HƯƠNG
XUÂN
Hạnh
Đoan

Xuân
về, những chậu hoa trong vườn tôi nở rộ, tỏa ngát hương.
Xuân mang không khí hân hoan bủa khắp, cây lá thay áo mới,
mặt người hớn hở, không còn nét lạnh lùng mùa Đông, nóng
nảy của mùa Hạ hay vẻ đìu hiu của mùa Thu.
Không
phải xuân về tôi mới cảm nhận được nét tưng bừng tươi
tắn, mà vào thời điểm trước khi bầu cử làng xã, có dịp
đi ngang qua các ủy ban, nhìn băng rôn treo rực sắc màu, từng
ánh mắt nụ cười của người ứng cử chứa đầy vẻ thân
thiện, tử tế, vị tha… khiến tôi không nhịn được phải
buột miệng nói với chị Phượng:
- Thiệt
giống như khí xuân, ấm áp, chan hòa tình người…
Chị
tôi mỉm cười bảo:
- Ừ,
trước ngày bầu cử là vậy, ra đây cảm giác rất thích,
cứ như ai cũng mở lòng, dang tay đón mình…
- Phải
chi lúc nào mình cũng đối với nhau được như thế này,
cho dù không phải Tết, hả chị?
Đó
là ước mơ bất chợt, là những lời bâng quơ tôi tùy tiện
nói ra. Đối với xuân, người ta luôn trân trọng, giữ gìn,
nhất là vào những ngày đầu năm được xem là thời khắc
thiêng liêng: khai bút vào giao thừa, mong người tốt tới xông
đất…
Nói
năng, hành sự mỗi mỗi đều giữ gìn, vì ta sợ xui xẻo
quanh năm. Không hẹn mà chúng ta cùng làm giống nhau, cùng dọn
gương mặt tươi roi rói, cực kỳ hoan hỷ để nghênh xuân.
Ít ai dám nói lời xấu, mở miệng toàn là chúc lành, mời
nhau những món ngon, cùng viếng thăm thể hiện mối tương
giao thắm thiết. Ta cùng cho và nhận những cái tốt, không
biết có may mắn suốt năm không?
Nhưng
ít ra ta hưởng trọn niềm vui như Tết, cười nhiều, tươi
tắn nhiều, mọi héo sầu, ủ ê, phiền bực được cất hết,
được nén lại, để… xài trong mấy mùa kia.
Có
người phàn nàn: Tết nhứt bày đặt chúc tới chúc lui, toàn
là nói những lời rỗng gạt nhau, chỉ tổ mất thời giờ,
có ích gì đâu!
Không
biết lời chúc có thành sự thật hay không, nhưng nó là lời
lành chính hiệu, là mong ước hiền thiện người ta dành tặng
nhau, có thể theo tập tục xuân, có thể theo phép xã giao xưa
bày nay làm, song với tôi đó là tấm lòng thành của người
nói, là ngôn ngữ tối thiện đặc biệt chỉ mùa Xuân mới
có.
Tôi
nhớ trong chuyện cổ, ngài Xá Lợi Phất có lần đi trên đường
gặp một phụ nữ sinh khó, ngài đã chúc lành bằng cách hồi
hướng tất cả phước báu do những việc thiện mình từng
gieo đến sản phụ, mong bà sinh dễ, mẹ tròn con vuông. Kết
quả hiện y như lời ngài.
Phật
từng dạy, ai đời đời không vọng ngữ, chúc người điều
gì, sẽ thành sự thật. Đó là uy lực của đức không nói
dối. Vậy thì tôi sẽ chờ… chờ người và tôi cùng tích
góp. Tích góp từng ngày không nói dối, từng đời không nói
dối, cho đến khi đủ để chiêu cảm quả lành… dù từ
mộng mơ đến hiện thực khoảng cách rất xa, có khi như trời
với đất. Khó, nhưng không có nghĩa là không thể.
Đây
là cõi nhân gian, không phải là chỗ “Chư thượng thiện
nhân câu hội nhất xứ”, không phải là chỗ chúng ta họp
lại hưởng phúc, bởi lòng chúng ta còn đầy phiền não, cư
xử còn nhiều bất toàn vì không làm chủ được thân tâm.
Phật và chư Thánh đến cõi nhân gian vì bi nguyện cứu khổ,
độ sinh. Còn ta đến cõi này vì nghiệp dẫn dắt.
Khi
may mắn tới, ta toét miệng cười và khóc sưng mắt lúc xui
xẻo bủa giăng. Ta luôn ở thế bị động không bao giờ làm
chủ, vì không làm chủ nên đời sống ta ít hạnh phúc. Mà
hạnh phúc thế gian chỉ là tạm có - nó luôn nằm trong giới
hạn, hễ hưởng quá mức là biến thành khổ ngay. (Món ăn
ngon mà nuốt mãi cũng thành cực hình. Ngủ mãi cũng thành
lừ đừ trì độn v.v…).
