TẦM XUÂN...
TÌM NỤ CƯỜI DI LẠC
Trần
Kiêm Đoàn
“Nhân
thế hãn phùng khai khẩu tiếu…” – Hiếm gặp người ta
mở miệng cười!
Lời
than của của phái tiêu dao Trung Hoa thời cổ lẽ ra phải xuất
hiện thời nay và đặc biệt là ở châu Mỹ nầy mới phải.
Người
Mỹ lập quốc sau những trận thư hùng cát chạy, đá bay với
người Da Đỏ. Lập nên nước Mỹ rồi thì chọn con chim Ó
(bald eagle), mắt trừng mỏ quặm làm quốc điểu. Chọn
cây Sồi (oak) cành lá lúc nào cũng có vẻ như cằn cỗi, quăn
queo, khô quắp làm quốc mộc. Khi ánh sáng đến từ phía chân
trời xa xa trước mắt không tươi vui an lạc thì làm
sao cái bóng thực tại hứa hẹn được một nụ cười tươi.
Phải
chăng vì tự trong thâm sâu của dòng sống, người Mỹ –
một tổng hợp đủ mọi nhóm chủng tộc trên thế giới –
có chung một nghiệp lực là không thỏa hiệp với hoàn cảnh
xuất thân nên phải cất công vượt biển, băng rừng đi tìm
một suối nguồn hạnh phúc khác lạ, mới mẻ hơn nơi miền
Tân Thế Giới?! Bản chất của sự tìm tòi thường mang sẵn
hạt giống không thỏa mãn. Bởi vậy, xã hội Hoa Kỳ
được xem là có nhiều tiền bạc và của cải hàng đầu
thế giới nhưng cũng là một xã hội làm việc tất bật,
mãi mê tìm kiếm một nếp sống hạnh phúc mà có thể suốt
đời chỉ thấy treo xa tắp ở cuối đường hầm mơ ước.
Suốt
hơn 300 năm lịch sử, có không ít người Mỹ, nhất là người
Mỹ cao niên trong thế kỷ nầy, thường biểu hiện một điệu
sống cô đơn và nghèo khó – có tiền đầy ắp ở các trương
mục ngân hàng mà vẫn cứ nghèo xác rác, xơ rơ!– Lắm khi,
người có nhiều tiền lại sống nghèo nàn; trong khi người
không tiền mà vẫn sống đời giàu có. Con người có
bom nguyên tử trong tay nhưng lại yếu đuối vô cùng vì càng
làm chủ vật chất con người càng dễ biến thành nạn nhân
của sự mất mác; càng làm chủ bom nguyên tử, con người
càng cảm thấy thân phận bọt bèo của mình gần với cái
chết và sự hủy diệt hơn bao giờ hết.
Người
ta chỉ cảm thấy mạnh mẽ và bớt cô đơn khi đang sống
thật sự và sung sướng; đùa vui thưởng thức cuộc sống
đó bằng chất liệu tuyệt vời và vô giá của đất trời.
Sáng mai, say sưa nhìn một tia nắng đẹp như nhấp chén trà
thơm; ban trưa nghỉ một chút an lành như tới miền lạc thú;
buổi tối sống hòa ái với đêm về như nghe lời hát ngọt
ngào của tạo vật... là những điều kiện “ắt có” để
sống đời đại phú!
