trò chuyện với sư thầy Thích Quang Huệ tại chùa Lân (Yên Tử) để được hiểu thêm về giáo lý của đạo Phật và dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử. 

Bảy trăm năm qua, Yên Tử nổi danh là phúc địa, gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp phi thường của Đức Hoàng đế anh hùng Trần Nhân Tông, sau hai lần lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống quân Nguyên - Mông thắng lợi (1385-1288), đã từ bỏ ngai vàng về tu tại Yên Sơn, sáng lập ra phái Thiền Trúc Lâm, xây dựng nơi đây trở thành một trung tâm văn hoá, kinh đô Phật giáo của Đại Việt và Người trở thành Đức Phật của Việt Nam. Chợt nhớ đến những câu thơ viết về Người:

Để lại sau lưng cả cung điện vàng son
Những châu báu ngọc ngà, những cung tần mỹ nữ
Ta đến với rừng thiêng Yên Tử
Gió trăng ơi xin hãy đón ta về...

Và tự lúc nào, câu chuyện lại xoay quanh về cây mai vàng Yên Tử. Theo lời sư thầy Quang Huệ, Sơ Tổ khi xưa đã dạy các đệ tử: Hãy buông bỏ hết những cái không buông bỏ được thì chính là cây mai vàng Yên Tử. Qua đó, Điều Ngự Giác Hoàng muốn ám chỉ đến hành giả, chỉ tu thành chính quả khi đã rũ bỏ được mọi vướng luỵ, nhưng điều cao quý nhất không thể nào rũ bỏ được chính là tâm thiền của mỗi nhà sư. Tâm thiền đó được ví như tinh thần, cốt cách của cây mai vàng Yên Tử. 

Vẻ đẹp của mai và là vẻ đẹp thanh khiết cao quý, màu vàng tượng trưng cho sự vinh hiển cao sang. Theo thuyết ngũ hành, thì màu vàng thuộc hành Thổ, nằm ở vị trí trung tâm của bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Màu vàng cũng là màu biểu tượng cho nòi giống Việt. Hương của hoa mai còn được gọi là “lãnh hương” bởi trời càng lạnh, hoa càng toả hương thơm. Bất chợt hiểu thêm một chút về hai câu thơ của thiền sư Mãn Giác: 

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

(Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua, hiên trước một nhành mai).

Xuân đến - xuân đi, những ngày xuân trôi qua, nhìn những cánh hoa rơi lìa khỏi thân cành như nhắc nhở dòng thời gian đến - đi, hoa nở - hoa tàn, tóc xanh - tóc bạc. Vòng đời luân chuyển, mọi việc trên đời đều vô thường. Ai cũng đến đi, ai cũng trẻ già, đã là thế nhân làm sao thoát khỏi vòng sinh tử, làm sao thoát được tâm tư khổ luỵ của kiếp người. Lúc được thì vui, khi mất thì buồn. Lúc gần gũi thì hạnh phúc, khi biệt ly thì đau khổ... 

Dù vẫn biết, thiền sư Mãn Giác có ý nhắn dạy thế nhân về quy luật vận hành tất yếu của thiên nhiên và vòng tử sinh luân hồi của kiếp người. Nhưng mùa xuân đã qua, tưởng hoa đã rụng hết mà nhà sư vẫn thấy một nhành mai nở muộn lúc xuân tàn? Có thể nhành mai mà thiền sư đã trông thấy chỉ là trong tâm thiền, nhành mai đó chính là biểu tượng cát tường của đời sống.

Kể về mai vàng Yên Tử, bà Lê Chinh Thuần, một trong những Phật tử thuần thành bảo vệ rừng mai cổ, cho biết: "Rừng Đại lão mai vàng Yên Tử này rất linh thiêng, bởi đây chính là nơi các thiền sư đã từng ở. Với tâm thành dâng lên Sư Tổ thiền viện, nhóm Phật tử Minh Thành Tuệ đã làm lễ xin hạt ở rừng Đại lão mai vàng về ươm thành cây để trồng ở chùa Vân Tiêu, Bảo Sái, Hoa Yên... 

Đến nay, một số cây mai đã phát triển tốt, khai hoa kết nụ làm đẹp thêm chốn non thiêng trong mùa lễ hội. Trơ gan cùng tuế nguyệt, giữa sương tuyết lạnh lùng, mai vẫn âm thầm đơm hương và đến thời khắc dẫu gió xuân chưa về, mai vẫn khai hoa. 

Cây mai vàng Yên Tử tượng trưng cho tinh thần bền bỉ, vượt lên mọi khó khăn theo truyền thống Thiền môn mà các hoà thượng đã dày công vun xới và phát triển hệ phái Trúc Lâm Yên Tử. Vì vậy rừng mai cổ Yên Tử phải được gìn giữ, bảo tồn...”.

Lặng ngắm nhìn những thân mai khẳng khiu, thanh thoát mà không yếu đuối; mạnh mẽ, cương trực mà không hề thô kệch và ngắm những nụ mai vàng cứng cáp đang nhú lên trong giá lạnh để chuẩn bị khai hoa đón mùa xuân tới, tôi mới phần nào hiểu được tại sao mai vàng lại chiếm một vị trí quan trọng trong thơ ca cổ đến vậy. 

Tạm biệt Yên Tử vào một ngày cuối đông, nghe tiếng chuông chùa ngân nga, nhịp nhàng hoà theo với gió để rồi tan dần trong sương chiều bảng lảng và nghe tiếng Mô Phật thay cho lời chào tạm biệt của các thiền sư vừa hiền hoà, vừa thanh thoát, thấy tâm mình nhẹ nhàng hơn...

Lê Hải

(PhatTuVietNam)

02-06-2008 04:23:14

Tuyển Tập Xuân
Thư Viện Hoa Sen