Vì
vậy Phật dạy ta thực hành giáo pháp của Ngài để tập
làm chủ, để diệt khổ. Phật luôn nhắc ta có bản tâm sáng
làu làu, trọn lành như Phật, vì nó bị vùi lấp trong vô
minh và rác rưởi tật xấu nên không phát huy diệu dụng.
Muốn lấy được ngọc, thì phải dọn sạch mớ rác rưởi
kia, điều kiện đầu tiên trong giáo pháp Ngài là bắt buộc
ta phải sống thiện, dứt ác. Đây là nền tảng, là căn bản
nhập môn.
Ta
đã nghe đến nhàm nên không lưu tâm, ta thuộc làu như cháo
nhưng không thực hành. Ta quên béng rằng là Phật tử, thì
không được quyền gây tổn thương cho người trong cả lời
nói, ý nghĩ… Có lần tôi suýt á khẩu vì câu hỏi đơn giản:
- Má
con hay đi chùa. Vì sao đi chùa mà vẫn không hết chửi? Càng
đi càng chửi nhiều?
Tôi
làm một màn điều tra, quả tình bà có chửi nhiều thật.
Song không phải tại đi chùa nhiều, mà tại tật tánh ngày
càng tăng theo tuổi tác.
Điều
này không ngoại lệ đâu, nếu ta không để ý, không kiểm
soát mình từng ngày, không tập thắng bớt tật xấu thì bảo
đảm nó càng sinh sôi tăng trưởng đến bất trị, vì càng
cao tuổi, các cơ quan trong ta càng lão suy, các “dây thắng”
đều bị mòn lờn.
Bằng
chứng là thứ mẫu tôi, bản chất bà rất hiền dịu thuần
phác. Lúc tuổi gần 60, bà trúng gió một trận nặng, ba tôi
phải chích lể cấp cứu mới giải nguy kịp thời. Khi tôi
về thăm, ngỡ ngàng nhìn dung nhan bà biến đổi thì ba tôi
nói:
- Bây
giờ đỡ nhiều lắm rồi! Lúc đó bả méo mồm lệch mắt
trông xấu tệ!
Thứ
mẫu than với tôi:
- Lúc
này tao kỳ quá, mỗi lần cười là thắng không được, hôm
qua có chuyện vui, tao cười mãi, bé Xí (đứa cháu mới lên
năm) nói “Bà ngoại cười riết giống khùng quá” nhưng
mà tao ngưng không được.
Tôi
an ủi:
- Không
sao đâu má! Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ mà!
Má không nghe nói cười nhiều lần trong ngày làm giảm trầm
uất, trị táo bón, ngăn ung thư dạ dày, ruột… đó sao.
- Hôm
qua tao đi bác sĩ, ông hỏi tao bớt bịnh chưa? - Tao trả lời:
-Bớt! Nhưng mà còn nói nhiều quá! Ổng cười, đưa tay đầu
hàng. Bây giờ làm sao đây?
Thứ
mẫu tôi rất ít tật song bà vẫn âu lo và nhận ra “cái
thắng không ăn” của tuổi già. Bà hay ở chỗ - phát hiện
được mình “kỳ”. Tôi thì lo rằng chúng ta sẽ không phát
hiện được mình “kỳ”, không nhận ra kịp thời khi mình
thịnh nộ, không thấy rõ mình đang sân nhiều quá, nói lời
tổn thương người nhiều quá… mà những thói tật lúc trẻ
nếu không thắng kịp, già sẽ trầm trọng và trở thành nan
y. Ta làm khổ mình (vì chứa nhiều thói xấu) rồi ta hành
khổ lây đến người chung quanh. Điều bất hạnh nhất của
ta là sống mà lòng đầy thói tật, sống mà không có lòng
từ bi, sống mà không bao giờ thấy được lỗi của mình.
Hồi
nhỏ tuổi, tôi dễ nhịn, dễ hiền. Nhưng khi lớn lên, có
chút quyền với lũ nhóc, tôi bắt đầu khó khăn. Tôi hay bắt
bẻ (viện cớ là khó cho chúng nên) nhưng e rằng một ngày
nào đó chúng sẽ nên, còn tôi thì ngược lại. Khi tôi la,
tôi muốn các em phải cúi đầu nghe, phải nhẫn nhịn giỏi.