Chất
lượng và niềm vui trong cuộc sống là thước đo ý nghĩa
của cuộc đời. Alan Watts trong “Hãy Trở Thành
Chính Bạn” (Become What You Are) thì cho rằng, hình ảnh
của một Người-Nghèo-Nhiều-Tiền là không cảm thấy thoải
mái hòa điệu hoàn toàn với con người và cuộc đời chung
quanh. Họ nghèo bè bạn vì thích làm ông chủ tuyệt đối,
không dễ dàng chấp nhận sự khác biệt và đối thoại. Cho
nên thà làm bạn với chó, mèo, chim, chuột... ngoan ngoãn
– những đối thể không nói cùng ngôn ngữ với họ để
tránh tranh biện lôi thôi – vẫn còn thú vị hơn sống cạnh
tha nhân để phải bực mình tranh cãi chuyện thời thế, chính
trị, tôn giáo với những đầu óc bảo thủ, vọng ngữ và
cực đoan chung quanh. Đồng thời, kẻ nhiều tiền của mà
vẫn nghèo xơ rơ đó chỉ muốn dính mắc vào ngôi vị chủ
tể mà chẳng bao giờ biết buông xả. Họ có khuynh hướng
ở ẩn để làm kẻ “tuẫn đạo” một mình trong lâu đài
vật chất và tâm tư đầy trói buộc của chính họ.
Xã
hội phương Tây mỗi ngày một giàu có. Nhưng niềm vui
trong cuộc sống mỗi ngày một nghèo. Căn nhà trị giá
hàng triệu đô la trên đồi lại trở thành nhỏ hẹp và khó
khăn hơn để ngữa lòng đón bạn như căn nhà nhỏ thuê mướn
ngày xưa. Chiếc xe lộng lẫy mua hàng trăm nghìn đô la
lại đóng cửa chặt hơn và rất ít khi sẵn sàng đón bạn
lên đường như chiếc xe cũ kỹ của những năm về trước.
Cách
mạng khoa học kỹ thuật của thế kỷ 20 giúp đưa con người
lên vũ trụ và nối kết những vùng đất xa xăm của địa
cầu thành một ngôi làng nhỏ; nhưng cũng dựng nên tâm lý
lấn lướt chiếm hữu, lấy thịt đè người với biểu tượng“văn
hóa Football.” Càng xông xáo vào cuộc sống bon chen, tâm hồn
con người càng trở nên lạnh lùng sắt đá, cạnh tranh
quyết liệt, nên ngày càng thiếu vắng và hiu hắt nụ cười.
Sự
nóng bỏng đầy dương tính của văn hóa phương Tây bỗng
dịu lại khi tiếp xúc với nền văn hóa tĩnh lặng và trầm
tư của phương Đông; nhất là nền văn hóa Phật giáo.
Khi
con người trong xã hội kỹ nghệ Âu Mỹ mang tâm lý bão nỗi
và trở nên khủng hoảng, họ sẽ cảm thấy yếu đuối và
tha thiết cần một chỗ dựa. Nhưng biết dựa vào ai? Tôn
giáo truyền thống dạy cho họ đức tin dựa vào Thượng Đế
toàn năng quá mênh mông và cao viễn. Triết học duy lý
truyền thống và hiện sinh về sau lại gieo tâm lý hoài nghi
chính mình và tha nhân vì mình là người xa lạ với chính
mình (Camus) và tha nhân là địa ngục (Sartre). Đạo Phật
đến, mang theo một luồng gió mới. Đó là tư tưởng
giải phóng thần quyền. Đạo Phật vực con người đứng
dậy trên chính hai chân của mình để đẩy lùi bóng tối
mênh mông của tâm thức ỷ lại. Đạo Phật thuyết phục
con người chối bỏ sự dính mắc và tôn sùng thế giới vật
chất chung quanh đang trói buộc kiếp người.
