MÙA XUÂN
NIẾT BÀN
Cư
Sĩ Nguyên Giác
Buốt
lạnh, trận gió vô thường thổi không ngưng trong thịt xương
máu tủy chúng ta. Một hôm rồi tóc bạc tới, rồi tay chân
yếu dần, và nhìn lại thấy tháng ngày trôi qua không thôi.
Mùa xuân đi, rồi các mùa khác theo sau. Nhưng thoảng khi, chúng
ta chợt thấy lóe lên một khoảng khắc như thời gian ngưng
lại. Chúng ta đứng sửng nhìn giữa trời để chăm chăm xem
khoảnh khắc ngưng đọng đó, nghiêng tai nghe thật kỹ từng
nốt nhạc như dường vang không dứt... Có phải đó là sự
bất tử đã nằm trong sinh tử. Và có phải mùa xuân đã nằm
sẵn trong bốn mùa miên viễn…
Vẫn
có một mùa xuân bất tử đang ẩn tàng trong từng khoảnh
khắc biến diệt nhanh chóng trước mắt chúng ta. Vẫn có một
cõi bất động trong vô lượng cái động chuyển của thế
gian này. Chúng ta vẫn đang hít thở mùa xuân bất tử này,
và đôi khi cũng có thể cảm nhận được hơi mát hương xuân
này tắm đượm khắp thân và tâm chúng ta.
Sự
chú tâm không ngừng nghỉ trong chánh pháp chính là con đường
dẫn tới Bất Tử, tới Niết Bàn. Liên tục giữ tâm không
cho rời chánh pháp, không hở cho dù là một khoảnh khắc –
đó là con đường dẫn tới Bất Tử, tới Niết Bàn.
Kinh
Pháp Cú đã viết như thế. Trong phẩm 2, câu 21-23 (http://thuvienhoasen.org/kinhphapcu-02.htm),
nơi đây trích bản Anh dịch của ngài Narada (Colombo, Sri Lanka),
bản Việt dịch của Hòa Thượng Thích Thiện Siêu, số chú
thích sau sẽ được đổi để dễ theo dõi:
“21.
Không buông lung đưa tới cõi bất tử (1), buông lung đưa tới
cõi tử vong; người không buông lung thì không chết, kẻ buông
lung thì sống như thây ma (2).
Chú
Thích (1): Niết bàn (Nibbàna)
CT
(2): Bởi vì người không buông lung thì được chứng nhập
Niết bàn và không còn luân hồi sanh tử tiếp nối nữa. Còn
người buông lung tuy sống mà vẫn như thây chết, không biết
hướng thiện, nỗ lực làm lành.
Heedfulness
is the path to the deathless,
heedlessness
is the path to death.
The
heedful do not die;
the
heedless are like unto the dead.
22.
Kẻ trí biết chắc điều ấy (3) nên gắng làm theo sự không
buông lung; Không buông lung thì đặng an vui trong các cõi thánh
(4).
CT
(3): Bài này tiếp bài trên, khuyên đừng nên phóng dật mà
gắng chuyên cần.
CT
(4): Cảnh giới của chư Phật, Bích chi và A la hán.
Distinctly
understanding this (difference),
the
wise (intent) on heedfulness,
rejoice
in heedfulness,
delighting
in the realm of the Ariyas.
23.
Nhờ kiên nhẫn, dõng mãnh tu thiền định (5), kẻ trí được
giải thoát an ổn, chứng nhập vô thượng Niết bàn.
CT
(5): Muốn chứng đặng Niết bàn thì phải trừ 4 ách : dục
ách (Kamayogo sự tham dục), hữu ách (Bha-vayogo mê chấp ba cõi),
kiến ách (Ditthiyogo điều tà kiến, ác kiến), vô minh ách
(Avijjayogo sự mê mờ).
The
constantly meditative,
the
ever steadfastly ones
realize
the bond-free,
supreme
Nibbaana…” (hết
trích)
Thầy
Thiện Siêu dịch “heedfulness” là “không buông lung.”
Thầy Thích Minh Châu dịch là “không phóng dật.” Bản của
ngài Tịnh Minh dịch là “tinh cần.”