Nhưng bản thân tôi thì không nhẫn nhịn giỏi, không chịu
được lời phật ý trái tai. Đúng lý ra, hễ càng làm lớn,
tôi càng phải nhịn giỏi và ít tham, sân, si… hơn. Người
mới tu có thể đèo theo nhiều tánh tật - vì họ mới,
sơ cơ, chưa bỏ kịp. Còn người cũ tu - thâm niên - thì bắt
buộc tật phải rơi rụng dần cho đến sạch trơn, có vậy
mới không tủi thẹn khi nhận mình là đồ đệ Phật môn.
Phật
là người đã hoàn thiện, nhân cách toàn mỹ. Chúng ta chưa
thành Phật, song vẫn có thể học theo Ngài. Phật chẳng hề
nóng nảy chửi rủa, chẳng hề nói xấu nói lén ai. Chúng
ta vào chùa mà không thực hiện được những lời dạy căn
bản nhất của Ngài thì thật đáng buồn.
Mỗi
mùa Xuân qua, mong rằng tánh tật trong ta ngày càng ít đi, rác
rưởi trong tâm ta sớm được dọn sạch, để trí tuệ và
lòng từ của giác tâm luôn tỏa sáng, phả hương xuân ngào
ngạt, bất kể thời tiết nào.
Hạnh
Đoan (Theo Giác Ngộ xuân Mậu Tý)
ẢNH
DỤ CHUỘT TRONG KINH PHẬT
Thích
Nguyên Hùng
Ba
tạng Kinh, Luật, Luận của Phật giáo là một kho tàng văn
học khổng lồ, phản ảnh mọi phương diện của cuộc sống.
Đặc biệt, văn học Phật giáo rất đa dạng về thể loại
và giàu có về hình ảnh.
Hầu
như mọi sự vật hiện tượng trong cuộc sống đều trở
thành đề tài hay hình ảnh để Đức Thế Tôn diễn bày đạo
lý, và hình ảnh nào đi vào kinh điển cũng đều trở nên
sâu sắc, lung linh khiến người đọc, người nghe nhớ mãi.
Nhân
dịp Xuân Mậu Tý, xin giới thiệu một vài ảnh dụ về chuột
trong kinh Phật để bạn đọc suy niệm.
Chuột
ăn trộm sữa mà chết
Xưa
có ông trưởng giả dùng bình đựng sữa, đặt ở trên gác,
do đậy nắp không kỹ nên chuột chui vào bình. Do tham ăn,
chuột ngày đêm ở luôn trong bình ăn sữa, thân thể lớn
dần. Đến khi sữa hết, toàn thân chuột đã lớn chật cả
cái bình và trắng như sữa.
Một
hôm, có người đến nhà trưởng giả mua sữa. Bấy giờ trưởng
giả lên gác lấy bình sữa xuống, nghĩ rằng sữa đã đông,
nên đặt trên bếp. Khi chuột vào bình, đầu chui xuống dưới,
đuôi ở bên trên, đến khi lớn dần, thân chật cả bình
nên chẳng thể nhúc nhích quay đầu được. Chuột ở trong
bình bị chết, thân thể tan ra lại hóa thành sữa, người
mua người bán lấy được khoảng chừng một thăng sữa thì
thấy xương cốt chú chuột nằm ở dưới đáy bình.
Bấy
giờ trưởng giả thấy như vậy liền suy nghĩ, lúc ta cất
sữa đậy nắp không kỹ, ắt chuột đã chui vào, do quá tham
ăn, chuột ở luôn trong bình không chịu ra, sữa hết chuột
chết, sự việc ắt như vậy. Rồi trưởng giả lại nghĩ,
những người phóng dật, tạo nhiều tội lỗi (như tham lam,
ăn cắp tài sản của mọi người) thì cũng như vậy.
(Kinh
Xuất Diệu, Đại 4, N00212, p.0637a02)
Chuột
cứu vua thành Tì-xá-li
Đức
Phật kể rằng: Ca-lan-đà là tên một con chuột núi. Bấy
giờ, vua Tì-xá-li dẫn các mỹ nữ vào núi dạo chơi. Rồi
vì mệt mỏi, vua ngủ say dưới một gốc cây, các mỹ nữ
chạy chơi bốn phía.
Lúc
ấy, dưới gốc cây có một cái hang, trong hang có một con
rắn độc rất lớn, nghe mùi rượu từ vua thở ra, liền ra
khỏi hang muốn cắn vua. Trên cây có một con chuột trông thấy
liền nhanh chóng chạy xuống kêu chút chít đánh thức nhà
vua dậy. Con rắn bèn lùi lại. Vua chợt tỉnh rồi lại ngủ
tiếp. Con rắn lại bò ra. Chuột lại kêu chút chít đánh thức
nhà vua. Vua mở mắt, thấy con rắn độc cực lớn thì kinh
sợ, kêu cứu bọn mỹ nữ. Khi quay lại thì không thấy con
chuột đâu nữa.