Và,
quan trọng nhất là đạo Phật đã đem đến cho xã hội Âu
Mỹ nụ cười – Nụ Cười Di Lặc không phê phán khen chê
– mà con người trong một xã hội nóng bỏng cạnh tranh đang
khao khát. Biểu tượng cho hạnh phúc và an lạc là nụ cười
của Phật Di Lặc mà người Mỹ gọi một cách đầy tính
dân gian gần gũi là ông Phật Vui Sướng, ông Phật Hạnh Phúc
(Happy Buddha) hay ông Phật Cười (Laughing Buddha). Ông Phật là
tánh mà nụ cười là tướng. Tánh Phật là Vui mà tướng
Phật là Cười! Kể từ sau cuộc chiến Việt Nam, kỹ nghệ
“ông Phật Cười” ở Hoa Kỳ nở rộ. Đấy là sự
xuất hiện tượng đài, tranh vẽ, sách báo, mạng lưới truyền
thông đủ loại hình ảnh của ông Phật Cười, ông Phật
Vui Sướng, ông Phật Hạnh Phúc... Nét cười có khi chỉ là
một cái tượng Di Lặc nhỏ bằng ngón tay treo lủng lẳng
trong xe cho đến những bức tượng lớn đặt bên cạnh các
thác nước của các hòn non bộ. Mở đầu thiên niên kỷ 21“Y2K”,
trong nghệ thuật trang trí nhà cửa, tượng Phật Thích Ca ngồi
tham thiền nhập định như biểu tượng cho một sự tĩnh lặng
an lạc đặt ở vườn sau và tượng Phật Di Lặc cười biểu
tượng cho vui sướng, hạnh phúc đặt ở vườn trước trở
thành một cái “mốt”mang tính hài hòa giữa nhân sinh và
triết lý; một triết lý sống cứu khổ mua vui để tìm về
với chính mình đang bị lãng quên.
Tác
giả của 18 cuốn sách thuộc hàng “Best seller” và được
tạp chí thời danh Forbes liệt vào một trong 50 nhà tư tưởng
lớn nhất hoàn cầu về lĩnh vực thương mãi trong thế kỷ
nầy, đó là tiến sĩ Marshall Goldsmith. Ông ta đã theo
Phật giáo trong suốt 30 năm qua. Ông dựng những trung tâm Thiền
học ở Mỹ và nhiều quốc gia lân cận. Trong rừng thiền
tu tập hàng ngày của Phật giáo, anh Mỹ trắng Marshall mang
tâm trạng giải thoát nầy luôn luôn hớn hở nói rằng, mọi
hành giả đang cất bước đi tìm hạnh phúc chỉ cần nhớ
và thực hành 3 chữ, ba chữ mà thôi nhé: “Be Happy Now!”
(hỷ lạc hiện tiền – Vui Lên Nào!) là đủ. Goldsmith
nói rằng, ông đến với Phật giáo vì bị chinh phục bởi
tinh thần hỷ xả, cuốn hút bởi nụ cười Di Lặc, và cảm
nhận được nguồn hạnh phúc vì kinh nghiệm thực tiễn cho
biết rằng, mọi rắc rối của thương trường rồi cũng giản
đơn và an tịnh sau ngưỡng cửa thiền môn. Hãy để
cho đạo Phật đi vào cuộc đời; đừng để cho cuộc đời
đi vào đạo Phật. Để đạo Phật an lạc đi vào cuộc
đời thì cuộc đời sẽ được hóa giải, mua vui. Ngược
lại, để cuộc đời bon chen xâm lấn vào Đạo Phật thì
đạo Phật sẽ bị ô nhiễm và thiền môn sẽ trở thành bất
tịnh.
Không
có sự mâu thuẫn giữa Phật pháp và cuộc đời hiện thực
vì đức Phật đã từng xác định rằng, “vạn pháp giai
thị phật pháp” (phật không viết hoa). Nghĩa là
mọi vật và mọi sự vật giữa đời nầy đều là phật
pháp vì tính phật là tính thật. Đức Phật giác ngộ
qua phương tiện thiền định Thích Ca Mâu Ni; đức Phật đạt
đạo bằng phương tiện nụ cười muôn thuở Di Lặc và hằng
hà sa số chư Phật cũng như mọi loài và mọi vật đều có
“tính thật tức là tính Phật” như nhau. Có khác nhau
chăng là trên cuộc hành trình tìm ra một con đường lợi
lạc để đi, người ta có can đảm truy tìm “tính thật”
để theo đuổi đến kỳ cùng hay nửa đường buông tay để
cho “tính giả” làm chủ lôi đi.