Hai
bản Anh dịch khác, hiện cũng đang phổ biến rộng trên thế
giới, do hai Thầy Acharya Buddharakkhita và Thanissaro Bhikkhu dịch,
cũng dùng chữ “heedfulness” như bản của Thầy Narada. Anh
ngữ thật ra vẫn có một số chữ tương đương, nhưng có
lẽ không chữ nào nói được ngắn gọn nghĩa “sự chăm
chú, cảnh giác, tỉnh thức không ngừng nghỉ.”
Làm
sao để có thể tu tập “tỉnh thức, chú tâm không ngừng
nghỉ”? Câu số 23 diễn lại trong một ý rõ ràng hơn, đó
là “thiền định không ngừng nghỉ”… Làm thế
nào để thiền định không ngừng nghỉ? Bởi vì các pháp
có sinh tất có diệt, có hợp tất có ly, vậy thì làm sao
có pháp nào không ngừng nghỉ? Ngắn gọn, làm sao để cho
“tâm thường định”?
Trong
cuốn “Tích Truyện Pháp Cú” xuất bản bởi Thiền Viện
Viên Chiếu, dịch theo cuốn "Buddhist Legends" của Eugène Watson
Burlingame (http://thuvienhoasen.org/tichtruyenphapcu-02A.htm),
trích phần tích truyện của câu 23:
Đức
Phật nghe qua, đáp rằng: “Này các
Tỳ-kheo, những người phóng dật buông lung dù sống một trăm
năm cũng như chết. Những người sống chú tâm chuyên niệm,
dù chết hay sống vẫn là đang sống. Này các Tỳ-kheo, có
chú tâm chánh niệm thì không bao giờ chết cả.”
Nhắc
lại, trong phần thơ kệ, Đức Phật nói “tỉnh thức,
chú tâm không ngừng nghỉ”, nhưng ở phần tích truyện
này, Đức Phật lại nói là “chú tâm chuyên niệm, dù
chết hay sống vẫn là đang sống.” Chỗ này lại khó
hiểu hơn, nếu hiểu theo nghĩa thế gian. Nhưng nếu hiểu là
dù chết hay sống mà vẫn ở trong Niết Bàn thì là thuận
nghĩa, và như thế, “tâm thường định” chính
là Niết Bàn.
Nghĩa
là, dù là đang mang thân hư huyễn này hay đã rời thân ngũ
uẩn này, thì khi chú tâm không ngừng nghỉ thì sẽ đắc tâm
thường định, và sẽ an trụ Niết Bàn, nghĩa là “không
bao giờ chết cả.”
Làm
thế nào để chú tâm không ngừng nghỉ nơi chánh pháp? Đơn
giản nghĩa là, không để giây phút nào trong đời khởi
lên niệm bất thiện, nếu khi đã bất chợt khởi lên
niệm bất thiện thì không để tâm chạy theo; không để giây
phút nào thốt ra lời bất thiện, nếu khi đã bất chợt thốt
ra lời bất thiện thì không nối tiếp; không để giây phút
nào làm điều bất thiện, nếu khi đã bất chợt làm điều
bất thiện thì ngưng ngay; luôn luôn giữ tâm chuyên chú tỉnh
thức, luôn luôn giữ lời hòa ái, và luôn luôn chỉ làm việc
hợp chánh pháp.
“Chú
tâm không ngừng nghỉ” là chìa khóa của Niết Bàn. Với
bất kỳ pháp môn nào trong nhà Phật, khi chú tâm không ngừng
nghỉ dù trong một ngày, cũng sẽ thấy ngay niềm an lạc vượt
thắng các niềm vui thế gian.
Đừng
để hở một giây phút nào ngoài pháp môn bạn đang tu tập.
Hãy thử rồi sẽ thấy. Lời Đức Phật nói không hư vọng
bao giờ. Hãy liên lỉ chú tâm không ngừng nghỉ, dù bạn đang
niệm hơi thở, đang niệm thân, đang niệm cảm thọ, đang
niệm pháp, đang Niệm Phật, hay đang tham thoại đầu.
Sự
chú tâm không ngừng nghỉ khi đã hình thành được, thì nó
sẽ trở thành một với bạn, một cách tự động không rời,
dù là bạn đang đi đứng nằm ngồi, đang lái xe hay cơm nước…
Hãy
chú tâm không ngừng nghỉ nơi pháp hành. Đó chính là mùa
xuân Niết Bàn vậy.
01-19-2008
09:21:12