Vua
liền nghĩ: Ta nay còn sống là nhờ ơn cứu mạng của chú
chuột. Nghĩ vậy, vua liền tìm cách báo ân. Bấy giờ, bên
núi có một thôn làng, vua liền ra lệnh cho muôn dân trong làng:
Từ nay về sau, bổng lộc của ta đều trả lại cho dân chúng
để cung cấp cho chuột. Nhân sự kiện này, thôn làng ấy
có tên là Ca-lan-đà. Trong thôn có một trưởng giả, tiền
vàng hơn bốn mươi ức. Vua phong vị ấy làm trưởng giả
của làng, nhân đó có hiệu là Ca-lan-đà trưởng giả
(Kinh
Luật Dị Tướng, Đại 53, N02121, p.0253a23).
Chuột
ăn nội tạng mèo
Thuở
xưa, có một con mèo đói khát, gầy yếu, rình con chuột ở
trong hang. Nếu chuột ra thì nó sẽ bắt lấy mà ăn. Một hôm,
chuột ra khỏi hang rong chơi, chú mèo kia liền chộp nuốt nhanh.
Thân chuột nhỏ, bị nuốt chửng vào bụng. Khi vào bụng rồi,
nó cắn nội tạng mèo. Bị cắn nội tạng, mèo điên cuồng
chạy
lung tung khắp nơi, từ nhà trống đến gò mả, không biết
dừng lại nơi nào, dần dần cho đến chết.
Cũng
vậy, Tỳ kheo, có người ngu si nương nơi làng xóm mà sống,
sáng sớm đắp y, ôm bát, vào thôn khất thực mà không khéo
hộ thân, không giữ các căn, tâm không cột niệm, thấy các
nữ nhân, khởi tư duy bất chánh, liền nắm bắt tướng sắc
mà phát khởi lòng tham dục.
Khi
tham dục đã phát khởi, lửa dục cháy bừng, thiêu đốt thân
tâm. Khi thân tâm bị thiêu đốt, tâm dong ruổi cuồng phóng,
không thích ở tinh xá, không thích nơi rừng vắng, không thích
dưới bóng cây; bị tâm ác bất thiện ăn vào pháp bên trong
mà xả giới, thối thất. Người ngu này chịu khổ đau lâu
dài, không lợi lạc. Cho nên, Tỳ kheo, cần phải học như
vậy: Khéo hộ thân mình, giữ gìn các căn, buộc tâm chánh
niệm mà vào thôn khất thực. Cần phải học như vậy”
(Kinh
Tạp A Hàm, quyển 47, số 1260).
Chuột
ăn hạt dẻ
Chuột
có cái biệt tài ăn hạt dẻ. Số là khi ăn hạt dẻ, chúng
chỉ dùng cái răng nhọn xuyên vào bên trong ruột hạt dẻ
lấy đi phần nhân, cho đến khi lấy hết sạch phần nhân
bên trong, mà hạt dẻ vẫn còn nguyên vẹn không sứt mẻ (cái
vỏ bên ngoài). Hình ảnh này dùng để chỉ hai thứ chân lý:
chân đế và tục đế. Bản tánh của tất cả các pháp là
không có tự tánh (phần nhân trống rỗng), chỉ có giả danh
(cái vỏ)
(Nhị
đế nghĩa, quyển thượng, Cát Tạng tuyển, Đại 45, N01845,
p.0081c28).
Bốn
loại chuột
Có
bốn loại chuột: Chuột sống trên nóc nhà, chuột trong nhà,
chuột ngoài đồng ruộng, chuột sống nơi nhà xí. Chuột sống
trên nóc nhà thì không thể sống ngoài đất bằng. Chuột
sống trên đất bằng không thể sống trên nóc nhà. Chuột
sống nơi đồng ruộng thì không thể sống nơi nhà người
và ngược lại. Chuột sống nơi nhà xí thì không thể ra khỏi
nhà xí, không biết trong kho có nhiều lúa thóc.
Cũng
vậy, con người cũng có bốn hạng. Những gì là bốn?
Người
tâm ý ngay thẳng, trì giới không khuyết phạm, muốn được
đạo quả A la hán. Người trì giới tinh tấn, muốn được
đạo Bích Chi Phật. Người trì giới học hỏi nhiều, hiểu
rõ kinh, có trí tuệ, mong muốn độ tất cả chúng sinh, muốn
được thành Phật. Người mượn danh đệ tử Phật, không
thể trì giới, không muốn học hỏi, tâm ý vẫn còn do dự
sợ không đắc đạo. Bốn hạng đệ tử trên cũng như bốn
loại chuột kia
(Kinh
Hằng Thủy, Đại 1, N00033, p.0817a06).