Giới
chuyên gia và trí thức Mỹ tìm đến đạo Phật bằng đôi
hài bảy dặm của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.
Họ không tìm đến đạo Phật bằng hình thức thờ cúng lễ
bái mà tìm đền với đầu óc, tinh thần học thuật.
So với lịch sử Phật giáo phương Đông, đa số người Âu
Mỹ đến với đạo Phật quá muộn màng sau một quá trình
dài liên tục thu thập và đào thải những hệ thống lý thuyết
tâm linh, những triết lý tâm vật trùng trùng, những tín điều
chân tín và mê tín từ thời thái cổ đến thế kỷ 20.
Họ đến muộn nhưng bằng những bước đi vững chãi của
phương pháp luận khoa học ứng dụng. Điển hình như
trong ngành y khoa tâm lý trị liệu (psychotherapy), những chuyên
viên y khoa tâm lý trị liệu Mỹ đã “tập đại thành”
ý nghĩa nụ cười Di Lặc thành một tài liệu giáo khoa y khoa
dưới tiêu đề “Cẩm Nang Tâm lý Trị Liệu Theo Phương
Pháp Phật Di Lạc Dành Cho Thế Giới Phương Tây” (Happy’s
Buddha Hoslistic Counseling Manual for People of the Western World).
Mở đầu tài liệu nầy là một câu xác định đầy... hấp
dẫn như sau:
“Tại
sao Ông Phật lại vui sướng nhỉ?!”
“Vì
chẳng giống như người thường – những kẻ chưa giác ngộ
(unlightened person) – chỉ hiểu mọi điều qua đầu óc phân
tích và lý luận chật chội của riêng mình, Ông Phật (bậc
giác ngộ “Enlightened One”) hiểu bằng trí huệ toàn giác.
Đấy là sự mở toang mọi cánh cửa phân tích, lý luận,
trực giác, siêu hình... để tiến thẳng vào tánh thật và
tướng thật của vạn pháp thường hằng rỗng lặng, giản
đơn không còn biên giới phân chia sướng khổ, vui buồn, yêu
ghét nên Ông Phật cười! Đấy là nụ cười của bậc giác
ngộ đã hiểu rõ hết chân tướng của vạn vật, vạn sự;
hiểu được ngọn nguồn gây khổ đau và con đường đoạn
diệt phiền muộn khổ đau. Ta và người đều hiện ra
bằng chân tướng không che dấu, thấy nhau và biết nhau trong
mối tương quan không có chỗ ẩn núp cho ta và cả cho người.
Vì vậy, Chủ Thể và Đối Thể đã hoà quyện với nhau trong
toàn vũ trụ nầy. Cái Tiểu Ngã hòa mình vào Đại Ngã
khiến tâm không phân biệt. Tất cả là hòa ái, tất
cả là niềm vui, tất cả là nụ cười hỷ xả.”
Bên
tách trà Xuân đầy đạo vị, nhớ làm chi chuyện cũ đã qua;
băn khoăn làm chi chuyện đời chưa tới. Đổi cả không
gian vô biên và thời gian vô tận để lấy một nụ cười.
Quên hết! Chỉ nhớ trong một thoáng, và một thoáng là
thiên thu, cái triết lý cao viễn nhất chỉ có 3 chữ:
Vui Lên Nào! Be Happy Now! Hỷ Lạc Hiện Tiền!
Đấy là Bờ Giác bên kia, là trái tim Bát Nhã, là nụ cười
Di Lặc... đang có trong ta, sao lại cứ chạy quanh hoài, mãi
miết đi tìm nơi đâu cho gặp?!
Trần
Kiêm Đoàn
Sparks,
Nevada, ngày Black Friday 2007
01-27-2008
07:23:18