Thích
Nguyên Hùng
(Giác
Ngộ xuân Mậu Tý)
ĐOẢN
KHÚC TẾT
Nguyễn
Thanh Chương
Bỗng
dưng tôi đâm ái ngại cho một số người khấm khá mấy năm
gần đây bày chuyện trốn Tết, dắt díu gia đình bỏ nhà
cửa đi du lịch lên rừng xuống biển từ ngày mồng Một,
không biết để làm gì?
1.
Ngày 22 tháng Chạp, tôi lụi hụi soạn bàn thờ cho ngày mai
cúng ông Táo về trời. Hai vợ chồng cùng là Phật tử thuần
thành, dọn đến cái nhà đang ở này tính ra là cái thứ ba
kể từ lúc cưới nhau nhưng vẫn “lờ” đi chuyện làm bàn
thờ Táo quân. Trong nhà chỉ có bàn thờ Phật và bàn thờ
ông bà, không còn bàn thờ nào khác “để người ta đánh
giá đạo Phật mình là đa thần giáo hoặc người biết đạo
thì nói mình quy Phật rồi còn thờ trời, thần, quỷ, vật”.
Hai
vợ chồng thống nhất quan điểm như vậy, thấy cũng an tâm.
Nhưng cứ đến cuối năm, không cúng ông Táo thấy thiếu thiếu
sao đó, lòng lại nhủ lòng cũng là mỹ tục, truyền thống
dân tộc, tục lệ của ông bà mà, thôi thì chọn giải pháp
làm bàn thờ ông Táo dạng “lâm thời”, nghĩa là từ 23
tháng Chạp đến hết Rằm tháng Giêng là xong chức năng nhiệm
vụ, đương nhiên giải thể. Tuy hơi thực dụng một chút
nhưng chắc Táo quân cũng đại xá cho…
2.
Ra đường thấy người ta bày bán liễn đối, bao lì xì đỏ
hè phố. Ai cũng hối hả ngược xuôi lo cho xong mọi việc
trong năm. Nghe đâu đó vọng lời một bài hát cũ “mẹ ơi
hoa cúc hoa mai nở rồi, đời con giờ đây đang còn lênh đênh…”
mà thấy nao nao trong dạ. Chợt nhớ mấy đứa bạn thân giờ
đang rục rịch xe tàu về quê ăn Tết, bỏ lại thành công
và thất bại của một năm tha hương lập nghiệp cho cái thành
phố ồn ào, náo nhiệt bậc nhất này, về lại với quê mẹ,
với ruộng đồng, với làn khói nấu bánh chưng, bánh tét
quẩn quanh nhà trong chiều cuối năm, với ngôi chùa quê cũ
kỹ mà luôn ấm áp khói hương trầm ba ngày Tết.
Vậy
mà như được uống thuốc tăng lực, đủ sức “chiến đấu”
tiếp cho một năm mới không biết là may hay rủi nữa đang
đến, bọn bạn tôi bảo thế. Cũng là cái Tết mà thật êm
ấm, hạnh phúc khi được khi ở bên người thân, nhưng có
khi lại là cái Tết thật buồn, khiến mình phải bưng mặt
khóc ròng giữa đêm trừ tịch vì quay quắt nỗi nhớ mà khi
nhìn người ta bày hương án cúng giao thừa như thằng bạn
tôi thời mới ra trường, ở lại Sài Gòn làm thêm kiếm tiền.
Mới thấy ngày Tết Việt Nam sẽ không còn nghĩa lý gì khi
không được sống trong và sống với gia đình, người thân
nữa “… dẫu gì thì con cũng về, chỉ bên mẹ là mùa xuân
thôi”.
Bỗng
dưng tôi đâm ái ngại cho một số người khấm khá mấy năm
gần đây bày chuyện trốn Tết, dắt díu gia đình bỏ nhà
cửa đi du lịch lên rừng xuống biển từ ngày mồng Một,
không biết để làm gì?
3.
Hồi tôi còn nhỏ, thời đất nước còn khó khăn, chú tôi
lên rừng ngậm ngải tìm trầm ròng rã mấy tháng trời, Tết
về biếu ông tôi được ít vỏ cây dó, còn lõi trầm hương
thì bán mất rồi. Chỉ là vỏ cây trầm dó thôi mà khi đốt
lên cúng giao thừa, cả xóm khen nức nở vì lâu lắm rồi
dường như chưa ai ngửi mùi trầm…
Bây
giờ dịp cuối năm, tôi thích lựa loại trầm Huế, phải
thơm mà sang, nhẹ nhàng, sâu lắng để dùng trong ba ngày Tết,
vừa làm quà cho bạn bè, người thân. Cứ nghĩ đến thời
khắc giao mùa thiêng liêng, người ta mở hộp trầm hương
mình tặng, thắp lên giữa đất trời, cúng Phật, cúng tổ
tiên ông bà là lòng mình thấy vui rồi. Chỉ thắp lên một
nén trầm hương, không gian xung quanh sẽ thơm ngát mùi trầm.
Nhân gieo vậy thì quả là vậy, gieo hành động thiện lành
thì thành quả tốt đẹp phải đến. Còn lời mong ước nào
hơn như ẩn dụ trầm hương này mà tôi muốn trao gửi trong
thời khắc đầu năm mới?
4.
Mấy năm nay, tôi có thói quen sau khi dọn dẹp hương án cúng
giao thừa xong, trả lời hết tin nhắn chúc mừng năm mới
của bạn bè là lên phòng thờ Phật, thắp một tuần nhang
mới và ngồi ngẫm nghĩ. Lúc này tâm trí tôi như mới thật
thảnh thơi, bỏ qua mọi sự rộn ràng, tất bật, lo âu, phiền
muộn của năm cũ, của nỗi lo cơm áo gạo tiền đeo đuổi
thường nhật, của những đua chen, toan tính thiệt hơn, ngồi
dưới chân Phật và nghĩ về những người tôi đã thọ ơn,
đến những ước mong chưa thực hiện được của mình về
đạo, về đời…
Chỉ
ngẫm nghĩ trong mùi trầm hương, trong sự tĩnh lặng của buổi
khuya đầu năm về đoạn đời mình đã trải qua và những
gì đang đến trong năm mới, bỗng thấy tâm bình an lạ khi
nhìn lên bàn Phật, bắt gặp nụ cười Đức Như Lai-Bậc
không đến không đi giữa cuộc đời. Nụ cười Thế Tôn
là như thị, có cái gì là của năm cũ và cái gì là của
năm mới đâu để mà lo?
Dường
như có nụ mai vàng vừa hé bên hiên nhà, chờ một tia nắng
mới…
Nguyễn
Thanh Chương
(Văn
hóa Phật giáo)
DỌN
NHÀ ĐÓN TẾT
Anh
Nguyễn Thanh Chương và chị Đặng Uyên Thy thuộc thế hệ
7X đời cuối, cưới nhau ra riêng được vài năm nay, chọn
căn hộ chung cư mới xây dựng làm chốn đi về như phần
lớn lớp trẻ thành thị bây giờ.
Cuộc
sống quanh năm tất bật, con người đô thị, nhất là giới
trẻ lúc nào cũng bị cuốn trôi trong vòng xoáy mưu sinh lập
nghiệp. Có được ba ngày Tết, anh chị mới như có được
một điểm dừng, buông bỏ mọi bận rộn, lo toan để dọn
nhà đón cái Tết Nguyên đán thiêng liêng, truyền thống của
dân tộc.
Bàn
thờ Phật được thiết nơi trang trọng nhất của căn hộ
trở nên ấm áp, được cả anh và chị trang hoàng cẩn thận:
cặp hoa đào Bắc hồng phấn, đôi mâm ngũ quả, bánh chưng…
Không gian thờ Phật thiêng liêng trong mùi hương trầm và ánh
nến lung linh, ánh mắt Đức Phật Từ bi, khoan dung và tĩnh
thức… Đây là biểu tượng cho điểm tựa tâm linh cho cả
gia đình trẻ…
Phòng
khách vui tươi, ấm áp hẳn lên với chậu mai vàng vừa mua
chiều giáp Tết.
Cùng
đón ông bà về Tết với bữa cơm trưa Ba mươi, bữa chay
sáng Mồng một và bữa cơm đưa ông bà chiều Mồng ba. “Dụng
tâm bất dụng thực”, cúng kiếng như vậy theo anh chị vừa
giữ được phong tục, tập quán dân tộc vừa phù hợp với
nhịp sống hiện đại, phụ nữ không phải tất bật việc
nhà suốt ba ngày Tết…
“Có
một thiên đường đêm Ba mươi rất thật
Trừ
tịch chia đều mọi ngõ trầm hương…”
(Khúc
quê – Nguyễn Nhã Tiên).
Chiếu
hoa đã trải, hương án bày bên hiên nhà với bình hoa vạn
thọ, mâm ngũ quả, đỉnh trầm, đôi đèn, đĩa muối gạo,
vài chung trà… Tượng Đức Phật Di Lặc cười hoan hỷ giữa
thời khắc giao mùa thiêng liêng khiến lòng mình lắng đọng,
giao hoà cùng trời đất, với hồn thiêng sông núi cùng nghênh
đón tân niên.
Trước
lối vào tấm phướn ngũ sắc nhà Phật, được anh tìm mua
tận Hà Nội khi đi công tác đong đưa trong gió gợi nhớ da
diết về những ngày xuân xa xưa, êm ấm của tuổi thơ bên
ông bà, cha mẹ, nhớ về cây nêu truyền thống trước sân
nhà…
Thỉnh
ba hồi chuông gia trì, anh chị cùng các con quỳ lạy Phật,
cùng trì tụng lời khấn nguyện giao thừa trong khói hương
trầm quyện toả khắp mười phương, cầu nguyện một năm
mới an lành, hạnh phúc đến với mọi người, mọi nhà:
Đêm
nay ngày lành Nguyên đán
Giờ
này phút thiêng giao thừa
Chúng
con:…
Tuân
lệ cổ tục ngày xưa
Mở
cửa nghinh xuân tiếp phước
Truyền
thừa di phong thuở trước
Lên
chùa lễ Phật dâng hương
Cầu
minh niên vạn sự cát tường
Nguyện
xuân nhật Tam nguyên như ý
…
Cúi đầu lễ bái
Cầu
gia đình hạnh phúc an khang
Ngửa
mặt dâng hương,
Nguyện
nước nhà hoà bình hưng thịnh
Năm
châu an định
Bốn
biển thanh bình
Tình
với vô tình
Đồng
thành Phật đạo…
Nam
mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam
mô Đương lai hạ sinh Từ thị Di Lặc tôn Phật.
Nguyễn
Lâm Dũng
(Văn
hóa Phật giáo)
CHỜ
CON
Linh
Phong
Khi
trầm hương bàn Phật, bàn tổ tiên được thắp lên ở vào
khoảnh khắc chuyển giao năm cũ và năm mới tinh khôi của
trời đất, hơn bao giờ hết, sự đoàn tụ gia đình sẽ khiến
cho trầm hương thơm hơn và bay xa hơn, lòng người ấm áp
hơn trong khởi đầu của mọi khởi đầu đầy hạnh phúc
và thiêng liêng đó…
Háo
hức được về quê ba tháng hè, điện về hàng xóm chờ ba
nghe điện thoại, ba dỗ dành: “Thôi để Tết mà về con
à!”.
Tháng
Mười một, ba chuẩn bị cho hoa và chậu và bắt đầu đếm
ngày chờ từng đứa con ở xa về Tết…
Ba
nói, củ hoa lay-ơn nếu thời tiết thuận lợi, thông thường
từ khi trồng đến khi nở hoa là 75 ngày; hoa thược dược
45 ngày…, phải ươm đúng ngày và chăm sóc tốt để Tết
có hoa trong vườn cho mấy đứa con tươi vui.
Tháng
Mười hai, rét căm căm và mưa ngập cánh đồng, ba nóng lòng:
“lúa sạ trẻ, vườn nhà không dọn dẹp kịp thì con về
e sẽ thấy vườn của ba không sạch sẽ ngăn nắp. Con về
nhà được ba ngày Tết, tranh thủ làm để con khỏi phải
đụng tay, đụng chân”.
Ba
thức sớm thức khuya vì Tết. Tranh thủ cho ruộng kịp mùa,
cho hoa nở đúng hẹn, buộc từng bẹ cau cho Tết khỏi xác
xơ vì gió cuối Đông, quét vội nhện giăng khắp nhà, sắp
lại từng khuôn ảnh và lịch bao nhiêu năm rồi không muốn
bỏ… Ba tỉa uốn từng nhánh sung, nhánh khế, sửa lại hàng
rào đầy gai là gai cho tươm tất hơn, bắt từng đọt bí
cho bò có hàng có lối hơn… Ba làm mới tất cả, như ba đang
đón chờ khách quý, thiêng liêng…
Hai
tháng sắp Tết, ba chăm chỉ nghe đài chờ thông báo bán vé
tàu Tết, sáng sớm đã nghe ba điện nhắc: “Mua vé chưa con?
Ngày nào con về được?”.
Nửa
tháng nữa là Tết, ba tỉ mỉ tơi đất gieo ngò, tần ô rồi
cải, xà lách…, mỗi thứ một luống nhỏ xinh xắn cạnh
hai hàng cau trước sân nhà, “ba trồng cho tụi con về có
rau vườn mà ăn”.
Hơn
kém mười ngày nữa mới Tết, năm nào cũng vậy, chắc với
ba, mười ngày nữa cũng như ngày mai rồi, trời sẽ vẫn còn
lạnh…, ba điện, giọng gấp gáp: “Ngoài ni lạnh lắm, con
nhớ đem theo áo ấm mà mặc đi đường”.
Còn
năm ngày nữa là Tết. Cả xã nghèo chỉ có một bưu cục,
giờ giấc cũng thất thường, ba nói, lúc nào ra ruộng ba cũng
đi vòng qua coi có mở cửa không mà điện cho con. Ba chuẩn
bị gói bánh Tết, con có làm thêm để đem làm quà cho bạn
bè con không?
Năm
em trai tự bươn chải học đại học đến năm thứ 3, Tết
em bảo bài vở nhiều không về được, đêm 29 Tết, có lẽ
là lúc nồi bánh chưng bánh tét đang ùng ục réo gọi, ba điện
cho em: “Tết này nhà mình trang trí đẹp lắm, mọi thứ đầy
đủ, con đừng ở lại phòng trọ một mình, vào chú mà đón
Tết, ngoài này ba mẹ rất vui”. Năm đó ba đã đứng ngồi
không yên bên nồi bánh Tết, chắc ba ước ba có thể lo lắng
cho em thêm được chút gì trong cuộc mưu sinh để em được
vô tư cắp sách đến trường.
Năm
thử không về Tết, giao thừa ba điện, giọng cười mà nghe
buồn buồn: “Ba đợi đúng giao thừa để điện cho con. Ba
vừa thắp hương, đốt trầm cúng, cả nhà đang lạy Phật,
ba cầu nguyện cho các con mạnh khoẻ và học hành tấn tới”.
Ba lại cười, “ba điện bằng máy cầm tay của em con, giao
thừa năm nay cây phát tài nhà mình nở hoa nhiều lắm. Con
ở trong đó vui lên nhé. Ba sẽ gửi bánh tét nhân đậu phộng
cho con”.
Rồi
năm…, ngày 3 Tết con cũng chưa kịp về, ba ngồi lo hoa bàn
Phật không còn tươi, e con về sẽ buồn, sẽ thấy được
sự không giàu sang của ba mẹ sau một năm ruộng vườn đầy
mưa bão.
Mỗi
đứa một ngày về, ngày đi khác nhau, ba cứ ngóng nhìn ra
cổng. Hàng cau nhà sải bốn bước chân là hết mà nhìn theo
ánh mắt ba, thấy sao mà hun hút. Cười vui bên bốn đứa con,
ba vẫn nhìn hoài ra cổng, ngồi tiếp khách ba cũng chọn hướng
nhìn ra cổng mà ngồi. Còn một đứa em trai con chưa về, ba
chờ…
Ngày
mỗi đứa con lần lượt lại đi xa, ba tự tay xách bánh ra
xe cho mỗi đứa, bánh năm bảy loại nhân, “ba sợ lại xách
nhầm”. Đứa thích ăn bánh tét nhân đậu phộng, đứa thích
ăn bánh tét nhân đậu xanh còn vỏ, đứa thích nhân đậu
xanh không vỏ, đứa thích nhân đậu đỏ, đứa lại không
thích làm nhân, chỉ thích trộn đều đậu phộng vào nếp.
Nặng lắm mỗi đòn bánh tét chắc nịch của ba. Tiễn con
đi, ba nhìn theo xách bánh mỗi đứa con xách trong tay, mắt
ánh lên một niềm vui khó tả.
Năm
vô tình về lại nhà ngoài dự tính khi Tết còn phảng phất,
ngạc nhiên nhìn mấy lát bánh tét, ba bảo, ba mẹ chỉ thích
ăn bánh không nhân…
Lại
năm em trai không về Tết, đêm 30 ba chờ cầu truyền hình,
Sài Gòn đón Tết ngoài đường phố, ba vui ra mặt: vậy thì
tốt quá, em con cũng được đón giao thừa như mọi người,
chắc cũng vui hơn được chút ít rồi…
***
Tết
lại về, không dám mạo hiểm thêm một lần thử không về
Tết. Tôi hiểu nỗi chờ mong của ba trong màu xanh hai hàng
cau ba thu vào mắt, trong thế ngồi chọn hướng nhìn ra cổng
của ba.
Năm
người con, có đứa từng khẳng khái sẽ ở với ba mẹ cả
đời, giờ cũng đi xa… Người trẻ chốn làng quê bây giờ
đều thế. Sau luỹ tre làng chỉ còn là cái tổ ấm để “đủ
lông đủ cánh” mà bay. Nhưng cuộc mưu sinh nhọc nhằn nơi
quê người không dễ ai cũng có điều kiện để về quê ngày
Tết, cho cha mẹ thêm xót xa; cũng có người mải miết tới…
quên ngày về đoàn tụ, mặc cho cha mẹ mòn mỏi ngóng chờ…
***
Mỗi
giao thừa, nén trầm hương đầu tiên, xin mong cho mỗi gia đình
đều được vui niềm vui đoàn tụ. Mong cho mỗi người con
đều hiểu cho nỗi lòng chờ con ngày Tết của mẹ cha…
Linh
Phong
(Văn
hóa Phật giáo)
01-30-2008
06:34:12